MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới do Đảng Nhân dân Cách mạng (NDCM) Lào khởi
xướng và lãnh đạo, kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng
(1986) đã mở đường cho một thời kỳ phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VII của Đảng NDCM Lào đã đề ra chương trình
cải cách hành chính và đổi mới cơ chế, chính sách quản lý kinh tế của Nhà
nước trong mọi lĩnh vực, các ngành, trong đó có thương mại nhằm thực hiện
mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Cộng hòa Dân chủ Nhân
dân (CHDCND) Lào đến năm 2020.
Trọng tâm của chương trình cải cách về kinh tế là hoàn thiện cơ chế,
chính sách và hệ thống tổ chức bộ máy quản lý kinh tế, nâng cao hiệu lực và
hiệu quả của hoạt động kinh tế nhà nước, đảm bảo thực hiện những mục tiêu
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước đề ra, phù hợp xu
thế của thời đại mới. Vì vậy, đòi hỏi tất cả các ngành kinh tế quốc dân nói
chung và ngành thương mại nói riêng phải đổi mới cơ chế, chính sách, các
công cụ và phương pháp hoạt động vĩ mô... cho phù hợp với điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo định hướng XHCN.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trong những năm qua, vai trò
Nhà nước về kinh tế nói chung và đối với thương mại nói riêng đã đạt được
những thành tựu quan trọng. Tuy vậy, vẫn còn một số hạn chế, vừa chưa định
hướng quy hoạch chiến lược phát triển, vừa chưa kiểm soát chặt chẽ hoạt
động thương mại của các thành phần kinh tế tham gia.
Khi chuyển sang kinh tế thị trường, hoạt động thương mại của thành
phần kinh tế Nhà nước còn bị động, chưa phát huy được vai trò chủ đạo, hoạt
động thương mại của thành phần kinh tế ngoài Nhà nước phát triển nhanh
nhưng không đồng đều giữa các vùng, miền, thị trường nông thôn miền núi
1
- Đề tài về "Phát triển thị trường nông thôn Cộng hòa dân chủ Nhân
dân Lào", Luận án tiến sĩ kinh tế của Bun Thi Khưa My Xay, Khoa học Kinh
tế chính trị XHCN, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1998.
- Đề tài về: "Đổi mới quản lý nhà nước về thương mại ở Cộng hòa Dân
chủ Nhân dân Lào", Luận án tiến sĩ kinh tế của Chăn Seng Phim Ma Vông, Khoa
học Kinh tế chính trị XHCN, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003.
- Đề tài “Đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động thương mại trên
địa bàn tỉnh Bo keo, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào”, Luận văn thạc sỹ của
Khăm Kâng Phiu Văn Na, Khoa quản lý kinh tế, Học viện Chính trị - Hành
chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2006.
Tuy nhiên, ở một địa phương cụ thể cấp tỉnh có nhiều đặc thù riêng như
tỉnh Sa Văn Na Khệt, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách
có hệ thống về lĩnh vực này. Để thực hiện đề tài, tôi có kế thừa các ý tưởng lý
luận của các công trình đã công bố của Việt Nam và Lào, đi sâu phân tích
thực trạng và đề xuất giải pháp phù hợp cho hoạt động thương mại của tỉnh Sa
Văn Na Khệt trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích: Làm rõ cơ sở lý luận của vai trò nhà nước đối với hoạt
động thương mại trong nền kinh tế thị trường, đánh giá thực trạng và đề xuất
phương hướng, giải pháp nâng cao vai trò, hiệu lực nhà nước về thương mại
trên địa bàn tỉnh Sa Văn Na Khệt trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Phân tích sự cần thiết khách quan phải tiếp tục duy trì vai trò nhà
nước đối với hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh Sa Văn Na Khệt.
- Đánh giá quá trình đổi mới và thực trạng quản lý nhà nước đối với các
thành phần kinh tế tham gia hoạt động thương mại ở tỉnh Sa Văn Na Khệt .
