TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC PHÁP LUẬT DÀNH CHO GIÁO VIÊN DẠY GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG - Pdf 25

TÀI LIỆU
BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC PHÁP LUẬT
DÀNH CHO GIÁO VIÊN DẠY GIÁO DỤC
CÔNG DÂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Trách nhiệm của người sử dụng lao động 71
1.2. Những ưu đãi đối với lao động nữ 72
Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta nhằm giải
quyết vấn đề đói nghèo và phát triển kinh tế tại Việt Nam, thu hẹp khoảng
cách và trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn, giữa các dân tộc, nhóm dân
cư. Trong những năm qua, Ðảng và Nhà nước ta luôn coi xóa đói, giảm nghèo
là một nội dung hết sức quan trọng trong các chính sách xã hội. Mục tiêu của
phát triển kinh tế ở nước ta là xóa bỏ đói nghèo, nâng cao đời sống nhân dân
gắn với bảo đảm các quyền của con người, vì sự phát triển toàn diện của con
người. Thành tựu xóa đói giảm nghèo trong những năm qua đã góp phần tăng
trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống
con người 131
Nhà nước đã triển khai các chương trình xóa đói giảm nghèo, tập trung cho
các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo (Chương trình
mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010; Chương trình phát triển
kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi
giai đoạn I và giai đoạn II; Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền
vững đối với 62 huyện nghèo trong giai đoạn 2009 – 2020; trong số đó,
Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng
bào dân tộc và miền núi (còn gọi là Chương trình 135) với hai giai đoạn, giai
đoạn I từ 1997 - 2006, và giai đoạn II từ 2006 – 2010 đã đạt được nhiều thành
tựu và kết quả…) 131
Đặc biệt, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các bộ, ngành
liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày
19/5/2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm
2011 đến năm 2020 131
Chuyên đề 1

- Quyền tài sản phải thoả mãn hai điều kiện là trị giá được bằng tiền và có
thể chuyển giao trong giao lưu dân sự. Đây là những quyền gắn liền với tài sản
mà khi thực hiện các quyền đó chủ sở hữu sẽ có một tài sản. Ví dụ: Quyền đòi
nợ, quyền sở hữu công nghiệp
Khái niệm quyền sở hữu được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: Theo
nghĩa khách quan đó là toàn bộ các quy định của Nhà nước về vấn đề sở hữu.
Còn theo nghĩa chủ quan đó là toàn bộ những hành vi mà chủ sở hữu được pháp
luật cho phép thực hiện trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản theo
ý chí của mình.
Ở góc độ chung nhất, quyền sở hữu được hiểu là tổng hợp các quy phạm
pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tư liệu
sản xuất và tư liệu tiêu dùng và các tài sản khác trong xã hội.
2. Các căn cứ xác lập, chấm dứt quyền sở hữu
2.1. Căn cứ xác lập quyền sở hữu
3
Căn cứ xác lập quyền sở hữu là những sự kiện xảy ra trong đời sống
thực tế nhưng có ý nghĩa pháp lí do BLDS quy định mà thông qua đó làm phát
sinh quyền sở hữu của một hoặc nhiều chủ thể đối với tài sản nhất định. Các căn
cứ xác lập quyền sở hữu được quy định Điều 170 và cụ thể tại Mục 1 Chương
XIV BLDS. Theo đó, quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong các
trường hợp sau đây:
- Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp. Công dân
đã bằng sức lao động của mình tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh
hoặc quá trình lao động để tạo ra các sản phẩm, các thành quả lao động thì họ
hoàn toàn có quyền sở hữu đối với tài sản được tạo ra bằng chính lao động của
họ.
- Được chuyển quyền sở hữu theo thoả thuận hoặc theo quyết định của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thường thì việc chuyển quyền sở hữu theo
thỏa thuận được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa các bên. Việc thoả thuận

