LUẬN văn THẠC sĩ xây DỰNG ĐẢNG bồi DƯỠNG KIỄN THỨC PHÁP LUẬT của cán bộ NGÀNH THANH TRA TỈNH bạc LIÊU HIỆN NAY - Pdf 40

MỤC LỤC


MỞ ĐẦU

4

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN BỒI
DƯỠNG KIẾN THỨC PHÁP LUẬT CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGÀNH
THANH TRA TỈNH BẠC LIÊU

18

1.1. Đội ngũ cán bộ ngành Thanh tra và những vấn đề cơ bản về bồi dưỡng
kiến thức pháp luật của đội ngũ cán bộ ngành Thanh tra tỉnh Bạc Liêu

18

1.2. Thực trạng và một số kinh nghiệm tăng cường bồi dưỡng kiến thức pháp
luật của đội ngũ cán bộ ngành Thanh tra tỉnh Bạc Liêu

43

Chương 2: YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BỒI
DƯỠNG KIẾN THỨC PHÁP LUẬT CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGÀNH
THANH TRA TỈNH BẠC LIÊU HIỆN NAY

63

2.1. Những yếu tố tác động và yêu cầu tăng cường bồi dưỡng kiến thức pháp
luật của đội ngũ cán bộ ngành Thanh tra tỉnh Bạc Liêu hiện nay

tế - xã hội qua đó phát hiện và xử lý ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, thu hồi cho
Nhà nước hàng ngàn tỷ đồng góp phần ổn định tình hình tranh chấp đất đai, khiếu
nại bồi thường giải tỏa khi Nhà nước thu hồi đất để phục vụ phát triển kinh tế - xã
hội, xử lý hành chính, kỷ luật và hình sự nhiều cán bộ, công chức, viên chức sai
phạm tham nhũng, lãng phí; kiến nghị với Đảng, Nhà nước nhiều giải pháp để từng
bước hoàn chỉnh cơ chế quản lý kinh tế - xã hội của đất nước ta.
Trong những năm qua, công tác bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ
cán bộ, công chức và tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho nhân dân của tỉnh Bạc
Liêu đã có nhiều chuyển biến tích cực; bằng nhiều hình thức đa dạng và phong
phú, đã liên tục tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật cho mọi tầng lớp nhân
dân nói chung và bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ ngành Thanh
tra tỉnh Bạc Liêu nói riêng và đã phối kết hợp với các tổ chức, đoàn thể và các cơ
quan thông tấn, báo chí cũng như kinh nghiệm của các nước khác để từng bước
đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả của công tác này.
Tuy nhiên, việc bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công
chức nói chung, cho ngành Thanh tra tỉnh Bạc Liêu nói riêng vẫn còn tồn tại không
ít những hạn chế, bất cập. Nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục, bồi dưỡng
kiến thức pháp luật có lúc còn đơn điệu, thiếu hấp dẫn, hiệu quả và chậm đổi mới;
một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa thực sự hình thành thói quen bền
2


vững sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật… Trong khi đó, trước sự tác
động của tình hình thế giới, khu vực; mặt trái của cơ chế thị trường, hội nhập quốc
tế; tình hình tệ nạn xã hội, tội phạm diễn biến rất phức tạp ảnh hướng đến sự ổn
định chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu.
Trong thời gian tới để cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng về công
tác bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức; cụ thể hóa trách
nhiệm của các cơ quan nhà nước và các tổ chức, đoàn thể chính trị xã hội cũng như
của nhân dân trong công tác này, Nhà nước đang khẩn trương tiến hành xây dựng

