Đổi Mới Quản Lý Nhà Nước Đối Với Hoạt Động Thương Mại Trên Địa Bàn Tỉnh Bó Kẹo, Cộng Hoà Dân Chủ Nhân Dân Lào - Pdf 35

LUẬN VĂN:

Đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt
động thương mại trên địa bàn tỉnh Bó Kẹo,
Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào


Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Qua hơn mười lăm năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng Nhân dân cách
mạng (NDCM) Lào khởi xướng và lãnh đạo, bắt đầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IV của Đảng (1986) mở đường cho một thời kỳ phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VII của Đảng NDCM Lào đã đề ra chương trình cải cách hành chính
và đổi mới cơ chế, chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước đối với tất cả các lĩnh vực,
các ngành, trong đó có thương mại nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của Cộng hoà Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào đến năm 2020.
Trọng tâm của chương trình cải cách và đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế là
hoàn thiện cơ chế, chính sách và hệ thống tổ chức bộ máy quản lý kinh tế, nâng cao
hiệu lực và hiệu quả của bộ máy quản lý, đảm bảo thực hiện những mục tiêu chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước đề ra, phù hợp xu thế của thời đại
mới. Vì vậy, đòi hỏi tất cả các ngành kinh tế quốc dân nói chung và ngành thương mại
nói riêng phải đổi mới cơ chế, chính sách, các công cụ và phương pháp quản lý vĩ mô...
cho phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo định hướng XHCN.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trong những năm qua, quản lý nhà nước
về kinh tế nói chung và đối với thương mại nói riêng đã đạt được những thành tựu quan
trọng. Tuy vậy, vẫn còn một số hạn chế, vừa chưa định hướng quy hoạch chiến lược
phát triển, vừa chưa quản lý kiểm soát chặt chẽ hoạt động thương mại của các thành
phần kinh tế tham gia.
Khi chuyển sang kinh tế thị trường, hoạt động thương mại của thành phần kinh

Hoàng Đức Tảo (Bộ Thương mại).
Một số nghiên cứu sinh Lào tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
cũng đã có các công trình nghiên cứu trên những lĩnh vực khác nhau như:
- Đề tài về Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào Những giải pháp cơ bản tạo tiền đề, Luận án tiến sĩ kinh tế của Khăm Pheng SA SOM


PHENG, Khoa học Kinh tế chính trị XHCN, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
2001.
- Đề tài về "Phát triển thị trường nông thôn Cộng hoà dân chủ Nhân dân Lào",
Luận án tiến sĩ kinh tế của Bun Thi Khưa My Xay, Khoa học Kinh tế chính trị XHCN,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1998.
- Đề tài về: "Đổi mới quản lý nhà nước về thương mại ở Cộng hoà Dân chủ
Nhân dân Lào", Luận án tiến sĩ kinh tế của Chăn Seng Phim Ma Vông, Khoa học Kinh
tế chính trị XHCN, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003.
Tuy nhiên, ở một địa phương cụ thể cấp tỉnh có nhiều đặc thù riêng như tỉnh Bó
Kẹo, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống về lĩnh vực
này. Để thực hiện đề tài, tôi có kế thừa các ý tưởng lý luận của các công trình đã công
bố của Việt Nam và Lào, đi sâu phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp phù hợp cho
hoạt động thương mại của tỉnh Bó Kẹo trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích: Làm rõ cơ sở lý luận của quản lý nhà nước đối với hoạt động về
thương mại trong nền kinh tế thị trường, đánh giá thực trạng và đề xuất phương hướng,
giải pháp nâng cao vai trò, hiệu lực quản lý nhà nước về thương mại trên địa bàn tỉnh
Bó Kẹo trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Phân tích sự cần thiết khách quan phải tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước đối
với hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh Bó Kẹo.
- Đánh giá quá trình đổi mới và thực trạng quản lý nhà nước đối với các thành
phần kinh tế tham gia hoạt động thương mại ở tỉnh Bó Kẹo. Từ đó rút ra kết quả, hạn
chế và nguyên nhân.



