Lêi c¶m ¬n
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn
nhận được sự giúp đỡ quý báu của Ban giám đốc, các giáo sư, phó giáo
sư, tiến sỹ, các thầy, cô giáo của Học viện Hành chính, đã tận tình giảng
dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn
thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với GS.TS. Đinh Văn Tiến người hướng
dẫn khoa học đã rất nhiệt tình và trách nhiệm để tôi hoàn thành được luận văn.
Tôi cũng xin cảm ơn Lãnh đạo Cục hàng không dân dụng Việt Nam,
Hãng hàng không quốc gia Việt Nam và các đơn vị trực thuộc, cũng như các
cá nhân, tổ chức, các bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện thuận
lợi trong thời gian tôi tìm hiểu tình hình thực tế và cung cấp tài liệu, số liệu để
tôi hoàn thành luận văn.
Do trình hạn chế về thời gian nên luận văn có thể có nhiều thiếu sót. Tôi
mong được sự góp ý chỉ bảo của các thầy, các cô và các bạn đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn.
Tác giả
HÀ TUẤN ANH
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, Luận văn Thạc sỹ quản lý hành chính công: “Hoàn
thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động vận tải hàng hóa bằng đường
hàng không trong xu thế hội nhập” là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
dưới sự hướng dẫn của GS. TS. Đinh Văn Tiến, Phó Giám đốc Học viện
Hành chính.
Các thông tin, số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một luận văn nào trước đây.
Tác giả
HÀ TUẤN ANH
MỤC LỤC
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
ninh và quốc phòng của đất nước.
Hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa ngành vận tải hàng
không đã trở thành hiện thực với chính sách mở cửa và đổi mới kinh tế, cùng
1
với các ngành kinh tế khác, ngành vận tải nói chung và vận tải hàng không
nói riêng đã có những bước tiến nhảy vọt. Mạng lưới vận tải hàng không nội
địa được phủ kín, nhiều đường bay quốc tế được mở rộng và nâng cấp. Nhờ
đó khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường không đã tăng lên đáng
kể, kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam và các nước ngày càng tăng nhanh, thị
trường được mở rộng, thương mại quốc tế ngày càng phát triển.
Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế khu vực nói riêng và nền kinh tế
thế giới nói chung đang gặp nhiều khó khăn, Hàng không Việt Nam cũng
không tránh khỏi những bước thăng trầm. Mặt khác, trong tình hình cạnh
tranh trên thị trường hàng không thế giới ngày càng gay gắt, cơ sở vật chất
cũng như công nghệ và kỹ thuật của Hàng không Việt Nam mặc dù đã có
nhiều nỗ lực cải tiến song vẫn còn chậm hơn rất nhiều so với các nước trong
khu vực khiến cho khả năng cạnh tranh của Hàng không Việt Nam còn thấp.
Với vai trò là một chiếc cầu nối liền Việt Nam với các nước trên thế giới
cũng như giữa các vùng trong cả nước đồng thời là một ngành kinh tế mang
lại một nguồn thu đáng kể cho đất nước do nhà nước cần có những biện pháp
hữu hiệu để thực hiện quản lý có hiệu quả hoạt động của vận tải hàng không
nói chung và vận tải hàng hóa bằng đường hàng không nói riêng nhằm tạo
điều kiện cho ngành hàng không Việt Nam có thể phát huy được những thế
mạnh của mình đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong thời
kỳ hội nhập.
Với kiến thức quản lý nhà nước được đào tạo và có thời gian học tập tại
Học viện Hành chính trong chương trình quản lý hành chính công, tội chọn đề
tài “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động vận tải hàng hóa
bằng đường hàng không trong xu thế hội nhập” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
Tác giả Võ Huy Cường, Luận văn Thạc sỹ, Học viện Hành chính Quốc gia,
Hà Nội, 2001; “Hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý nhà nước đối với chiến
lược phát triển thị trường dịch vụ vận chuyển hàng hóa quốc tế của Tổng
công ty Hàng không Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế”, Tác giả
Nguyễn Trọng Nam, Luận văn Thạc sỹ, Học viện Hành chính, Hà Nội,
2007 Những công trình nghiên cứu trên đã góp phần giải đáp nhũng đòi
hỏi cấp bách về việc tăng cường năng lực hoạt động của ngành vận tải hàng
không ở Việt Nam. Nhưng cho tới nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu,
phân tích đánh giá một cách toàn thể những thành tựu, hạn chế và những giải
pháp nào để nâng cao năng lực và hiệu quả của quản lý nhà nước đối với hoạt
động vận tải hàng hóa bằng đường hàng không ở Việt Nam đặc biệt là trong
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích nghiên cứu
Mục đích của Luận văn là nhằm tổng quan những căn cứ lý luận và thực
tiễn của hoạt động quản lý nhà nước về vận tải hàng không và vận tải hàng
hóa bằng đường hàng không. Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động quản
lý nhà nước về vận tải hàng hóa bằng đường hàng không của Việt Nam đề
xuất ra một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với ngành kinh tế
còn non trẻ nhưng đã trở thành mũi nhọn của đất nước trong xu thế toàn cầu
hóa và khu vực hóa.