việc nghiên cứu và vận dụng sáng tạo phong cách Hồ Chí Minh trong công tác xây
dựng Đảng hiện nay.
Thang Văn Phúc (chủ biên), “Đạo đức, phong cách, lề lối làm việc của cán
bộ, công chức theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1998. Gồm các bài tham luận tại hội thảo 50 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác
phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Các tác giả đã làm rõ về tiêu chuẩn, nội dung của đạo
đức, phong cách, lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh;
xác định yêu cầu và sự vận dụng tư tưởng của Người trong học tập, rèn luyện đạo
đức, phong cách, lề lối làm việc của cán bộ, công chức hiện nay.
Giáo sư Phạm Minh Hạc (năm 2001) trong cuốn, “Nghiên cứu con người và
nguồn năng lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa” tập trung vào chủ đề con
người và nguồn nhân lực ở nước ta đi vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Trong đó đã đề cập đến phong cách và tác phong của người lãnh đạo, quản
lý và đưa ra những kiểu mẫu về tác phong trong thời kỳ đổi mới.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng và Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Xuân
Sầm đồng chủ biên, “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2001. Các tác giả đã đi sâu phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về mẫu
hình người cán bộ lãnh đạo, những yêu cầu mới và các giải pháp mang tính tổng quát
nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý chủ chốt của cơ sở trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tiến sĩ Thang Văn Phúc và Tiến sĩ Nguyễn Minh Phương,“Xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do
dân, vì dân”, 2004. Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác 4


Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò người cán bộ
cũng như yêu cầu đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, những bài học kinh
nghiệm về tuyển chọn và sử dụng nhân tài trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân
tộc ta, cũng như những kinh nghiệm xây dựng nền công vụ chính quy, hiện đại của các

nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của trường Chính trị tỉnh nhằm góp
phần tích cực cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán
bộ cấp cơ sở, đáp ứng tình hình nhiệm vụ xây dựng và phát triển toàn diện tỉnh nhà
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế.
- Dương Thế Bằng, “Xây dựng môi trường văn hóa pháp luật của đơn vị học
viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội ở Học viện Chính trị quân sự hiện
nay”, luận văn Thạc sĩ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị quân sự, 2006. Sau
khi đi sâu luận giải môi trường văn hóa pháp luật, thực trạng và kinh nghiệm xây
dựng môi trường văn hóa pháp luật của đơn vị học viên đào tạo cán bộ chính trị
cấp phân đội ở Học viện Chính trị quân sự, tác giả đã đề xuất các giải pháp cơ bản
để xây dựng môi trường văn hóa pháp luật ở đơn vị học viên đào tạo cán bộ chính
trị cấp phân đội, Học viện Chính trị quân sự hiện nay là: Nâng cao nhận thức cho
các tổ chức, các lực lượng về xây dựng môi trường văn hoá pháp luật của đơn vị
học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội ở Học viện Chính trị quân sự; xây
dựng đồng bộ các thành tố và phát huy tác dụng của môi trường văn hoá pháp luật
ở đơn vị học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội; duy trì nghiêm việc thực
hiện pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội, các chế độ quy định của
đơn vị; tích cực đấu tranh ngăn chặn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật
Nhà nước, điều lệnh, kỷ luật quân đội; duy trì nghiêm việc thực hiện pháp luật Nhà
nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội, các chế độ quy định của đơn vị; tích cực đấu
tranh ngăn chặn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật Nhà nước, điều lệnh, kỷ
luật quân đội.
- Đinh Thế nghiệp, Phó Trưởng phòng tổng hợp Thanh tra Chính phủ, Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước “ Đổi mới phương pháp giảng dạy trong đào
tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra”, năm 2005 - 2006. Tác giả nghiên cứu
phương pháp giảng dạy đào tạo, bồi dưỡng trang bị kiến thức pháp luật cho đội
ngũ cán bộ ngành Thanh tra cả nước, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới trong việc
phát triển kinh tế - xã hội, hội nhấp kinh tế quốc tế. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức ngành Thanh tra và đào tạo, bồi dưỡng cho họ những kiến thức pháp
6