Từ đó rút ra kết quả, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp về thương mại ở tỉnh Sa Văn Na
4
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VAI TRÒ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG
1.1. Những vấn đề cơ bản về hoạt động thương mại trong nền kinh
tế thị trường
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động thương mại
1.1.1.1. Khái niệm thương mại
Sản xuất của cải vật chất là hoạt động cơ bản nhất của xã hội loài
người, là cơ sở của đời sống xa hội, nhưng của cải vật chất sản xuất ra không
đem trao đổi và tiêu dùng thì không phải là hàng hóa.
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, sản xuất ngày càng mở
rộng làm cho lực lượng sản xuất phát triển đã dẫn đến sự phân công lao động
xã hội. Lúc đầu là phân công tự nhiên (mang tính tự phát), sau đó là phân
công có ý thức. Chính nhờ sự phân công lao động xã hội đó mà hình thành
các ngành kinh tế độc lập khác nhau. Các Mác đã chỉ ra rằng: "nếu xét riêng
bản thân lao động thì người ta có thể gọi sự phân chia nền sản xuất xã hội
thành những ngành lớn như: công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp... là sự
phân công lao động chung, và sự phân chia những ngành sản xuất ấy thành
từng loại và như là sự phân công lao động đặc thù" [24, tr.580].
Quá trình phát triển từ công xã nguyên thủy đến chủ nghĩa tư bản đã
hình thành khá rõ 3 cuộc phân công lao động xã hội lớn: mới đầu chăn nuôi
tách ra khỏi trồng trọt, và hình thành một ngành nghề khác trong nông nghiệp,
tiếp đó ngành thủ công tách ra khỏi nghề nông, đã hình thành sự chuyên môn
hóa trong nông nghiệp và bắt đầu nhen nhóm ngành công nghiệp. Hoạt động
trao đổi trở nên phức tạp hơn; bắt đầu xuất hiện tiền tệ làm vật trung gian để
Thương mại là một ngành kinh tế tương đối độc lập trong nền kinh tế
quốc dân, nó không sản xuất ra của cải vật chất nhưng lại phục vụ cho quá
trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng trong nền kinh tế gắn liền với lĩnh vực
lưu thông hàng hóa với sản xuất hàng hóa. Việc hình thành và phát triển
6
thương mại phụ thuộc vào sự phân công lao động xã hội và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất ở từng giai đoạn lịch sử quyết định. Trình độ của lực
lượng sản xuất này ngày càng phát triển, phân công lao động ngày càng sâu
sắc thì hoạt động thương mại được mở rộng cả về phạm vi, quy mô, cơ cấu
hàng hóa, dịch vụ cũng đa dạng và phong phú hơn.
1.1.1.2. Đặc điểm hoạt động thương mại
Thương mại là một lĩnh vực kinh tế, trong đó các chủ thể kinh tế thực
hiện việc mua bán, trao đổi hàng hóa bằng các phương thức khác nhau.
Thương mại ra đời cùng với nền kinh tế hàng hóa và ngày càng phát triển.
Cho đến nay, thương mại là một ngành kinh tế phát triển ở trình độ cao với
quy mô rộng lớn trong nền kinh tế quốc dân của các nước, chiếm tỷ trọng
đáng kể trong cấu thành khu vực dịch vụ.
Thương mại tuy không phải là một ngành sản xuất vật chất độc lập,
nhưng lại có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với sản xuất, góp phần thúc
đẩy sản xuất và quá trình chuyên môn hóa, giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội của đất nước.