Chương 1
Những vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước
đối với hoạt động thương mại trong
nền kinh tế thị trường

1.1. những vấn đề cơ bản về hoạt động thương mại trong nền kinh tế thị
trường
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động thương mại
- Khái niệm:
Sản xuất của cải vật chất là hoạt động cơ bản nhất của xã hội loài người, là cơ sở
của đời sống xa hội, nhưng của cải vật chất sản xuất ra không đem trao đổi và tiêu dùng thì
không phải là hàng hoá.
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, sản xuất ngày càng mở rộng làm cho
lực lượng sản xuất phát triển đã dẫn đến sự phân công lao động xã hội. Lúc đầu là phân
công tự nhiên (mang tính tự phát), sau đó là phân công có ý thức. Chính nhờ sự phân công
lao động xã hội đó mà hình thành các ngành kinh tế độc lập khác nhau. Các Mác đã chỉ ra
rằng: "nếu xét riêng bản thân lao động thì người ta có thể gọi sự phân chia nền sản xuất xã
hội thành những ngành lớn như: công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp... là sự phân
công lao động chung, và sự phân chia những ngành sản xuất ấy thành từng loại và như là
sự phân công lao động đặc thù" [24, tr.580].
Quá trình phát triển từ công xã nguyên thuỷ đến chủ nghĩa tư bản đã hình thành khá
rõ 3 cuộc phân công lao động xã hội lớn: mới đầu chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt, và hình
thành một ngành nghề khác trong nông nghiệp, tiếp đó ngành thủ công tách ra khỏi nghề
nông, đã hình thành sự chuyên môn hoá trong nông nghiệp và bắt đầu nhen nhóm ngành
công nghiệp. Hoạt động trao đổi trở nên phức tạp hơn; bắt đầu xuất hiện tiền tệ làm vật
trung gian để trao đổi, hình thành một nhóm người làm công việc mua đi bán lại, đó là
thương nhân. Lúc này thương mại tách ra khỏi sản xuất và trở thành một ngành độc lập
trong nền kinh tế quốc dân.

cũng đa dạng và phong phú hơn.


- Đặc điểm:
+ Thương mại là một lĩnh vực kinh tế, trong đó các chủ thể kinh tế thực hiện việc
mua bán, trao đổi hàng hoá bằng các phương thức khác nhau. Thương mại ra đời cùng với
nền kinh tế hàng hoá và ngày càng phát triển. Cho đến nay, thương mại là một ngành kinh
tế phát triển ở trình độ cao với quy mô rộng lớn trong nền kinh tế quốc dân của các nước,
chiếm tỷ trọng đáng kể trong cấu thành khu vực dịch vụ.
+ Thương mại tuy không phải là một ngành sản xuất vật chất độc lập, nhưng lại có
quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với sản xuất, góp phần thúc đẩy sản xuất và quá trình
chuyên môn hoá, giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội của đất nước.
+ Thương mại trong điều kiện hiện nay chịu ảnh hưởng của xu hướng toàn cầu hoá
kinh tế và phát triển nền kinh tế tri thức. Nó không chỉ đóng vai trò cung cấp đầu vào và
giải quyết đầu ra cho sản xuất, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về hàng hoá của toàn xã
hội mà còn đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc góp phần khai thác tiềm năng và
lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương, từng quốc gia; phân bổ nguồn lực một
cách hợp lý và có hiệu quả. Thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ để đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, hội nhập vào nền
kinh tế khu vực và thế giới. Chính vì thế, hoạt động thương mại ngày càng không hạn chế
ở việc buôn bán các hàng hoá vật thể truyền thống mà còn mở rộng sang các lĩnh vực mới
như cả thương mại dịch vụ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ...ở nhiều
nước phát triển, thương mại thường được hiểu rộng đến mức nhiều khi rất khó phân biệt
ranh giới hoạt động thương mại với hoạt động khác.
+ Trong thời đại ngày nay, thương mại có tầm quan trọng đặc biệt với phát triển
kinh tế. Do vậy hầu hết các quốc gia và vùng kinh tế trên thế giới đều rất quan tâm đến
phát triển hoạt động thương mại. Trong xu hướng chung đó Đảng và Chính phủ Lào cũng
rất quan tâm đến quản lý Nhà nước đối với hoạt động thương mại của quốc gia. Chính phủ
đã có nhiều chính sách quan trọng cho sự phát triển chung của nền kinh tế, trong đó có sự
chú ý đặc biệt tới sự phát triển của ngành thương mại, là cơ sở quan trọng để thúc đẩy nền