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, Luận văn có nhiệm vụ:
Tổng quan lý luận về quản lý nhà nước về vận tải hàng không nói chung
và vận tải hàng hóa bằng đường hàng không nói riêng;
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động vận tải hàng hóa bằng đường
hàng không trong thời gian qua;
Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng hoàn thiện hoạt động quản
lý nhà nước về vận tải hàng hóa bằng đường hàng không đáp ứng yêu cầu
4
phát triển kinh tế của đất nước và khai thác có hiệu quả năng lực vận tải của
7. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Sau khi hoàn thành, Luận văn có những đóng góp quan trọng sau:
Luận văn khái quát một cách có hệ thống cơ sở lý luận và phân tích thực
trạng hoạt động quản lý nhà nước về vận tải hàng hóa bằng đường hàng
không ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước
đối với hoạt động vận tải hàng hóa bằng đường hàng không trong điều kiện
Việt Nam trên đường hội nhập kinh tế quốc tế.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, nội dung, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Tổng quan quản lý nhà nước đối với việc vận tải hàng hóa
bằng đường hàng không
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động vận tải
hàng hóa bằng đường hàng không trong điều kiện hội
nhập ở Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về hoạt
động vận tải hàng hóa bằng đường hàng không trong xu
thế hội nhập
6
Chương 1
TỔNG QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
VẬN TẢI HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG
1.1. Những vấn đề cơ bản về vận tải hàng hóa bằng
đường hàng không
1.1.1. Đặc điểm của vận tải hàng hóa bằng đường hàng không
So với các hình thức vận tải hàng hóa khác như vận tải hàng hóa bằng
đường biển, đường bộ, đường sắt thì vận tải hàng hóa bằng đường hàng không
là một lĩnh vực vận tải có quá trình phát triển tương đối ngắn nhưng lại có tốc
độ phát triển khá nhanh và mang tính đặc thù cao. Thời gian đầu mới hình
con người nhiều thời gian để dành cho các công việc khác như nghiên cứu
khoa học, sáng tạo nghệ thuật, nghỉ ngơi Tốc độ đặc biệt cần thiết cho việc
chuyên chở các mặt hàng như: Hàng mau hỏng, hàng cao cấp, hàng khẩn cấp,
thư từ, báo chí, hàng tươi sống
Vận tải hàng không an toàn hơn so với các phương tiện vận tải khác do
vận tải hàng không luôn đòi hỏi sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật tiên tiến
nhất trên thế giới. Do vận tải hàng không sử dụng các phương tiện bay là loại
phương tiện giao thông đặc thù là kết tinh của tiến bộ khoa học – kỹ thuật trên
thế giới, đồng thời trong quá trình sử dụng đòi hỏi một quy trình bảo dưỡng,
sửa chữa hết sức nghiêm ngặt để đảm bảo duy trì khả năng bay. Đồng thời các
phương tiện bay đòi hỏi phải có một hệ thống cơ sở hạ tầng tích hợp nhiều
yếu tố. Bao gồm:
Cảng hàng không (Airport) là nơi đỗ cũng như cất hạ cánh của máy bay,
là nơi cung cấp các điều kiện vật chất kỹ thuật và các dịch vụ cần thiết liên
8
quan tới vận chuyển hàng hoá và hành khách. Cảng hàng không có các khu
vực làm hàng xuất, hàng nhập và hàng chuyển tải;
Máy bay là công cụ chuyên chở của vận tải hàng không. Máy bay có
nhiều loại. Loại chuyên chở hành khách cũng có thể nhận chuyên chở hàng
dưới boong. Loại chuyên chở hàng và loại chở kết hợp cả khách cả hàng;
Trang thiết bị xếp dỡ và làm hàng ở cảng hàng không cũng đa dạng và
phong phú. Có các trang thiết bị xếp dỡ và vận chuyển hàng hoá trong sân bay.