công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất
động sản, trừ trường hợp tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước (Điều 247).
- Các trường hợp khác do pháp luật quy định.
Như vậy, những tài sản nào không được xác lập dựa trên một trong các
căn cứ trên đây thì tài sản đó không được pháp luật thừa nhận quyền sở hữu của
cá nhân và người chiếm hữu tài sản đó không được pháp luật thừa nhận và bảo
đảm thực hiện quyền với tư cách là chủ sở hữu đối với tài sản.
2.2. Căn cứ chấm dứt quyền sở hữu
Căn cứ chấm dứt quyền sở hữu là những sự kiện xảy ra trong đời sống
thực tế nhưng có ý nghĩa pháp lí do BLDS quy định mà thông qua đó làm chấm
dứt quyền sở hữu của một hoặc nhiều chủ thể đối với tài sản nhất định. Các căn
cứ chấm dứt quyền sở hữu được quy định tại Điều 171 và cụ thể hóa tại Mục 2
Chương XIV BLDS. Theo đó, quyền sở hữu chấm dứt trong các trường hợp sau
đây:
- Chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu của mình cho người khác thông qua
hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay hoặc thông qua việc để lại thừa
kế. Kể từ thời điểm phát sinh quyền sở hữu của người được chuyển giao thì
quyền sở hữu đối với tài sản của chủ sở hữu chấm dứt (Điều 248).
- Chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình bằng cách tuyên bố công khai
hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc mình từ bỏ quyền chiếm hữu, sử dụng và
định đoạt tài sản đó. Đối với tài sản mà việc từ bỏ tài sản đó có thể gây thiệt hại
5
đến trật tự, an toàn xã hội, ô nhiễm môi trường thì việc từ quyền sở hữu phải
tuân theo quy định của pháp luật (Điều 249).
- Khi tài sản bị tiêu hủy thì quyền sở hữu của người có tài sản chấm dứt
tại thời điểm tài sản bị tiêu hủy (Điều 252).
- Tài sản bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu theo quyết định
của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác. Quyền sở hữu đối với
một tài sản chấm dứt khi tài sản đó bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở
hữu theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, nếu

quần áo, trang sức để vào trong tủ.
Có nhiều cách phân loại quyền chiếm hữu. Nếu dựa trên tính chất pháp
lý của việc chiếm hữu có thể chia chiếm hữu thành chiếm hữu có căn cứ pháp
luật và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.
- Chiếm hữu có căn cứ pháp luật được hiểu là các trường hợp người
chiếm hữu thực sự có quyền chiếm hữu đối với tài sản của mình dựa trên những
căn cứ do pháp luật qui định. Đó là hình thức chiếm hữu hợp pháp. Theo Điều
183 BLDS, sự chiếm hữu hợp pháp trước hết đó là sự chiếm hữu tài sản của một
chủ sở hữu được pháp luật công nhận. Người không phải là chủ sở hữu mà
chiếm hữu tài sản thì chỉ được coi là chiếm hữu hợp pháp khi thuộc một trong
các trường hợp sau đây: Người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản, người
được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự; người phát hiện
và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị
đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm; người phát hiện và giữ gia súc,
gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc, chiếm hữu của cơ quan, tổ chức theo
chức năng và thẩm quyền có quyền thu giữ và chiếm hữu tài sản…
Đối với các trường hợp người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản
hoặc được giao tài sản thông qua giao dịch dân sự, người chiếm hữu không thể
xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu (Điều 185,186).
Người chiếm hữu tài sản của người khác có căn cứ pháp luật chỉ thực
hiện quyền chiếm hữu trong phạm vi, theo cách thức và thời hạn do chủ sở hữu
xác định. Nói cách khác, người không phải là chủ sở hữu thực hiện các quyền
năng chủ yếu không mang tính độc lập Khoản 1 Điều 185) .
BLDS cũng quy định trường hợp quyền chiếm hữu bị xâm phạm, người
chiếm hữu tài sản của người khác nhưng có căn cứ pháp luật được pháp luật bảo
vệ theo các quy định về bảo vệ quyền sở hữu (từ Điều 255 đến Điều 260). Lẽ dĩ
7
nhiên, người này phải chứng minh được tính hợp pháp của việc chiếm hữu (Ví
dụ như xuất trình hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng ủy quyền quản lý tài sản…)
- Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật được hiểu là việc chiếm hữu tài