đích của hoạt động thương mại. Người sản xuất sẽ tìm mọi cách để cải tiến công tác, áp
dụng khoa học công nghệ mới, hạ chi phí để thu nhiều lợi nhuận. Đồng thời cạnh tranh


trong thương mại bắt buộc người sản xuất phải năng động, phải không ngừng nâng cao
tay nghề chuyên môn và tính toán thực chất hoạt động kinh doanh, tiết kiệm các nguồn
lực, nâng cao năng suất lao động. Đó là những nhân tố tác động làm cho lực lượng sản
xuất phát triển.
+ Thương mại kích thích nhu cầu và luôn tạo ra nhu cầu mới. Người tiêu dùng bán
không xuất phát từ tình cảm mà bằng lý trí, lợi ích của sản phẩm hay mức độ thoả mãn nhu
cầu của sản phẩm sẽ tạo ra khả năng tái tạo nhu cầu. Thương mại một mặt làm cho nhu cầu
trên thị trường gần với nhu cầu thực tế, mặt khác nó làm bộc lộ tính đa dạng, phong phú
của nhu cầu. Thương mại đáp ứng nhu cầu tốt hơn chế độ trao đổi hiện vật. Thương mại
luôn buộc các nhà sản xuất phải đa dạng kiểu dáng, mẫu mã, chất lượng sản phẩm, điều
này tác động ngược lại người tiêu dùng làm khơi dậy những nhu cầu tiềm tàng. Tóm lại
thương mại làm tăng nhu cầu và đó là gốc rễ cho sự phát triển sản xuất kinh doanh. Trong
xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, thương mại đã góp phần quan trọng trong việc
mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, làm cho quan hệ thương mại giữa các nước không ngừng
phát triển. Điều đó giúp cho chúng ta tận dụng được ưu thế của thời đại, phát huy lợi thế so
sánh, từng bước đưa thị trường trong nước hội nhập với thị trường thế giới, đó cũng là con
đường để phát triển kinh tế.
+ Thương mại giúp xã hội sử dụng hợp lý và tiết kiệm lao động:
Do có thương mại, các nhà sản xuất có thể tiến hành sản xuất liên tục, không phải
dùng sản xuất để tiêu thụ sản phẩm, nên có thể tăng hiệu suất sử dụng máy móc, thiết bị
tăng năng suất lao động giảm chi phí sản xuất.
Do có thương mại nên chi phí lưu thông, bao gồm chi phí bảo quản, đóng gói,
chuyên chở, v.v... có thể giảm nhiều so với chi phí lưu thông mà các nhà sản xuất tư làm.
+ Thương mại thúc đẩy và tạo điều kiện phân công lao động xã hội:
Phân công lao động xã hội là một trong nhiều biện pháp tăng năng suất lao động xã
hội. Mà việc không ngừng tăng năng suất lao động quan trọng như thế nào thì chúng ta đã

liên quan tới mọi thành phần kinh tế khác nhau trong nền kinh tế).


- Thương mại chịu ảnh hưởng tác động của các quan hệ quốc tế giữa các chủ thể
kinh tế nói trên. Mặt khác, thương mại cũng tác động trở lại góp phần xây dựng và củng cố
mối quan hệ, xác lập địa vị của họ về kinh tế thông qua các mối quan hệ mua bán.
* Thương mại là một hệ thống mở với môi trường bên ngoài (kinh tế, chính trị, văn
hoá, xã hội, luật pháp và môi trường tự nhiên)
- Thương mại là một hệ thống tập hợp các yếu tốt có mối liên hệ qua lại thực hiện
việc trao đổi mua bán hàng hoá và các dịch vụ bằng tiền với mục tiêu kinh doanh hoặc phi
kinh doanh như chúng ta đã nói ở trên.
- Hệ thống thương mại được hình thành bởi hai hệ thống con, đó là cung và cầu.
+ Cung được hình thành bởi sản xuất, người bán đại diện cho sức cung trên thị
trường.
+ Cầu được hình thành bởi tiêu dùng dựa trên cơ sở khả năng thanh toán của xã hội.
Người mua đại diện cho sức cầu của thị trường.
- Hai hệ thống con của hoạt động thương mại được liên hệ với nhau bởi các hoạt
động và mối quan hệ qua lại giữa người mua và người bán trên thị trường như: hoạt động
Marketing, hệ thống kênh phân phối của thị trường...
- Thương mại là một hệ thống mở trong sự tương tác qua lại với môi trường bên
ngoài.
- Thương mại chịu ảnh hướng tác động của các yếu tố môi trường kinh tế, chính trị,
văn hoá, xã hội, pháp luật, tự nhiên. Những yếu tố môi trường này có thể tác động thúc đẩy
hoặc cản trở sự phát triển của thương mại.
- Thương mại cũng tác động trở lại đến tất cả các yếu tố môi trường bên ngoài.
Những tác động này khá đa dạng và có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của tái sản
xuất. Phạm vi tác động của thương mại rất rộng, nó liên quan đến mọi người, mọi tổ chức,
mọi thành viên kinh tế. Những tác động này không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế mà
còn mở rộng ra cả phương diện chính trị, xã hội, luật pháp, văn hoá và môi trường tự
nhiên.