khác.
7


- Tiến sĩ, Ngô Mạnh Toan, Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ Thanh tra, Đề
tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước “ Đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng
nghiệp vụ thanh tra của Trường cán bộ Thanh tra đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng
nghiệp vụ”, năm 2007 - 2008. Tác giả nghiên cứu đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ
Thanh tra viên, Thanh tra viên chính, Thanh tra cao cấp thời gian quan nhằm đáp
ứng kinh tế hội nhập quốc tế, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ đó
tác giả khái quát được thực trạng trong việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật
cho đội ngũ cán bộ Thanh tra viên, Thanh tra viên chính, Thanh tra cao cấp cho
ngành Thanh tra đã qua, đồng thời tác giả đưa ra phương pháp đào tạo, bồi dưỡng
và giải pháp đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ này của
ngành Thanh tra có những kiến thức đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường,
hội nhập quốc tế và Khu vực.
- Vũ Văn Thường, “Bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên đào tạo sĩ
quan ở các nhà trường quân đội trong giai đoạn hiện nay”, luận án Tiến sĩ Chính trị
học, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội, 2009. Tác giả đi sâu làm rõ văn hóa pháp
luật của học viên đào tạo sĩ quan, quan niệm, vai trò bồi dưỡng văn hóa pháp luật,
thực trạng và một số kinh nghiệm bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên đào tạo
sĩ quan ở các nhà trường trong quân đội, tác giả đã đề xuất các giải pháp cơ bản bồi
dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên đào tạo sĩ quan ở các nhà trường trong quân
đội hiện nay là: Nâng cao nhận thức, phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức,
các lực lượng trong bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên; đổi mới, hoàn thiện
nội dung, chương trình giáo dục đào tạo, tổ chức tốt các hình thức, phương pháp bồi
dưỡng kiến thức cơ bản, hệ thống về pháp luật cho học viên; quản lý chặt chẽ, duy
trì nghiêm kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước, kịp thời đấu tranh ngăn chặn những
hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật; phát huy tính tích cực chủ động của học viên
đào tạo sĩ quan trong tự giáo dục rèn luyện bồi dưỡng văn hóa pháp luật; xây dựng

Hai tác giả đã có đóng góp lớn trong nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề cơ
bản về giáo dục pháp luật, đó là: Đã phân tích làm rõ bản chất của quá trình giáo
dục pháp luật; mối quan hệ giữa giáo dục pháp luật với giáo dục chính trị tư tưởng,
giáo dục đạo đức và các dạng giáo dục khác; mục đích, vai trò, chủ thể, nội dung,
hình thức, phương tiện, phương pháp, hiệu quả của giáo dục pháp luật.

9


Theo hai tác giả bản chất của quá trình giáo dục pháp luật là hoạt động có tổ
chức, có định hướng của các chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục
nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với
đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành. Mục đích của giáo dục pháp luật là hình
thành, làm sâu sắc và từng bước mở rộng hệ thống tri thức pháp luật cho công dân;
hình thành lòng tin pháp luật; hình thành động cơ và hành vi tích cực pháp luật cho
công dân. Về hình thức giáo dục pháp luật, hai tác giả đã đề cập 05 hình thức chủ
yếu là: Phổ biến, nói chuyện pháp luật; các câu lạc bộ, các đội thông tin, tuyên
truyền cổ động, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật; tuyên truyền qua báo chí, phương tiện
thông tin đại chúng; giáo dục qua các hình thức văn học, nghệ thuật; dạy và học trong
các nhà trường. Về hiệu quả giáo dục pháp luật, theo hai tác giả được biểu hiện ở tri
thức trạng thái tình cảm pháp luật, động cơ và hành vi tích cực pháp luật của đối tượng
sau quá trình giáo dục; phí tổn vật chất, thời gian, tinh thần trong giáo dục pháp luật.
- Tổng cục Chính trị, “Đổi mới công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong
Quân đội Nhân dân Việt Nam hiện nay”, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2000.
Công trình đã luận giải làm rõ khái niệm, vai trò, mục đích, nhiệm vụ của phổ biến,
giáo dục pháp luật. Phân tích, luận giải về các thành tố của phổ biến giáo dục pháp luật và
làm rõ đặc điểm của phổ biến, giáo dục pháp luật trong quân đội. Các tác giả đi sâu đánh
giá thực trạng của công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong quân đội những năm qua, chỉ
rõ những ưu, khuyết điểm, nguyên nhân của nó và đưa ra những dự báo về nhiệm vụ phổ
biến giáo dục pháp luật trong quân đội trong thời gian sắp tới.