Thương mại trong điều kiện hiện nay chịu ảnh hưởng của xu hướng
toàn cầu hóa kinh tế và phát triển nền kinh tế tri thức. Nó không chỉ đóng vai
trò cung cấp đầu vào và giải quyết đầu ra cho sản xuất, đáp ứng nhu cầu ngày
càng tăng về hàng hóa của toàn xã hội mà còn đóng vai trò ngày càng quan
trọng trong việc góp phần khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh của từng
vùng, từng địa phương, từng quốc gia; phân bổ nguồn lực một cách hợp lý và
có hiệu quả. Thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ để đẩy mạnh sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa; mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, hội nhập vào
tiếp tục cho sản xuất hoặc đi vào tiêu dùng cá nhân. Ở vị trí cấu thành của quá
trình tái sản xuất, thương mại được coi như hệ thống dẫn lưu của quá trình tái
sản xuất. Khâu này bị ách tắc sẽ dẫn tới sự khủng hoảng của sản xuất và tiêu
dùng. Vì vậy, thương mại là hợp phần của sản xuất hàng hóa. Sản phẩm hàng
hóa có mục đích từ trước là để thỏa mãn nhu cầu của người khác, sản xuất ra
để trao đổi mua bán. Hoạt động thương mại gắn liền với hoạt động sản xuất
hàng hóa. Ở đây có thể phát triển ý kiến của Ăngghen rằng: sản xuất và
8
thương mại là hai mặt của kinh tế, có thể coi như trục hoành và trục tung của
đô thị kinh tế.
Thứ hai, thương mại làm cho sản xuất hàng hóa phát triển chấn hưng
các quan hệ hàng hóa tiền tệ.
Qua hoạt động mua bán tạo ra động lực kích thích đối với người sản
xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, tổ chức lại sản xuất, hình thành nên
các vùng chuyên môn hóa sản xuất hàng hóa lớn. Phát triển thương mại cũng
có nghĩa là phát triển các quan hệ hàng hóa tiền tệ, làm cho con người năng
động, dần thích nghi với cách thức của nền sản xuất hàng hóa, đó là con
đường ngắn nhất để chuyển từ sản xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc thành sản xuất
hàng hóa.
Thứ ba, thương mại kích thích sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Lợi nhuận là mục đích của hoạt động thương mại. Người sản xuất sẽ
tìm mọi cách để cải tiến công tác, áp dụng khoa học công nghệ mới, hạ chi
phí để thu nhiều lợi nhuận. Đồng thời cạnh tranh trong thương mại bắt buộc
người sản xuất phải năng động, phải không ngừng nâng cao tay nghề chuyên
môn và tính toán thực chất hoạt động kinh doanh, tiết kiệm các nguồn lực,
nâng cao năng suất lao động. Đó là những nhân tố tác động làm cho lực lượng
sản xuất phát triển.
Thứ tư, thương mại kích thích nhu cầu và luôn tạo ra nhu cầu mới.
đó sớm có sự lựa chọn chuẩn xác phương án cung của mình sao cho tối ưu.
Thứ bảy, thương mại giúp xã hội mở rộng quan hệ hàng hóa trên phạm
vi ngày càng rộng lớn, nhờ đó mà nâng cao mức sống vật chất, văn hóa của
con người.
Nhờ có ngành thương mại, trong đó có ngoại thương, nhân loại toàn
cầu có thể thụ hưởng thành quả lao động của nhau.
Thông qua hàng hóa, con người có thể giao lưu văn hóa, thúc đẩy trí
tuệ phát triển làm cho xã hội sinh động hơn.
1.1.3. Mối quan hệ và tác động của hoạt động thương mại
1.1.3.1. Mối quan hệ của hoạt động thương mại
* Với sản xuất và tiêu dùng trong tái sản xuất xã hội:
10
Thương mại giữ vị trí trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng trong quá
trình tái sản xuất xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, chính thương mại kết
nối và thực hiện sự cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng thông qua hoạt động
mua bán bằng tiền. Thương mại là điều kiện không thể thiếu của tái sản xuất
xã hội. Thương mại một mặt chịu sự tác động quyết định của sản xuất và tiêu
dùng (quy mô, cơ cấu, tốc độ phát triển của thương mại do quy mô, cơ cấu và
sự phát triển của sản xuất và tiêu dùng quy định). Ngược lại sự phát triển của
thương mại có tác động trở lại làm biến đổi quy mô, cơ cấu và sự phát triển
của cả sản xuất lẫn tiêu dùng.