việc chủ sở hữu sử dụng quyền định đoạt đối với tài sản.
Như vậy, sử dụng tài sản là một trong những quyền quan trọng và có ý
nghĩa thực tế của chủ sở hữu. Chủ sở hữu hoàn toàn có toàn quyền khai thác
công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản theo cách thức và mục đích sử dụng
tài sản theo ý chí của mình; sử dụng hoặc không sử dụng tài sản, trực tiếp khai
thác công dụng tự nhiên của tài sản hoặc để cho người khác sử dụng thông qua
các giao dịch dân sự như hợp đồng cho thuê, cho mượn. Tuy nhiên, trong mọi
trường hợp, việc sử dụng tài sản phải trên nguyên tắc không được làm ảnh
hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp
của người khác.
Thông thường, chủ sở hữu là người có quyền sử dụng tài sản. Tuy nhiên
pháp luật cũng ghi nhận ba trường hợp sau đây người không phải chủ sở hữu
cũng có quyền sử dụng tài sản:
Thứ nhất, người được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng tài sản
thông qua hợp đồng. Trong trường hợp này, người sử dụng được quyền khai
thác tài sản theo cách thức và thời hạn đã được thoả thuận với chủ sở hữu.
Thứ hai, người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng
ngay tình cũng có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản.
Vì vậy, người này chỉ phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm họ biết
hoặc buộc phải biết việc chiếm hữu tài sản là không có căn cứ pháp luật (Khoản
2 Điều 194 BLDS ).
Thứ ba, cơ quan hay tổ chức nào đó cũng có quyền sử dụng tài sản của
người khác trên cơ sở một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc sử
dụng tài sản trong tình thế cấp thiết phù hợp với qui định của pháp luật.
c) Quyền định đoạt
BLDS quy định: “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu
tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu tài sản” (Điều 195 ). Việc định đoạt tài sản có
thể định đoạt số phận thực tế của các vật, làm chấm dứt sự tồn tại vật chất của
tài sản, như huỷ bỏ, tiêu dùng hết hoặc từ bỏ quyền sở hữu đối với vật, hoặc
bằng hành vi pháp lý (bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, góp vốn vào

những người có thẩm quyền vẫn có quyền định đoạt tài sản. Ví dụ như: Trung
tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản theo qui định của pháp luật; hiệu cầm đồ được
quyền bán tài sản, nếu hết thời hạn đã thoả thuận mà người vay không trả được
tiền vay…
10
3.2. Một số nghĩa vụ của chủ sở hữu
Bên cạnh việc hưởng các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với
tài sản, pháp luật cũng quy định chủ sở hữu phải có các nghĩa vụ sau đây:
a) Nghĩa vụ của chủ sở hữu trong trường hợp xảy ra tình thế cấp thiết
Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang
thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền, lợi ích hợp
pháp của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có
hành động gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn. Trong tình thế cấp
thiết, chủ sở hữu tài sản không được cản trở người khác dùng tài sản của mình
hoặc cản trở người khác gây thiệt hại đối với tài sản đó để ngăn chặn, làm giảm
mối nguy hiểm hoặc thiệt hại lớn hơn có nguy cơ xảy ra.
Ví dụ: Khi hỏa hoạn có nguy cơ lan rộng các chủ thể phải áp dụng biện
pháp dỡ bỏ một số nhà liền kề để ngăn chặn hậu quả hỏa hoạn. Trong trường
hợp này chủ sở hữu không được cản trở người gây thiệt hại nhằm ngăn chặn mối
nguy hiểm hoặc thiệt hại lớn hơn có nguy cơ xảy ra.
b) Nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc bảo vệ môi trường
BLDS đã quy định chủ sở hữu phải có nghĩa vụ bảo vệ môi trường, theo
đó: “Khi sử dụng, bảo quản, từ bỏ tài sản của mình, chủ sở hữu phải tuân theo
các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; nếu làm ô nhiễm môi trường
thì phải chấm dứt hành vi gây ô nhiễm, thực hiện các biện pháp để khắc phục
hậu quả và bồi thường thiệt hại”(Điều 263). Đây là nghĩa vụ bắt buộc của chủ
sở hữu bởi lẽ vấn đề bảo vệ môi trường đã và đang là mối quan tâm đặc biệt của
hầu hết các quốc gia và là vấn đề mang tính toàn cầu. Đồng thời cũng là chủ
trương, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp với quy định
của pháp luật về bảo vệ môi trường.