giáo dục pháp luật. Giáo dục pháp luật thông qua tủ sách pháp luật có những thuận
lợi và ưu thế riêng. Để nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật thông qua tủ sách
pháp luật, theo tác giả cần: Nhận thức đúng vai trò, nhiệm vụ của tủ sách pháp luật; xác
định rõ đối tượng phục vụ và nội dung của tủ sách pháp luật; quản lý, khai thác có hiệu
quả tủ sách pháp luật; thực hiện tốt việc luân chuyển, trao đổi sách giữa các đồn.
- Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Bộ Quốc phòng,
“Tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2010” (lưu hành nội bộ), Hà Nội,
2010. Tài liệu hướng dẫn những nội dung chủ yếu của Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của bộ Luật Hình sự; chuyên đề: Quán triệt và thực hiện pháp luật về
phòng, chống ma túy trong quân đội; nội dung cơ bản Luật Trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước; nội dung cơ bản Luật Cán bộ công chức; nội dung cơ bản
11


Luật Dân quân tự vệ. Nhằm cung cấp những nội dung kiến thức cơ bản, thiết thực
giúp cho việc phổ biến, giáo dục pháp luật của các cấp.
- Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Bộ Quốc phòng, “Tài
liệu phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2011” (lưu hành nội bộ), Hà Nội, 2011. Tài liệu
gồm 3 chuyên đề chính: Những nội dung cơ bản của Luật Thi hành án hình sự; phòng
chống tội phạm về kinh tế trong Quân đội hiện nay; phòng chống vi phạm, tội phạm xâm
phạm chế độ quản lý vũ khí, trang bị, vật liệu nổ trong Quân đội và 01 chuyên đề bổ trợ:
Những nội dung chủ yếu của pháp luật hiện hành về bảo hiểm y tế. Đây là tài liệu phổ
biến, giáo dục pháp luật theo chuyên đề quy định nhằm cung cấp những nội dung kiến
thức cơ bản, thiết thực giúp cho việc phổ biến, giáo dục pháp luật ở các cấp.
* Những công trình nghiên cứu liên quan đến xây dựng, phát triển ý
thức, kiến thức pháp luật của cán bộ, nhân dân liên quan trực tiếp đến đề tài
luận văn.
- Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Trí Úc (Chủ nhiệm), “Xây dựng ý thức và lối
sống theo pháp luật”, Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX 07 - 17, 1995. Nguyễn
Đình Lộc, “Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa và vấn đề giáo dục pháp luật cho

- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm tăng
cường bồi dưỡng kiến thức pháp luật của đội ngũ cán bộ ngành Thanh tra tỉnh Bạc Liêu.
- Đề xuất yêu cầu và những giải pháp tăng cường bồi dưỡng kiến thức pháp
luật của đội ngũ cán bộ ngành Thanh tra tỉnh Bạc Liêu hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu: Bồi dưỡng kiến thức pháp luật của đội ngũ cán bộ
ngành Thanh tra tỉnh Bạc Liêu là đối tượng nghiên cứu của luận văn.
* Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu bồi dưỡng kiến thức pháp
luật của đội ngũ cán bộ ngành Thanh tra tỉnh Bạc Liêu hiện nay. Tiến hành nghiên
cứu, khảo sát công tác bồi dưỡng kiến thức pháp luật chủ yếu cho cán bộ ngành Thanh tra
của tỉnh Bạc Liêu. Các tư liệu, số liệu phục vụ nghiên cứu đề tài giới hạn từ năm 2010 đến
nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Cơ sở lý luận:

13


Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận, quan điểm của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với hệ thống các quan điểm, đường lối, chủ trương
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các chỉ thị, nghị quyết, quyết định,
quy chế của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, của Bộ Chính trị; các hướng dẫn của
các Bộ, ngành Trung ương về công tác bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ
cán bộ, công chức và tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho các tổ chức chính trị - xã
hội, cho cả hệ thống chính trị và cho mọi tầng lớp nhân dân; công tác xây dựng
Đảng và xây dựng bồi dưỡng kiến thức pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức.
* Cơ sở thực tiễn:
Cơ sở thực tiễn của đề tài là toàn bộ hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai
tổ chức thực hiện bồi dưỡng kiến thức pháp luật của đội ngũ cán bộ ngành Thanh
tra tỉnh Bạc Liêu. Dựa vào kết quả điều tra, khảo sát thực tế việc bồi dưỡng kiến
thức pháp luật của lãnh đạo Ủy ban nhân dân các cấp, lãnh đạo các sở, ngành cho