* Thương mại phản ánh tổng hợp nhiều mối quan hệ giữa các chủ thể
của nền kinh tế thông qua hoạt động mua bán trên thị trường:
Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ kinh tế của các chủ thể kinh tế
được phản ánh chủ yếu trên thị trường thông qua mua bán gắn liền với hoạt
động thương mại. Những mối quan hệ thương mại này có liên quan tới nhiều
chủ thể khác nhau (chính phủ, các doanh nghiệp, các hộ gia đình và các cá
nhân người tiêu dùng cũng như có liên quan tới mọi thành phần kinh tế khác
động của thương mại rất phức tạp và đa chiều. Chúng có thể những tác động
tích cực (thúc đẩy hoặc đưa lại những lợi ích), cũng có thể là các tác động tiêu
cực (cản trở hoặc dẫn đến những tổn thất). Kết quả của những tác động này có
thể lượng hóa được (đo lường được) nhưng nhiều trường hợp chúng rất khó
định lượng. Tác động của thương mại có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp, phạm
vi ảnh hưởng của chúng rất khác nhau. Có nhiều hoạt động thương mại mà
ảnh hưởng của chúng chỉ trong một phạm vi hẹp và trong một thời gian ngắn,
ngược lại có những tác động mà ảnh hưởng của chúng rất rộng rãi và lâu dài.
Nghiên cứu những tác động của thương mại rất quan trọng, nó
không chỉ giúp cho việc thúc đẩy hoạt động thương mại ở phạm vi doanh
nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu kinh doanh mà còn giúp cho việc quản
lý các hoạt động thương mại ở phạm vi vĩ mô một cách có kết quả và hiệu
quả, góp phần đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội của thương mại cũng như sự
phát triển kinh tế bền vững.
* Tác động tích cực của thương mại:
12
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, thương mại có những tác động
tích cực sau:
- Về kinh tế:
+ Góp phần tạo ra thu nhập quốc dân là nguồn thu ngoại tệ quan trọng
(ngoại thương), góp phần cải thiện cán cân thanh toán của quốc gia, ổn định
kinh tế vĩ mô.
+ Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, ổn định và bền vững.
+ Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và đẩy mạnh xuất khẩu.
+ Thúc đẩy đầu tư hợp tác kinh tế giữa các vùng, các quốc gia và các
khu vực kinh tế thế giới.
+ Thúc đẩy cạnh tranh và hội nhập kinh tế thế giới.
- Về xã hội:
+ Phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội làm sâu
sắc thêm những mâu thuẫn xã hội.
+ Nguy cơ xâm nhập các lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền du nhập
lối sống và văn hóa ngoại lai xa lạ với lối sống và bản sắc văn hóa dân tộc.
+ Gia tăng sự chênh lệch giàu nghèo giữa các nước phát triển và các
nước đang phát triển dẫn đến sự bất bình đẳng, làm sâu sắc những mâu thuẫn
giữa các quốc gia.
+ Cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường, chiếm lĩnh các nguồn tài nguyên
nhiều khi đã là nguyên nhân trực tiếp của các xung đột giữa các dân tộc và
giữa các quốc gia.
- Về môi trường tự nhiên:
+ Khai thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
+ Phá hủy môi trường tự nhiên và gây ô nhiễm môi trường sống.
Để khai thác những mặt tích cực của thương mại và hạn chế những mặt
tiêu cực của nó, hoạt động thương mại phải vận động theo cơ chế thị trường
và phải chịu sự quản lý, điều tiết vĩ mô của Nhà nước.