+ Góp phần tạo công ăn việc làm, giải quyết những vấn đề dư thừa lao động và nạn
thất nghiệp.
+ Giúp phát triển các vùng lạc hậu, vung sâu, vùng xa.


+ Xoá bỏ sự chênh lệch phát triển giữa các quốc gia, các khu vực kinh tế trong nền
kinh tế thế giới.
+ Củng cố các mối quan hệ kinh tế giữa các thành phần kinh tế, giữa thành thị và
nông thôn, giữa nông nghiệp và công nghiệp.
+ ổn định và nâng cao mức sống, chất lượng cuộc sống của dân cư.
+ Trên cơ sở xây dựng và củng cố các mối quan hệ kinh tế, thương mại góp phần
thúc đẩy sự hợp tác quốc tế, mở rộng giao lưu văn hoá, củng cố hoà bình, xây dựng tình
hữu nghị giữa các dân tộc và các quốc gia trên thế giới.
+ Thúc đẩy sự phát triển cơ sở hạ tầng chung.
+ Tái đầu tư để bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường đảm
bảo sự phát triển bền vững.
* Tác động tiêu cực của thương mại:
Sự phát triển của thương mại một cách tự phát, không có sự quản lý và định hướng
đúng đắn của Nhà nước cũng có thể dẫn tới những tác động tiêu cực.
- Về kinh tế:
+ Sự phát triển thương mại một cách tự phát có thể dẫn đến khủng hoảng, gây nên
sự lãng phí các nguồn lực trên phạm vi toàn xã hội.
+ Chạy theo lợi nhuận và cái lợi ích cục bộ một cách mù quáng đi lên những hoạt
động thương mại bất hợp pháp, cạnh tranh không lành mạnh, buôn gian bán lận... phá hoại
nền kinh tế.
+ Gia tăng cạnh tranh cũng như sự lệ thuộc của nền kinh tế mỗi quốc gia và bên
ngoài...
- Về xã hội:
+ Phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội làm sâu sắc thêm
những mâu thuẫn xã hội.

Quy hoạch phát triển thương mại là một cấp độ thực hiện chiến lược thương mại
nhằm thể hiện rõ ý tưởng của Nhà nước về bố trí lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
trong lĩnh vực thương mại của quốc gia, gồm các nội dung chủ yếu như: xây dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật và kết cấu hạ tầng chung cho hoạt động thương mại, bố trí nguồn nhân
lực và các loại hình chủ thể tham gia hoạt động thương mại. Hệ thống quy hoạch phát triển