* Khái quát về tỉnh Bạc Liêu và ngành Thanh tra tỉnh Bạc Liêu.
Tỉnh Bạc Liêu tái lập lần thứ hai vào ngày 01/01/1997, được tách ra từ tỉnh
Minh Hải. Là một tỉnh thuộc bán đảo Cà Mau - miền đất cực Nam của Tổ quốc.
Lúc mới tách tỉnh, có 03 huyện là Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai và 01 thị xã Bạc
Liêu (nay là thành phố Bạc Liêu), có tổng diện tích tự nhiên 2.570 km2. Đến nay,
có thêm 03 huyện tách từ 03 huyện cũ là Phước Long (tách ra từ huyện Hồng Dân,
năm 2000), Đông Hải (tách ra từ huyện Giá Rai, năm 2002), Hoà Bình (tách ra từ
huyện Vĩnh Lợi, năm 2005) và 01 thành phố Bạc Liêu. Trung tâm hành chính của
tỉnh là thành phố Bạc Liêu, theo hướng quốc lộ 1A, cách thành phố Hồ Chí Minh
280 km, cách thành phố Cần Thơ 110 km về phía Bắc; cách thành phố Cà Mau,
cũng trên quốc lộ 1A, 67 km về phía Nam. Tổng dân số: 881.118 người (theo số
liệu niên giám thống kê của Cục Thống kê tỉnh Bạc Liêu, Nhà xuất bản Thống kê
năm 2013), trong đó 438.356 nam, 442.762 nữ. Dân số tập trung ở thành thị là
240.368 người, nông thôn 640.750 người. Các dân tộc cùng sinh sống: Kinh:
757.762 người, Khmer: 78.243 người, Hoa: 42.666 người, còn lại 2.447 người là
dân tộc khác. Dân tộc Khmer sống tập trung ở các huyện Hoà Bình, Vĩnh Lợi,
Hồng Dân, Giá Rai và thành phố Bạc Liêu. Người Hoa sống tập trung chủ yếu ở
thành phố Bạc Liêu.
Thế mạnh du lịch của Bạc Liêu là du lịch sinh thái, du lịch biển với những
cảnh quan thiên nhiên độc đáo như vườn chim Bạc Liêu cách thành phố Bạc Liêu
khoảng 3 km, vườn nhãn phường Nhà Mát, xã Vĩnh Trạch Đông thuộc thành phố
Bạc Liêu…, với những di tích lịch sử - văn hoá như: Tháp cổ Vĩnh Hưng, huyện
Vĩnh Lợi; đồng Nọc Nạng, huyện Giá Rai; đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Châu
Thới, huyện Vĩnh Lợi; nhà lưu niệm cố Nhạc sĩ Cao Văn Lầu ở thành phố Bạc
Liêu; khu căn cứ Tỉnh ủy Cái Chanh huyện Hồng Dân; các đình, chùa… Sự hấp
dẫn của du lịch Bạc Liêu còn ở những nét độc đáo trong ẩm thực, trang phục, lễ
hội của các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer... Đặc biệt là khu du lịch tâm linh Phật Bà
Nam Hải, phường Nhà Mát, thành phố Bạc Liêu, hàng năm lượng khách đến viếng
16


năm có từ 3.500 đến 4.000 học sinh tốt nghiệp cấp III ra trường; đặc biệt có trường
17