Có trang thiết bị xếp dỡ hàng hoá theo đơn vị. Ngoài ra còn có các trang thiết bị
riêng lẻ như pallet máy bay, container máy bay, container đa phương thức
Vận tải hàng không nói chung và vận tải hàng hóa bằng đường hàng
không cung cấp các dịch vụ tiêu chuẩn hơn hẳn so với các phương thức vận
tải khác. Có thể nói đây là một dịch vụ vận chuyển cao cấp nhất trong các loại
hình dịch vụ vận chuyển hàng hóa, điều này có được là những đặc điểm kỹ
thuật, tốc độ, thời gian của loại hình vận tải này.
Vận tải hàng hóa bằng đường hàng không đơn giản hoá về chứng từ thủ
là trên những tuyến đường ngắn, ngõ ngách
Cước vận tải hàng không cao.
Vận tải hàng không không phù hợp với vận chuyển hàng hoá kồng kềnh,
hàng hoá có khối lượng lớn hoặc có giá trị thấp.
Chi phí đầu tư xây dựng cơ bản, trong vận tải hàng không bắt buộc phải
có cảng hàng không. Đó là tổ hợp công trình rất phức tạp và đồ sộ đòi hỏi đầu
tư xây dựng rất lớn cả về vốn và thời gian. Ngoài ra còn phải kể đến chi phí
chế tạo hoặc mua sắm máy bay cùng các trang thiết bị hiện đại, tham gia hoà
nhập vào hệ thống kiểm soát không lưu, hệ thống đặt chỗ, hàng hoá.
1.1.2. Vai trò của vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không
Vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không giúp thực hiện các hợp
10
đồng buôn bán thực hiện nhanh chóng hơn. Đặc biệt đối với những nước chủ
yếu xuất khẩu các mặt hàng thuỷ sản, các mặt hàng tươi sống đòi hỏi thời
gian vận chuyển nhanh như nước ta thì hàng không có vai trò rất quan trọng
trong việc phát triển buôn bán với nước ngoài. Ngày nay hàng không ở các
nước phát triển trở thành một phương tiện vận chuyển không thể thiếu được
không chỉ trong lĩnh vực chuyên chở hành khách mà trong cả chuyên chở
hàng hoá giữa các vùng trong một nước. Sự phát triển của vận tải hàng không
đã mở đường cho thương mại các nước nói riêng và thương mại trên toàn thế
giới nói chung được thuận tiện và tránh được nhiều rủi ro hơn.
Vận tải hàng không có vị trí số một đối với vận tải quốc tế những mặt
hàng mau hỏng, dễ thối, súc vật sống, thư từ, chứng từ, hàng nhậy cảm với
thời gian, hàng cứu trợ khẩn cấp, hàng có giá trị cao Những mặt hàng đòi hỏi
giao ngay do tốc độ máy bay gấp hàng chục lần tốc độ của các phương tiện
vận tải khác. Thông qua vận tải hàng không mà các hợp đồng buôn bán các
loại hàng hoá trong lĩnh vực này phát triển mạnh
Mặt khác vận tải hàng không còn là một mắt xích quan trọng để liên kết
các phương thức vận tải, tạo ra khả năng kết hợp các phương thức vận tải với
nhau như: vận tải hàng không/ vận tải biển, vận tải hàng không/vận tải ô
ngày 18/9/1961, nên gọi tắt là Công ước Guadalazala 1961;
Hiệp định liên quan tới giới hạn của Công ước Wasaw và nghị định thư
Hague. Hiệp định này được thông qua tại Montreal 13/5/1966, nên gọi tắt là
Hiệp định Montreal 1966;
Nghị định thư sửa đổi Công ước Wasaw 12/10/1929 được sửa đổi bởi
nghị định thư Hague 28/9/1995. Nghị định này ký tại thành phố Guatemala
8/3/1971, nên gọi tắt là Nghị định thư Guatemala 1971;
Nghị định thư bổ sung số 1là nghị định thư sửa đổi công ước Wasaw
12
1929. Nghị định thư này được ký kết tại Montreal ngày 25 tháng 9 năm 1975
nên gọi tắt là Nghị định thư Montreal 1975 số 1;
Nghị định thư bổ sung số 2 là nghị định thư sửa đổi công ước Wasaw
1929 đã được sửa đổi bằng Nghị định thư Hague 1955. Nghị định thư này
được ký kết tại Montreal ngày 25/9/1975, nên gọi tắt là Nghị định thư
Montreal 1975, bản số 2;
Nghị định thư bổ sung số 3 là nghị định thư sửa đổi công ước Wasaw
12/10/1929 đã được sửa đổi bởi các nghị định thư tại Hague ngày 28/9/1955 và
tại thành phố Guatemala ngày 8/3/1971. Nghị định thư này được ký kết tại
Montreal 25/9/1975, nên gọi tắt là Nghị định thư Montreal năm 1975, bản số 3;
Nghị định thư bổ sung số 4 là nghị định thư sủa đổi Công ức Wasaw
ngày 12/10/1929 đã được sửa đổi bởi nghị định thư Hague ngày 28/9/1955.