thương mại trong nền kinh tế quốc dân bao gồm: 1. Quy hoạch tổng thể phát triển thương
mại trong nền kinh tế quốc dân; 2. Quy hoạch phát triển thương mại theo vùng lãnh thổ; 3.
Quy hoạch phát triển thương mại của các tỉnh, thành phố; 4. Quy hoạch phát triển thương
mại của các ngành hàng chủ yếu.
Kế hoạch phát triển thương mại mang tính định hướng trong nền kinh tế quốc dân là
việc Nhà nước xác định phương hướng, mục tiêu, cơ cấu phát triển thương mại và thị
trường trong từng giai đoạn (thường là 5 năm gọi là kế hoạch dài hạn, 2 - 3 năm gọi là
kế hoạch trung hạn, 1 năm gọi là kế hoạch ngắn hạn), cũng như xác định cá biện pháp
để đạt mục tiêu đó, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế trong từng thời đoạn cụ thể. Kế
hoạch hoá thương mại vừa là phương pháp vừa là công cụ quan trọng để Nhà nước
thực hiện vai trò hướng dẫn, định hướng phát triển thương mại và thị trường trong nước
và quốc tế. Mục tiêu của kế hoạch hoá định hướng phát triển thương mại là nhằm giữ
một sự cân đối lớn của thị trường và thương mại, ổn định thị trường, phát triển lưu
thông hàng hoá, phát triển xuất nhập khẩu (XNK) và lợi nhuận. Đối tượng của kế hoạch
phát triển thương mại bao quát toàn bộ các quá trình kinh tế trong ngành thương mại,
cá hoạt động thương mại trong nước và với nước ngoài, trọng tâm là các quan hệ tổng
cung - tổng cầu, quan hệ tiền hàng, quan hệ cung -cầu từng mặt hàng thiết yếu, các cơ
cấu thương mại chủ yếu.
Kế hoạch phát triển thương mại trong nền kinh tế quốc dân gồm kế hoạch phát triển
thương mại quốc gia, kế hoạch phát triển thương mại của vùng lãnh thổ, kế hoạch phát
triển thương mại của các tỉnh, thành phố.
Chính sách thương mại thuộc hệ thống chính sách kinh tế của Nhà nước, là hệ
thống các quan điểm, nguyên tắc, công cụ và biện pháp thích hợp, mà Nhà nước áp dụng

thông tư của các Bộ, cơ quan ngang Bộ; quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân các cấp.
Các văn bản pháp luật về thương mại gồm: 1. Luật thương mại; 2. Các luật về tổ
chức doanh nghiệp (như luật doanh nghiệp, luật phá sản doanh nghiệp...) các nghị định
và quyết định của Chính phủ về tổ chức doanh nghiệp, các thông tư, công văn, chỉ thị,
quyết định của Bộ Thương mại (hoặc cơ quan tương tự) và các Bộ ngành hữu quan liên
quan đến tổ chức doanh nghiệp; 3. Các văn bản hiện hành về quản lý kinh doanh trong
nước; 4. Các văn bản về xuất nhập khẩu, các văn bản về quản lý thị trường; 5. Các văn


bản về đầu tư liên quan đến thương mại; 6. Các văn bản về tiêu chuẩn chất lượng về
quản lý đo lường chất lượng hàng hoá; 7. Các văn bản về thuế trong nước và về thuế
quan; 8. Các văn bản về văn phòng đại diện thương mại; 9. Các văn bản về hải quan;
10. Các văn bản về hợp đồng kinh tế và trọng tài thương mại.
- Tổ chức hệ thống quản lý hoạt động thương mại các cấp:
Tổ chức hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước về thương mại ở mỗi nước có
những đặc thù riêng theo quy định của Hiến pháp và luật pháp của từng nước, đồng thời,
tuỳ thuộc vào thiết chế và thể chế chính trị và hành chính của Chính phủ từng quốc gia.
Tuy nhiên điểm chung giữa các nước là đều có Chính phủ, đứng đầu là Thủ tướng (hoặc
Tổng thống ở một số nước). Với tư cách là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất nắm
quyền hành pháp. Chính phủ ở hầu hết các nước đều có chức năng cơ bản là thống nhất việc
quản lý thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, quốc phòng, an ninh và
đối ngoại của Nhà nước; lập quy để thực hiện các luật do quyền lập pháp định ra; quản lý
công việc hàng ngày của Nhà nước; quản lý bộ máy hành chính Nhà nước và quản lý nhân
sự của bộ máy đó; tham gia quá trình lập pháp.
Cơ cấu tổng thể Nhà nước ở các nước đều do Hiến pháp các nước đó quy định và
chủ thể quản lý vĩ mô nền kinh tế cũng thuộc cơ cấu tổ chức và cơ chế phân bổ quyền lực
do hiến pháp quy định. ở các nước theo chế độ tư bản chủ nghĩa đều theo nguyên tắc tam
quyền phân lập: quyền lập hiến - lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Ba quyền
này phân lập theo chức năng của các cơ quan trong cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước. Do
đó việc xác định chủ thể quản lý Nhà nước về kinh tế nói chung, về thương mại nói riêng