Đại học Bạc Liêu và 6 trường Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp hàng năm có
từ 300 đến 400 sinh viên tốt nghiệp ra trường, góp phần đào tạo nguồn nhân lực
cho tỉnh Bạc Liêu trong việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian
trước mắt cũng như lâu dài; sóng phát thanh, truyền hình được phủ khắp. Theo
điều tra năm 2010, tổng số xã thuộc diện nghèo ở Bạc Liêu giảm đáng kể năm
2010 là 21 xã, đến nay xã nghèo chỉ còn 12 xã trong đó thành phố Bạc Liêu 0;
huyện Phước Long 2; huyện Hồng Dân 4; huyện Hòa Bình 2; Vĩnh Lợi 2; huyện
Giá Rai 2; huyện Đông Hải 2. Đáng chú ý hơn cả là sự phát triển trong nhận thức
của các tầng lớp nhân dân Bạc Liêu. Đồng bào đã biết coi trọng việc học tập của con
cái, tích cực góp công, góp của xây dựng làng quê ngày càng giàu đẹp, có ý thức trong
việc bảo vệ tài nguyên môi trường ở địa phương…, trình độ dân trí ngày càng được
nâng lên.
Cấp xã là cấp hành chính thấp nhất. Các tổ chức trong hệ thống chính trị cấp
xã gồm: Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các
tổ chức chính trị - xã hội tỉnh Bạc Liêu. Hệ thống chính trị cấp xã có hai đặc trưng
nổi bật: Nơi gần dân nhất và là nơi tổ chức thực hiện tất cả các nghị quyết, chỉ thị
của các tổ chức đảng cấp trên; các chính sách, pháp luật của Nhà nước; các chương
trình, kế hoạch của chính quyền và các chủ trương của các đoàn thể cấp trên, cũng
là nơi thường xảy ra các vụ tranh chấp, khiếu nại về quyền và nghĩa vụ liên quan
đến đất đai, tài sản, bồi thường giải tỏa mặt bằng, các mối quan hệ dân sự khác,
đây cũng là một vấn đề có tính chất phức tạp của nhiều địa phương trên cả nước...
đồng thời xây dựng và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chương trình công tác của
cấp mình.
Bạc Liêu là nơi diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, xã hội, chính trị phong phú,
cần có sự quan tâm, giúp đỡ, điều chỉnh của các cấp chính quyền và các đảng bộ
cơ sở, để các hoạt động đó diễn ra theo hướng tích cực. Đảng bộ, chi bộ cơ sở xã là

kiện. Các đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân chậm được giải quyết; các vi
phạm trong quản lý, đầu tư xây dựng cơ bản chậm được phát hiện, khắc phục; tài
sản của Nhà nước, của nhân dân bị thất thoát số lượng đáng kể, chưa được ngăn
chặn kịp thời và có hiệu quả.
Tỉnh Bạc Liêu hiện có 6 huyện, 01 thành phố đều thành lập tổ chức Thanh
tra trực thuộc Ủy ban nhân dân huyện, thành phố; 17 sở, ngành trực thuộc Ủy ban
nhân dân tỉnh có tổ chức Thanh tra trực thuộc Sở, ngành; có 64 đảng bộ xã,
19


phường, thị trấn đều có thành lập Ban Thanh tra nhân dân, do Chủ tịch Ủy ban
nhân dân xã lãnh đạo; Tổ chức Thanh tra các cấp có vị trí, vai trò đặc biệt quan
trọng đối với năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ở cơ sở và các cấp các
ngành địa phương. Các tổ chức Thanh tra này, nhất là Thanh tra huyện, thành phố
là nơi trực tiếp tiến hành các cuộc thanh tra, kiểm tra xây dựng nội bộ Đảng; nơi
cầu nối thể hiện sự gắn bó giữa Đảng và nhân dân; giữ nội bộ nhân dân với nhau
gắn bó mật thiết, đặc biệt tổ chức Thanh tra các cấp giúp Đảng bộ, chính quyền từ
địa phương đến cơ sở tham mưu trong công tác thanh tra; giải quyết khiếu nại, tố
cáo; phòng, chống tham nhũng ở địa phương.
Các tổ chức Thanh tra các cấp là đơn vị chiến đấu, đại diện cho nhân dân và
tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương định hướng giải quyết mọi vấn đề ở
cơ sở theo quan điểm, đường lối của Đảng, đặc biệt là các vấn hòa giải, hàn gắn
các tranh chấp dân sự trong nội bộ nông dân hoặc thanh tra đối với tổ chức, đơn vị
Nhà nước để phòng ngừa hành vi tham nhũng, lãng phí nhằm tránh thất thoát tiền
và tài sản của Nhà nước.
Vai trò của các tổ chức Thanh tra các cấp còn thể hiện ở chổ thanh tra, kiểm
tra việc quán triệt và vận dụng đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính
sách của Nhà nước và của cơ quan cấp trên cho phù hợp với đặc điểm của địa
phương; đề xuất sửa đổi chủ trương, phương hướng phù hợp với tình hình thực tế
giúp cho công tác của đảng bộ, chính quyền cơ sở phát triển đúng hướng. Trong