14
1.2. Vai trò Nhà nước đối với hoạt động thương mại trong nền kinh
tế thị trường
1.2.1. Vai trò nhà nước đối với hoạt động thương mại
- Hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển thương mại:
Chiến lược phát triển thương mại được xây dựng nhằm đề ra những
mục tiêu phương hướng và hệ thống giải pháp lớn để huy động tối ưu các
nguồn lực cho phát triển thương mại của quốc gia bao gồm: chiến lược
thương mại trong nước và chiến lược thương mại quốc tế trong một thời gain
khá dài (khoảng 10 năm, 20 năm) góp phần thực hiện chiến lược phát triển
ngắn hạn), cũng như xác định cả biện pháp để đạt mục tiêu đó, đáp ứng yêu
cầu của nền kinh tế trong từng thời đoạn cụ thể. Kế hoạch hóa thương mại
vừa là phương pháp vừa là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện vai trò
hướng dẫn, định hướng phát triển thương mại và thị trường trong nước và
quốc tế. Mục tiêu của kế hoạch hóa định hướng phát triển thương mại là nhằm
giữ một sự cân đối lớn của thị trường và thương mại, ổn định thị trường, phát
triển lưu thông hàng hóa, phát triển xuất nhập khẩu (XNK) và lợi nhuận. Đối
tượng của kế hoạch phát triển thương mại bao quát toàn bộ các quá trình kinh
tế trong ngành thương mại, cả hoạt động thương mại trong nước và với nước
ngoài, trọng tâm là các quan hệ tổng cung - tổng cầu, quan hệ tiền hàng, quan
hệ cung - cầu từng mặt hàng thiết yếu, các cơ cấu thương mại chủ yếu.
Kế hoạch phát triển thương mại trong nền kinh tế quốc dân gồm kế
hoạch phát triển thương mại quốc gia, kế hoạch phát triển thương mại của
vùng, lãnh thổ, kế hoạch phát triển thương mại của các tỉnh, thành phố.
Chính sách thương mại thuộc hệ thống chính sách kinh tế của Nhà
nước, là hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, công cụ và biện pháp thích hợp,
mà Nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động thương mại trong nước và
hoạt động thương mại quốc tế trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt được các
mục tiêu xác định trong chiến lược phát triển thương mại quốc gia nói riêng,
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia nói chung trong thời kỳ lịch
sử. Chính sách thương mại được phân thành nhiều chính sách bộ phận, gồm:
chính sách lưu thông hàng hóa, chính sách ngoại thương, chính sách thương
16
nhân, chính sách phát triển thị trường, chính sách thương mại đối với các
vùng đặc thù (miền núi, vùng sâu, vùng xa...), chính sách thuế quan, chính
sách bảo vệ người tiêu dùng, chính sách hội nhập khu vực và thế giới... Trong
mỗi chính sách, bộ phận nói trên lại được phân nhỏ thành các chính sách
riêng biệt khác nhau. Ví dụ, chính sách ngoại thương được phân thành 3 chính
luật về tổ chức doanh nghiệp (như luật doanh nghiệp, luật phá sản doanh
nghiệp...) các nghị định và quyết định của Chính phủ về tổ chức doanh nghiệp,
các thông tư, công văn, chỉ thị, quyết định của Bộ Thương mại (hoặc cơ quan
tương tự) và các Bộ ngành hữu quan liên quan đến tổ chức doanh nghiệp; 3.
Các văn bản hiện hành về quản lý kinh doanh trong nước; 4. Các văn bản về
xuất nhập khẩu, các văn bản về quản lý thị trường; 5. Các văn bản về đầu tư
liên quan đến thương mại; 6. Các văn bản về tiêu chuẩn chất lượng về quản lý
đo lường chất lượng hàng hóa; 7. Các văn bản về thuế trong nước và về thuế
quan; 8. Các văn bản về văn phòng đại diện thương mại; 9. Các văn bản về hải
quan; 10. Các văn bản về hợp đồng kinh tế và trọng tài thương mại.
- Tổ chức hệ thống quản lý hoạt động thương mại các cấp:
Tổ chức hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước về thương mại ở mỗi
nước có những đặc thù riêng theo quy định của Hiến pháp và luật pháp của
từng nước, đồng thời, tùy thuộc vào thiết chế và thể chế chính trị và hành
chính của Chính phủ từng quốc gia. Tuy nhiên điểm chung giữa các nước là
đều có Chính phủ, đứng đầu là Thủ tướng (hoặc Tổng thống ở một số nước).
Với tư cách là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất nắm quyền hành pháp.