định và không được xâm phạm, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của
các chủ sở hữu bất động sản liền kề và xung quanh. Chủ sở hữu bất động sản
liền kề và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền yêu cầu chủ sở hữu
công trình ngừng ngay việc xây dựng, sửa chữa, dỡ bỏ hoặc phải thực hiện ngay
các biện pháp khắc phục nếu có nguy cơ xảy ra sự cố nhằm đảm bảo an toàn
chung cho những người xung quanh. Nếu để xảy ra thiệt hại thì chủ sở hữu công
trình phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
e) Nghĩa vụ của chủ sở hữu trong việc thoát nước mưa, nước thải
12
Trong quá trình sinh sống để không làm ảnh hưởng đến những chủ sở
hữu bất động sản liền kề và xung quanh, chủ sở hữu nhà có nghĩa vụ trong việc
thoát nước mưa, nước thải.
Đối với nước mưa, chủ sở hữu nhà phải lắp đặt đường dẫn nước sao cho
nước mưa từ mái nhà của mình không được chảy xuống bất động sản của chủ sở
hữu bất động sản liền kề.
Đối với nước thải, chủ sở hữu nhà phải làm cống ngầm hoặc rãnh thoát
nước để đưa nước thải ra nơi quy định, sao cho nước thải không chảy tràn sang
bất động sản của chủ sở hữu bất động sản liền kề, ra đường công cộng hoặc nơi
sinh hoạt công cộng làm ô nhiễm môi trường.
4. Bảo vệ quyền sở hữu
Quyền sở hữu của công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ. Không
ai có thể bị hạn chế, tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sản của
mình. Bảo vệ quyền sở hữu chính là biện pháp tác động bằng pháp luật đối với
hành vi xử sự của con người, ngăn ngừa những hành vi xâm hại đến chủ sở hữu
khi người này hành xử quyền của mình. Pháp luật quy định chủ sở hữu bảo vệ
quyền sở hữu tài sản của mình bằng các biện pháp sau đây:
4.1. Chủ sở hữu tự mình thực hiện hành vi bảo vệ quyền sở hữu,
chiếm hữu hợp pháp
Theo BLDS, chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kỳ người nào
có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người

nóc nhà của ông B gây hư hỏng mái nhà. Ông B có quyền yêu cầu ông A bằng
các biện pháp cần thiết để không xảy ra tình trạng trên.
- Chủ sở hữu được quyền truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm
hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật.
Trên thực tế, có nhiều trường hợp tài sản rời khỏi sự nắm giữ, quản lý
của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp và đến tay người khác ngoài sự kiểm
soát của họ. Vì vậy, để bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu tài sản của mình,
chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền truy tìm tài sản của mình. Truy
tìm tài sản là hình thức đầu tiên để bảo vệ quyền sở hữu, cũng là cơ sở để chủ sở
hữu, người chiếm hữu hợp pháp thực hiện được việc tự đòi lại tài sản hoặc kiện
đòi lại tài sản. Theo BLDS, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền
yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản
không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm
hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó (Điều 265). Để thực hiện được
14
quyền này, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp phải tự chứng minh quyền sở
hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp của mình, chứng minh tài sản đang do người
khác chiếm hữu không có căn cứ pháp luật và phải xác định tài sản đó nằm trong
sự chiếm hữu không có căn cứ pháp luật của ai.
- Chủ sở hữu yêu cầu bồi thường thiệt hại
Đây là biện pháp tự bảo vệ được áp dụng khi hành vi xâm phạm quyền
sở hữu, quyền chiếm hữu gây ra thiệt hại về tài sản. Yêu cầu bồi thường thiệt hại
có thể là yêu cầu độc lập hoặc kết hợp với yêu cầu đòi lại tài sản. Trong trường
hợp không thể đòi lại tài sản, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có thể yêu
cầu người có lỗi gây ra thiệt hại về tài sản phải bồi thường. Ở ví dụ trên, ông A
đã gây thiệt hại về tài sản đối với ông B. Ông B có quyền yêu cầu ông A bồi
thường đối với phần mái nhà bị hư hỏng và ông A có nghĩa vụ phải trả khoản
tiền bồi thường để ông B sửa phần mái nhà để hư hỏng đó.
Trong việc bảo vệ quyền sở hữu, vai trò tự bảo vệ của chủ sở hữu, người
chiếm hữu hợp pháp rất quan trọng. Tự bảo vệ vừa là quyền vừa là trách nhiệm