tuyển dụng sinh viên mới ra trường theo tiêu chuẩn Luật Công chức hoặc luân
chuyển từ cơ sở về tỉnh và ngược lại luân chuyển từ Thanh tra tỉnh về huyện. Họ
có những đặc điểm cơ bản sau:
Một là: Đội ngũ cán bộ ngành Thanh tra tỉnh Bạc Liêu được cơ cấu theo
hướng trẻ hóa nên có tuổi đời và thâm niên công tác tương đối đồng đều. Hầu hết
xuất thân từ tầng lớp lao động ở địa phương, gia đình có truyền thống cách mạng,
được trưởng thành và rèn luyện từ thực tiễn công tác chuyên môn của ngành, luân
chuyển từ huyện, thành phố và các ngành pháp luật từ cơ sở, ngành của tỉnh sang.
Thực tế nhiều năm qua Thanh tra sở, ngành chỉ đủ khả năng xem xét, giải quyết
những vụ việc khiếu nại, tố cáo; những vụ việc thanh tra vừa và nhỏ, còn các cuộc
thanh tra với phạm vi rộng thì chưa triển khai được. Do đó, thời gian tới ngành
21


Thanh tra tỉnh Bạc Liêu sẽ củng cố, tăng cường để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong
tình hình mới.
Đội ngũ cán bộ ngành Thanh tra tỉnh Bạc Liêu đảm nhiệm nhiều cương vị,
nhiệm vụ và phải giải quyết các mối quan hệ khác nhau nên cũng có nhiều kinh
nghiệm trong giao tiếp và giải quyết công việc. Tổng hợp kết quả thống kê, về tuổi
đời dưới 30 tuổi chiếm tỷ lệ 21%, từ 31 đến 40 tuổi chiếm tỷ lệ 42%, từ 41 đến 50
tuổi chiếm tỷ lệ là 19 %, tuổi đời trên 50 chiến 18% (phụ lục 1); về thâm niên công
tác trong ngành Thanh tra từ 01 đến 05 năm là 60 %; từ 06 đến 10 năm là 24%; từ
11 năm trở lên là 16% (Phụ lục 3). Hầu hết đội ngũ cán bộ ngành Thanh tra tỉnh
đều xuất thân từ các tầng lớp lao động ở địa phương, gia đình có truyền thống cách
mạng, được trưởng thành từ cơ sở chiếm 35%; được tuyển dụng sinh viên mới ra
trường theo tiêu chuẩn Luật Công chức chiếm 50% hoặc luân chuyển từ cơ sở về
Thanh tra tỉnh 15% (Phụ lục 3). Kết quả thống kê nêu trên cho thấy đây là đặc
điểm chung của đội ngũ cán bộ ngành Thanh tra tỉnh Bạc Liêu, đồng thời cũng là
điều kiện, là cơ sở để chủ thể và các lực lượng tham gia vào quá trình bồi dưỡng
thức pháp luật cho đội ngũ này lựa chọn nội dung, hình thức, biện pháp bồi dưỡng