nước về thương mại.
ở cấp cơ sở là phòng Thương mại quận, huyện và tổ quản lý thị trường cấp xã,
phường làm nhiệm vụ thi hành luật pháp và các chỉ thị, quy định của Nhà nước về hoạt
động kinh doanh thương mại trên địa bàn được giao.
- Kiểm tra, kiểm soát hoạt động thương mại:
Bao gồm những nội dung cụ thể như thanh tra, kiểm tra sự phù hợp của chất lượng
hàng hoá lưu thông trên thị trường với: tiêu chuẩn Lào bắt buộc áp dụng, đăng ký chất
lượng hàng hoá, các quy định về an toàn vệ sinh môi trường. Thanh tra, kiểm tra việc thực


hiện những quy định về ghi nhãn sản phẩm của hàng hoá lưu thông trên thị trường. Thanh
tra, kiểm tra tính hợp pháp của các dụng cụ đo lường có liên quan đến việc kinh doanh
hàng hoá trên thị trường và hàng hoá gói sẵn trên định lượng. Thanh tra, kiểm tra các vụ
việc về sản xuất hoặc buôn bán hàng giả, buôn lậu, buôn bán không có hoá đơn trên thị
trường. Thanh tra, kiểm soát phòng và chống gian lận thương mại trên phạm vi cả nước,
phạm vi từng địa bàn lãnh thổ,...
1.2.2. Yêu cầu đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động thương mại ở Lào
Trong những năm qua CHDCND Lào đã giữ vững và thực hiện đường lối đổi mới
quản lý Nhà nước đối với hoạt động thương mại của Lào
- Một là: phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế vào hoạt động thương mại,
trong đó thương mại Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Thực hiện chính sách tự do hoá thương
mại, khuyến khích mọi thành viên kinh tế tham gia, khai thác vốn liếng, tái sản xuất, kinh
nghiệm nhằm phát triển thương mại, làm cho thị trường sôi động, hàng hoá đa dạng, phong
phú, đáp ứng nhu cầu phụ vụ sản xuất và đời sống nhân dân. Nhà nước cần đầu tư hỗ trợ
cho doanh nghiệp thương mại Nhà nước có đủ tiềm lực kinh tế thực hiện vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế quốc dân. Vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước nói chung và thương mại
nói riêng là "làm đòn bẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết vấn đề xã hội, mở đường
hướng dẫn hỗ trợ các thành phần khác cùng phát triển; làm lực lượng vật chất để Nhà nước
thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô; tạo nền tàng cho sản xuất xã hội mới" [26,
tr. 93].

tích cực, đồng thời có biện pháp hạn chế các mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm
tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước phát triển.
Nhân tố quyết định nhất bảo đảm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của nền
kinh tế thị trường là vai trò quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó kế
hoạch và thị trường kết hợp chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất, bổ sung hỗ trợ lẫn
nhau. Sự vận động của kinh tế thị trường trong mấy năm qua đã giúp chúng ta nhận thức
sâu sắc rằng thông qua thị trường và hoạt động thương mại sẽ diễn ra quá trình phân phối
và phân phối lại thu nhập quốc dân, vì vậy sự công bằng xã hội trong nền kinh tế nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường không chỉ được thực hiện thông qua phân phối
trực tiếp kết quả sản xuất, mà còn được thực hiện ở khâu phân phối lưu thông qua thị


trường, giá cả bằng pháp luật, các định chế, ác chính sách; bằng các định hướng trong quy
hoạch và kế hoạch phát triển và bằng kiểm kê, kiểm soát Nhà nước tổ chức về thiết lập trật
tự thị trường, thúc đẩy hình thành vận động lưu thông hàng hoá giữa các vùng các miền;
khuyến khích và phát huy các mặt tích cực của cơ chế thị trường đồng thời có biện pháp
ngăn ngừa xu hướng tự phát, nạn đầu cơ buôn lậu và hành vi kinh doanh trái phép; hạn chế
sự phân hoá giàu nghèo quá mức, bảo đảm tăng trưởng kinh tế kết hợp với tiến bộ và công
bằng xã hội.
1.3. tìm hiểu kinh nghiệm quản lý Nhà nước đối với hoạt động thương mại của
Việt Nam và bài học vận dụng ở lào
1.3.1. Kinh nghiệm đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động thương mại
của Việt Nam
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tại Đại hội lần thứ VI của Đảng
(tháng 12-1986) đã đề ra quan điểm, đường lối đổi mới kinh tế - xã hội sâu sắc và toàn
diện. Đây là một thực sự cách mạng đổi mới triệt để được tiến hành đồng thời trên toàn bộ
nền kinh tế quốc dân.
Để thực hiện đường lối đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn chiến lược
phát triển hợp lý. Trong bối cảnh quốc tế và khu vực, căn cứ vào điều kiện cụ thể của đất
nước, Việt Nam lựa chọn thương mại như sau:

trung quan liêu bao cấp (hay còn gọi là cơ chế xin cho) chuyển sang cơ chế thị trường có
sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. Giảm dần độc quyền của doanh nghiệp Nhà nước và xây
dựng các đạo luật theo tinh thần đảm bảo bình đẳng trong kinh doanh giữa các thành phần
kinh tế, chống cửa quyền, độc quyền tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh
nghiệp, tạo lập môi trường pháp lý (hay còn gọi là sân chơi) chung, giảm phân biệt đối xử.
Nhà nước tạo điều kiện, tiền đề cho sự ra đời hoạt động của các thị trường hàng hoá - dịch
vụ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường lao động, thị trường khoa học công
nghệ...
+ Về xây dựng chính sách thương mại: Nhà nước đóng vai trò tạo lập môi trường và
chính sách quản lý phù hợp với quy luật kinh tế thị trường, hướng dẫn các doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh theo luật pháp và có hiệu quả. Nhà
nước ban hành các chính sách kinh tế, thương mại và đầu tư thông thoáng hấp dẫn để


khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư mở rộng sản xuất hàng hoá
phục vụ nhu cầu trong nước và tăng kim ngạch xuất khẩu, đổi mới đồng bộ các chính sách
thương mại và các chính sách kinh tế liên quan đến thương mại, gồm:
Đổi mới chính sách xuất nhập khẩu đối với thương nhân: Nghị định 64/HĐBT
(1989) là bước đột phá đầu tiên về quyền kinh doanh, đã xoá bỏ độc quyền của doanh
nghiệp Nhà nước (DNNN) đối với hoạt động ngoại thương mở rộng quyền cho các doanh
nghiệp tư nhân được tham gia XNK. Ngày 10/5/1997, Luật thương mại Việt Nam đã được
Quốc hội thông qua và tiếp sau đó Chính phủ cũng đã ra Nghị định số 57/1998/NĐ-CP xoá
bỏ chế độ cấp phép kinh doanh XNK, nhưng vẫn có giới hạn trong phạm vi ngành nghề
nhất định. Khi Luật doanh nghiệp ra đời đã mở rộng quyền tự do kinh doanh XNK cho
mọi đối tượng tham gia sản xuất kinh doanh. Ngày 29/4/1999 Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Chỉ thị số 10/1999/CP-TTg quy định "đẩy mạnh xuất khẩu là nhiệm vụ của mọi cấp,
mọi ngành và mọi tổ chức". Nghị định 44/CP (2001) về chính sách thương nhân, mở rộng
quyền kinh doanh thương mại cho mọi thương nhân đều được trực tiếp XNK tất cả các loại
hàng hoá. Đây là một bước phát triển mới của tự do hoá thương mại trong nước.
Đổi mới chính sách thương mại thu hút, khuyến khích đầu tư sản xuất kinh doanh

thương mại, tìm kiếm thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu.
+ Về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và các chính sách hỗ trợ đầu tư. Nhà
nước đầu tư, cung cấp hàng hoá công cộng, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, ưu đãi cho các
doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh thương mại; Nhà nước Trung ương cho phép các
tỉnh sử dụng toàn bộ (100%) nguồn thu qua các cửa khẩu để đầu tư phát triển hạ tầng và
khu kinh tế cửa khẩu biên giới; tỉnh, thành phố được quyền ban hành chính sách ưu đãi
riêng của tỉnh nhằm khuyến khích, thu hút đầu tư trong và ngoài nước, nổi bật nhất là
những chính sách sau đây:
- Chính sách thưởng xuất khẩu, hoàn thuế xuất khẩu 5% - 10% doanh số.
- Chính sách tái đầu tư cho doanh nghiệp, Nhà nước cho phép các địa phương trích
5% - 18% tổng số thuế doanh nghiệp đã nộp vào ngân sách của tỉnh tái đầu tư lại cho
doanh nghiệp.
- Chính sách hỗ trợ thu hút đầu tư. Hay chính sách xây dựng cánh đồng 50 triệu
đồng bằng cách kết hợp 4 nhà: nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và nhà doanh nghiệp,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status