Chính phủ ở hầu hết các nước đều có chức năng cơ bản là thống nhất việc
quản lý, thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc
phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; lập quy để thực hiện các luật do
quyền lập pháp định ra; quản lý công việc hàng ngày của Nhà nước; quản lý
bộ máy hành chính Nhà nước và quản lý nhân sự của bộ máy đó; tham gia
quá trình lập pháp.
Cơ cấu tổng thể Nhà nước ở các nước đều do Hiến pháp các nước đó
quy định và chủ thể quản lý vĩ mô nền kinh tế cũng thuộc cơ cấu tổ chức và
cơ chế phân bổ quyền lực do hiến pháp quy định. ở các nước theo chế độ tư
18
bản chủ nghĩa đều theo nguyên tắc tam quyền phân lập: quyền lập hiến - lập
- Kiểm tra, kiểm soát hoạt động thương mại:
Bao gồm những nội dung cụ thể như thanh tra, kiểm tra sự phù hợp của
chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường với: tiêu chuẩn Lào bắt buộc áp
dụng, đăng ký chất lượng hàng hóa, các quy định về an toàn vệ sinh môi
trường. Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện những quy định về ghi nhãn hiệu
sản phẩm của hàng hóa lưu thông trên thị trường. Thanh tra, kiểm tra tính hợp
pháp của các dụng cụ đo lường có liên quan đến việc kinh doanh hàng hóa
trên thị trường và hàng hóa gói sẵn trên định lượng. Thanh tra, kiểm tra các
vụ việc về sản xuất hoặc buôn bán hàng giả, buôn lậu, buôn bán không có hóa
đơn trên thị trường. Thanh tra, kiểm soát phòng và chống gian lận thương mại
trên phạm vi cả nước, phạm vi từng địa bàn lãnh thổ,...
1.2.2. Vai trò nhà nước đối với hoạt động thương mại ở Lào
Trong những năm qua CHDCND Lào đã giữ vững và thực hiện đường
lối đổi mới quản lý Nhà nước đối với hoạt động thương mại của Lào
Một là: phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế vào hoạt động
thương mại, trong đó thương mại Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Thực hiện
chính sách tự do hóa thương mại, khuyến khích mọi thành viên kinh tế tham
gia, khai thác vốn liếng, tái sản xuất, kinh nghiệm nhằm phát triển thương
mại, làm cho thị trường sôi động, hàng hóa đa dạng, phong phú, đáp ứng nhu
cầu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân. Nhà nước cần đầu tư hỗ trợ cho
doanh nghiệp thương mại Nhà nước có đủ tiềm lực kinh tế thực hiện vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước nói
chung và thương mại nói riêng là "làm đòn bẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và
giải quyết vấn đề xã hội, mở đường hướng dẫn hỗ trợ các thành phần khác
cùng phát triển; làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều
tiết và quản lý vĩ mô; tạo nền tảng cho sản xuất xã hội mới" [26, tr. 93].
Hai là: xác định đúng chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động
thương mại phù hợp với cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
(XHCN) là vấn đề rất mới mẻ Lào chưa trải qua, chưa có kinh nghiệm... mặt
để chỉ đạo là khuyến khích, phát huy mạnh mẽ các mặt tích cực, đồng thời có
21
biện pháp hạn chế các mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm tăng trưởng
kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước phát triển.
Nhân tố quyết định nhất bảo đảm giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa của nền kinh tế thị trường là vai trò quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh
đạo của Đảng, trong đó kế hoạch và thị trường kết hợp chặt chẽ với nhau
trong một thể thống nhất, bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau. Sự vận động của kinh tế
thị trường trong mấy năm qua đã giúp chúng ta nhận thức sâu sắc rằng: thông
qua thị trường và hoạt động thương mại sẽ diễn ra quá trình phân phối và
phân phối lại thu nhập quốc dân. Vì vậy, sự công bằng xã hội trong nền kinh
tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường không chỉ được thực hiện
thông qua phân phối trực tiếp kết quả sản xuất, mà còn được thực hiện ở khâu
phân phối lưu thông qua thị trường, giá cả bằng pháp luật, các định chế, các
chính sách; bằng các định hướng trong quy hoạch và kế hoạch phát triển và
bằng kiểm kê, kiểm soát Nhà nước tổ chức về thiết lập trật tự thị trường, thúc
đẩy hình thành vận động lưu thông hàng hóa giữa các vùng các miền; khuyến
khích và phát huy các mặt tích cực của cơ chế thị trường đồng thời có biện
pháp ngăn ngừa xu hướng tự phát, nạn đầu cơ buôn lậu và hành vi kinh doanh
trái phép; hạn chế sự phân hóa giàu nghèo quá mức, bảo đảm tăng trưởng
kinh tế kết hợp với tiến bộ và công bằng xã hội.