lực nhà nước để buộc người có hành vi vi phạm xâm phạm quyền sở hữu, quyền
chiếm hữu hợp pháp của người khác phải chấm dứt hành vi vi phạm. Mục đích
của phương thức này là nhằm đảm bảo để chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp
pháp được sử dụng và khai thác công dụng của tài sản một cách bình thường.
c) Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại
Theo BLDS, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu
người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình bồi
thường thiệt hại (Điều 260). Kiện đòi bồi thường thiệt hại về tài sản là việc chủ
sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu Tòa án buộc người có hành vi
xâm phạm quyền sở hữu phải bồi thường thiệt hại cho mình.
Khi một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại tới tài sản của
người khác thì chủ sở hữu của tài sản có quyền khởi kiện tới Tòa án yêu cầu bồi
thường thiệt hại. Trong trường hợp này, chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp
pháp không thể kiện đòi lại tài sản do tài sản đã bị hư hỏng hoặc đang nằm trong
sự chiếm hữu của chủ thể khác không xác định hoặc người chiếm hữu tài sản đó
là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình và không phải
trả lại tài sản. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản cho chủ sở hữu hoặc
người chiếm hữu hợp pháp có thể đặt ra trong các trường hợp sau đây:
- Người chiếm hữu hợp pháp bán tài sản cho người thứ ba ngay tình thì
chủ sở hữu được yêu cầu người chiếm hữu hợp pháp bồi thường giá trị tài sản.
16
Ví dụ: A cho B mượn một chiếc điện thoại di động. B bán chiếc điện thoại này
cho C (C không biết chiếc điện thoại là của A) thì A có thể kiện B đòi bồi
thường thiệt hại.
- Người chiếm hữu hợp pháp hoặc bất hợp pháp đã bán tài sản cho
người khác mà không tìm thấy người mua nữa hoặc tài sản đã bị tiêu hủy…
Trong trường hợp này, chủ sở hữu không thể lấy lại được tài sản của mình và
pháp luật cho phép chủ sở hữu lựa chọn phương thức kiện đòi bồi thường thiệt
hại. Nghĩa là, chủ sở hữu có quyền kiện đòi người chiếm hữu hợp pháp hoặc bất
hợp pháp tài sản của mình phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra cho chủ sở

kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời
điểm mở thừa kế.” (Điều 635). Người thừa kế bao gồm:
- Người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và phải là người ó
quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng đối với người để lại di sản.
- Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc tổ chức hoặc Nhà
nước.
Những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ về tài sản do người chết để
lại, cụ thể như sau:
- Về nghĩa vụ: Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện
nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có
thỏa thuận khác. Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do
người chết để lại được người quản lí di sản thực hiện theo thỏa thuận của những
người thừa kế. Nếu di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ
tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà
mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Ví dụ: Ông S chết để lại di sản
thừa kế cho các con là E và F số tiền 200 triệu đồng. Tuy nhiên, trước khi chết,
ông S có một khoản nợ với ngân hàng Z 300 triệu đồng và đã đến hạn trả nợ.
Trong trường hợp này, E và F phải có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ giữa ông S
và ngân hàng Z tương ứng với phần tài sản mà họ đã nhận (mỗi người 100 triệu
đồng).
- Về quyền: Theo nguyên tắc chung mọi cá nhân đều có quyền hưởng di
sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Ngoài ra, người thừa kế có quyền
từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện
nghĩa vụ tài sản của mình với người khác. Ví dụ: Anh K đang vay của bà X một
khoản tiền. Anh viện cớ không có tài sản để trả nợ cho bà X. Tuy nhiên, khi bố
18
anh mất có để lại cho anh một mảnh đất, anh K lại từ chối quyền hưởng di sản
thừa kế này. Trong trường hợp này, pháp luật không cho phép anh K từ chối
hưởng di sản thừa kế vì việc từ chối của anh K nhằm trốn tránh việc thực hiện
nghĩa vụ tài sản của mình với bà X.