Nghị định thư này ký kết tại Montreal, nên gọi tắt là Nghị định thư Montreal
năm 1975, bản số 4;
Các công ước, hiệp định, nghị định thư chủ yếu sửa đổi bổ sung giới
hạn trách nhiệm bồi thường của người chuyên chở hàng không đối với tai nạn
về hành khách, thiệt hại về hàng hoá, hành lý và thời hạn thông báo tổn thất,
khiếu nại người chuyên chở
1.1.3.2. Trách nhiệm của người chuyên trở hàng hóa bằng đường hàng không
Khi nói tới trách nhiệm của người chuyên chở hàng không, Công ước
Wasaw1929 đề cập tới 3 nội dung: thời hạn trách nhiệm, cơ sở trách nhiệm,
chịu trách nhiệm bồi thường trong hai trường hợp sau: hàng hoá bị mất mát
hư hại và hàng hoá bị giao chậm trong thời hạn trách nhiệm của người chuyên
chở. Nhưng, theo công ước thì người chuyên chở được hưởng miễn trách
nhiệm không phải bồi thường khi tổn thất của hàng hoá là do lỗi trong việc
hoa tiêu, chỉ huy vận hành máy bay hoặc trong trường hợp người chuyên chở
14
hay người thay mặt họ cố gắng hết sức trong khả năng có thể nhưng tổn thất
về hàng hoá vẫn xảy ra.
Giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở hàng không
Giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở là điều khoản quy định số
tiền lớn nhất mà người chuyên chở phải bồi thường cho một đơn vị hàng hoá
trong trường hợp tính chất và trị giá không được kê khai trên vận đơn hàng
không. Theo công ước Wasaw 1929, trách nhiệm của người chuyên chở được
giới hạn ở một khoản 250 Franc/kg trừ phi người gửi hàng đã có tờ kê khai
đặc biệt trị giá ở nơi giao hàng, vào lúc hàng hoá được giao cho người chuyên
chở và một khoản phí bổ sung nếu người chuyên chở yêu cầu. Trong trường
hợp trị giá hàng hoá đã được kê khai trên vận đơn thì giới hạn trách nhiệm
của người chuyên chở là trị giá kê khai trên vận đơn. Nếu trị giá hàng hoá mà
người gửi hàng kê khai trên vận đơn lớn hơn giá trị thực tế của hàng hoá lúc
giao hàng thì người chuyên chở chỉ phải bồi thường tới giá trị của hàng hoá
lúc giao hàng nếu họ chứng minh được như vậy. Ðồng Franc nói ở đây là
đồng Franc Pháp có hàm lượng vàng là 65,5 mg vàng, độ tinh khiết 900/1000.
Khoản tiền này có thể đổi ra bất kỳ đồng tiền quốc gia nào theo số tròn.
Trong trường hợp người chuyên chở cố ý gây tổn thất cho hàng hóa thì
họ không được hưởng giới hạn trách nhiệm nói trên.
1.1.4. Các tổ chức vận tải hàng hóa bằng đường hàng không trên thế giới
Hoạt động vận tải hàng không nói chung và vận tải hàng hóa bằng
đường hàng không nói riêng là một hoạt động phức tạp, liên quan đến nhiều
lĩnh vực, nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới, nên để thống nhất điều
chỉnh quan hệ của các bên trong lĩnh vực này cũng như việc thống nhất các
những hội viên chính thức của IATA là những hãng hàng không tham gia hoạt
16
động quốc tế, còn những hãng khác của nước hội viên mà hoạt động giới hạn
kinh doanh nội địa thì đóng vai trò là cộng tác viên của IATA.
Mục đích của IATA là đẩy mạnh việc vận chuyển hàng không an toàn,
thường xuyên và vì lợi ích kinh tế của nhân dân thế giới, khuyến khích phát
triển thương mại bằng đường hàng không và nghiên cứu những vấn đề có liên
quan đến vận chuyển hàng không. Cung cấp những phương tiện để phối hợp
hành động giữa các vụ vận tải hàng không quốc tế hợp tác với ICAO và các tổ
chức khác. Ngoài ra IATA còn nghiên cứu để thống nhất các quy định luật lệ
quốc tế về hàng không, nghiên cứu tập quán hàng không.