1.3. Tìm hiểu kinh nghiệm vai trò Nhà nước đối với hoạt động
thương mại của Việt Nam và bài học vận dụng ở Lào
1.3.1. Kinh nghiệm vai trò nhà nước đối với hoạt động thương mại
của Việt Nam
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tại Đại hội lần thứ VI
của Đảng (tháng 12-1986) đã đề ra quan điểm, đường lối đổi mới kinh tế - xã
sống nhân dân.
Thứ sáu, đi đôi với việc xác định lâu dài, Nhà nước và Chính phủ Việt
Nam đã xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động cho từng thời kỳ. Đề
ra chỉ tiêu kế hoạch và phương thức thực hiện kế hoạch của Chính phủ và Bộ
ngành, địa phương theo mô hình kinh tế mới được tổ chức theo quan điểm kế
23
hoạch hóa mang tính định hướng, kế hoạch không phải chỉ giao chỉ tiêu để
thực hiện mà còn là điều phối sự thực hiện theo dự án.
Những đổi mới quan trọng của Việt Nam về vai trò Nhà nước trong lĩnh
vực kinh tế và thương mại thời kỳ mở cửa và hội nhập có thể khái quát như sau:
+ Về đổi mới cơ chế quản lý: Nhà nước sử dụng quyền lực kinh tế chính trị của mình tiếp tục quá trình tự do hóa thương mại, thực hiện xóa bỏ
cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị
trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. Giảm dần độc quyền của doanh
nghiệp Nhà nước và xây dựng các đạo luật theo tinh thần đảm bảo bình đẳng
trong kinh doanh giữa các thành phần kinh tế, chống cửa quyền, độc quyền,
tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, tạo lập môi trường
pháp lý chung, giảm phân biệt đối xử. Nhà nước tạo điều kiện, tiền đề cho sự
ra đời hoạt động của các thị trường hàng hóa - dịch vụ, thị trường vốn, thị
trường chứng khoán, thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ...
+ Về xây dựng chính sách thương mại: Nhà nước đóng vai trò tạo lập
môi trường và chính sách quản lý phù hợp với quy luật kinh tế thị trường,
hướng dẫn các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động kinh
doanh theo luật pháp và có hiệu quả. Nhà nước ban hành các chính sách kinh
tế, thương mại và đầu tư thông thoáng hấp dẫn để khuyến khích các doanh
nghiệp trong và ngoài nước đầu tư mở rộng sản xuất hàng hóa phục vụ nhu
cầu trong nước và tăng kim ngạch xuất khẩu, đổi mới đồng bộ các chính sách
thương mại và các chính sách kinh tế liên quan đến thương mại, gồm:
Đổi mới chính sách xuất nhập khẩu đối với thương nhân: Nghị định
Đổi mới cơ chế điều hành XNK theo hướng từ quy định từng năm sang
quy định cho một thời gian dài là 5 năm để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
chủ động hoạch định chiến lược và phương án kinh doanh dài hạn. Tại Quyết
định số 46/QĐ-TTg ngày 4/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã xóa
bỏ hầu hết các hạn chế định lượng về hàng hóa XNK, nhập khẩu 2001 - 2005.
Những mặt hàng này sẽ còn duy trì sự quản lý của Bộ Thương mại và hàng hóa
thuộc diện quản lý của 07 chuyên ngành do Bộ chủ quản quản lý. Cho đến nay
25