ngành)... nên đã có nhiều kinh nghiệm trưởng thành từ cơ sở trong công tác lãnh
đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ và giải quyết các mối quan hệ, phối hợp trong
công tác; có phẩm chất, năng lực tốt, có lòng nhiệt tình và có trách nhiệm với công
việc, có uy tín với tập thể và nhân dân. Tuy nhiên, trước sự phát triển của tình hình
thực tiễn và yêu cầu ngày càng cao về phẩm chất, năng lực cán bộ trong giai đoạn
mới của cách mạng, cần phải tiếp tục bồi dưỡng nâng cao hơn nữa về bản lĩnh
chính trị, phương pháp, tác phong công tác để đội ngũ này hoàn thành chức trách,
nhiệm vụ ngày càng tốt hơn. Đặc biệt là bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ
này là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
Ba là: Đội ngũ cán bộ ngành Thanh tra tỉnh Bạc Liêu chủ yếu là người địa
phương nên chịu ảnh hưởng lớn bởi phong tục, tập quán, phong cách, lối sống của
cư dân vùng nông thôn miền Tây Nam bộ. Đội ngũ cán bộ ngành Thanh tra tỉnh
Bạc Liêu hầu hết xuất thân từ gia đình nông dân có truyền thống cần cù, sáng tạo,
thủy chung nhân ái, tình làng nghĩa xóm nên đa số họ có phong cách ứng xử rất tự
nhiên, mộc mạc, bình dị, rất cởi mở chân tình vừa hòa đồng, vừa gần gũi chia sẻ
với đồng nghiệp, với người thân và những người xung quanh, đặc biệt quan hệ tích
cực đối với nhân dân địa phương và cộng đồng; đó là một nét văn hóa riêng của
23


đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh Bạc Liêu, trong đó có đội ngũ cán bộ ngành
Thanh tra tỉnh... Cái riêng đó được thể hiện ở thái độ khiêm tốn, hòa nhã, là ưu
điểm nổi bật nhất của đội ngũ cán bộ ngành Thanh tra tỉnh vừa mang đậm nét quê
hương nhưng cũng thể hiện văn hóa Đảng của đội ngũ này.
Khiêm tốn thật sự là một phẩm chất văn hóa của đội ngũ cán bộ ngành
Thanh tra tỉnh Bạc Liêu, phẩm chất này có ý nghĩa quan trọng được thể hiện qua
thái độ cầu thị của đội ngũ cán bộ ngành Thanh tra tỉnh, đồng thời cũng chính là
văn hóa ứng xử hướng tới sự gần gũi tôn trọng giá trị văn hóa mang đậm bản sắc,
sắc thái quê hương. Đó cũng chính là thái độ khiêm nhường không tự đặt mình cao
hơn người khác để phủ nhận sự tâng bốc, nịnh bợ. Lối sống khiêm tốn, giản dị của

tỉnh tuy chưa từng đảm nhiệm cương vị lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước cấp
tỉnh, nhưng có một ít cán bộ đã trải qua các cương vị, nhiệm vụ ở cơ sở và từng là
Trưởng - Phó các ngành chuyên môn cấp huyện; Giám đốc - Phó Giám đốc các Sở,
ngành; Trưởng, Phó các ban Đảng nên có được những kinh nghiệm trong lãnh đạo,
tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quản lý đơn vị và kinh nghiệm trong thực tiễn nhất là
khả năng vượt qua những khó khăn trong thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị và
đáp ứng tốt công tác chuyên môn trong hòa giải các vụ việc tranh chấp đều được
giải quyết thấu tình đạt lý. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ ngành Thanh tra tỉnh này
khi được giao nhiệm vụ đều là những cán bộ có phẩm chất, năng lực, đào tạo cơ
bản, được rèn luyện và trưởng thành từ phong trào của thực tiễn. Qua khảo sát thực
tế cho thấy được trưởng thành từ cơ sở chiếm 27% (Phụ lục số 3). Đây chính là
điều kiện thuận lợi cho quá trình bồi dưỡng phong cách lãnh đạo cho đội ngũ này,
đồng thời cũng đặt ra những vấn đề mà chủ thể bồi dưỡng phải quan tâm như việc
khắc phục tư tưởng cục bộ địa phương, bảo thủ, thỏa mãn, tự bằng lòng với thành
tích đã có...; phát huy tính năng động, sáng tạo của người đứng đầu trong Đảng bộ
để chọn những nội dung, hình thức, phương pháp bồi dưỡng cho phù hợp với đối
tượng này.
Chức trách, nhiệm vụ ngành Thanh tra tỉnh Bạc Liêu.
Thanh tra tỉnh Bạc Liêu là cơ quan cấp sở thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu
có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về công tác thanh tra; tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham
nhũng; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng,
chống tham nhũng trong phạm vi quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân tỉnh. Thanh
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status