Hoạt động của IATA bao gồm tất cả các vấn đề liên quan đến các lĩnh
vực kỹ thuật, pháp lý, tài chính của vận tải hàng không nhưng quan trọng nhất
vẫn là sự điều chỉnh cơ cấu giá cước và giá vé của các tổ chức hội viên.
IATA có hai trụ sở chính ở Montreal – Canada để giải quyết các vấn đề ở
Châu Mỹ và ở Geneva - Thụy Sĩ để giải quyết các vấn đề ở Châu Âu, Trung
Đông và Châu Phi. Có một văn phòng khu vực ở Singapore kiểm soát các
hoạt động ở Châu Á và Thái Bình Dương.
Liên đoàn các hiệp hội giao nhận quốc tế (Fédération Internationale des
associations de transitaires et assmilés) Liên đoàn các hiệp hội giao nhận quốc
tế - FIATA được thành lập năm 1926, bao gồm các hội viên chính thức là
những hiệp hội quốc gia những người giao nhận và các hội viên công tác là
những hãng giao nhận cá thể trên thế giới. Tên viết tắt của FIATA bắt nguồn
từ tên tiếng Pháp: Fédération Internationale des associations de transitaires et
assmilés.
Đây là một tổ chức phi chính trị tự nguyện, đại diện cho 35000 người
giao nhận ở trên 130 nước. Các cơ quan của Liên hiệp quốc tế như Hội đồng
kinh tế xã hội Liên hiệp Quốc (ECOSOC), Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về
thương mại và phát triển (UNCTAD), Ủy ban kinh tế Châu Âu ECE và Ủy
ban kinh tế và xã hội Châu á - Thái Bình Dương (ESCAP) đã công nhân địa
bản như sau:
Nhà nước tạo môi trường và điều kiện để các hoạt động vận tải hàng hóa
nói chung và vận tải hàng hóa bằng đường hàng không hoạt động. Trong nền
kinh tế thị trường, bất kỳ một hoạt động kinh tế nào cũng cần phải được tạo lập
môi trường và điều kiện để hoạt động, nhất là đối với hoạt động vận tải hàng
không là một ngành kinh tế- kỹ thuật đặc thù. Để hoạt động vận tải hàng không
nói chung vận hành được thì cần đảm bảo rất nhiều các yếu tố khác nhau.
Trước hết, đó là môi trường pháp lý. Đây là một điều kiện bắt buộc đối
với bất kỳ một hoạt động kinh tế nào. Đặc biệt, vận tải hàng không không
phải là hoạt động kinh tế diễn ra trong biên giới quốc gia mà vận tải hàng hóa
bằng đường hàng không trở thành một ngành kinh tế có tính quốc tế hóa cao
khi các chuyến bay chuyên chở hàng hóa vượt ra ngoài biên giới quốc gia và
chịu sự điều tiết, kiểm soát của nhiều cơ quan quản lý, nhiều quốc gia có liên
quan. Với tính quốc tế hóa cao như vậy, thì Nhà nước sẽ có đảm nhận vai trò
là người thiết lập hành lang pháp lý cho mọi hoạt động của hoạt động vận tải
hàng không. Với tư cách là chủ thể quốc gia, Nhà nước sẽ ký kết và tham gia
vào các quy định, Nghị định thư, Hiệp ước về vận tải hàng không giữa các
quốc gia trên thế giới để đảm bảo các hãng hàng không của nước mình có đầy
đủ điều kiện tham gia vận chuyển hàng hóa quốc tế. Nhà nước với tư cách là
chủ thể quản lý của mọi hoạt động và quá trình kinh tế - xã hội còn thể hiện
vai trò của mình trong việc xây dựng và ban hành hệ thống các văn bản quy
phạm pháp luật về vận tải hàng không, vận tải hàng hóa và vận tải hàng hóa
bằng đường hàng không để tạo cơ sở pháp lý trong hoạt động quản lý nhà
nước về vận tải hàng hóa bằng đường hàng không.
Thứ hai, Nhà nước tạo điều kiện để các hoạt động vận tải hàng không
hoạt động, như phân tích ở trên để vận tải hàng không hoạt động được thì đòi
19
hỏi một hệ thống cơ sở hạ tầng tích hợp với rất nhiều yếu tố đòi hỏi kỹ thuật
cao và vốn đầu tư lớn. Đó chính là hệ thống các sân bay, nhà ga, hệ thống
trang thiết bị dẫn đường, các cơ sở sửa chữa bảo dưỡng phương tiện bay…