- Trong trường hợp, tài sản thuộc quyền sở hữu chung của nhiều người
(Ví dụ: Góp vốn để cùng sản xuất kinh doanh), nếu một trong đồng chủ sở hữu
chết thì di sản thừa kế của người chết là phần tài sản thuộc sở hữu của người đó
đã đóng góp trong khối tài sản chung.
- Tài sản của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là tài sản thuộc sở hữu
chung hợp nhất của vợ chồng. Vợ, chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài
sản chung bằng công sức của mỗi người, có quyền ngang nhau trong việc chiếm
hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình quy
định: “Khi một bên chết trước, nếu cần chia tài sản chung của vợ, chồng thì
chia đôi. Phần tài sản của người chết được chia theo quy định của pháp luật về
thừa kế”. Vì vậy, khi một bên chết trước, một nửa khối tài sản chung đó là tài
sản của người chết và được chuyển cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo
quy định của pháp luật về thừa kế.
1.5. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế
- Thời điểm mở thừa kế là thời điểm phát sinh quan hệ thừa kế. Theo quy
định của BLDS, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong
trường hợp Tòa án tuyên bố một người đã chết thì tùy từng trường hợp, Tòa án
xác định ngày chết của người đó, nếu không xác định được ngày chết thì ngày
mà quyết định của Tòa án tuyên bố người đó là đã chết có hiệu lực pháp luật
(Khoản 1 Điều 633).
Việc xác định thời điểm mở thừa kế là rất quan trọng vì kể từ thời điểm
đó, không chỉ xác định được chính xác tài sản, quyền và nghĩa vụ về tài sản của
người để lại thừa kế (gồm những gì và đến khi chia tài sản thì còn bao nhiêu) mà
còn xác định phạm vi người thuộc diện thừa kế, hàng thừa kế của người chết.
Thời điểm mở thừa kế là căn cứ xác định những người thừa kế của người đã
chết, vì người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc
sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi
người để lại di sản chết.
- Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản;
nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có

nhưng không chỉ định người quản lí di sản thì những người thừa kế cử ra người
để quản lí di sản thừa kế.
21
Trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lí di sản và những
người thừa kế chưa cử được người quản lí thì người đang chiếm hữu, sử dụng
quản lí di sản tiếp tục quản lí di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử
được người quản lí di sản.
Trong trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có
người quản lí thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lí.
1.7. Người không được quyền hưởng di sản
Trong quan hệ thừa kế, những người là bố, mẹ, vợ, chồng, con của
người chết hoặc những người được chỉ định trong di chúc là những người được
hưởng di sản của người đã chết. Tuy nhiên, trong thực tế có những trường hợp
họ đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình, có những hành vi trái pháp luật,
trái đạo đức xã hội, trái với thuần phong mĩ tục của dân tộc Việt Nam, xâm
phạm đến danh dự, uy tín, tính mạng, sức khỏe của bố, mẹ, anh, em, vợ, chồng
Người có những hành vi như vậy không xứng đáng được hưởng di sản của
người để lại thừa kế. Theo quy định của BLDS những người sau đây không
được quyền hưởng di sản:
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về
hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm
trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế
khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có
quyền hưởng;
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản
trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm
hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Tuy nhiên, để đảm bảo quyền tự định đoạt của người có di sản, những

Đối với những chủ nợ của người để lại di sản có quyền khởi kiện để yêu
cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết là ba năm, kể từ
thời điểm mở thừa kế.
2. Thừa kế theo di chúc
2.1. Khái niệm di chúc và thừa kế theo di chúc
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình
cho người khác sau khi chết. Một người muốn định đoạt tài sản của mình bằng
di chúc cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc.
23
Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho
người khác còn sống theo quyết định của người đó trước khi chết được thể hiện
trong di chúc.
2.2. Người lập di chúc
Người lập di chúc chỉ định một hoặc nhiều người trong di chúc và cho họ
hưởng một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình. Người lập di chúc phải là người
đủ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi và phải minh mẫn, sáng suốt vào
thời điểm lập di chúc. Những người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám
muốn lập di chúc phải được sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ.
Người lập di chúc là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự có các
quyền sau đây:
- Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.
Người lập di chúc có quyền để lại di sản cho bất cứ tổ chức, cá nhân nào. Đó có
thể là cá nhân trong hay ngoài diện thừa kế theo quy định theo pháp luật hoặc
cũng có thể là Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội Người lập di chúc có
thể chỉ định một hay nhiều người thừa kế theo pháp luật không được hưởng di
sản thừa kế của mình mà không nhất thiết phải nêu lí do.
- Người lập di chúc có quyền phân chia di sản của mình cho mỗi người
không nhất thiết phải ngang nhau và không cần phải nêu lí do. Nếu không phân
định di sản trong di chúc thì di sản được chia đều cho những người được chỉ
định trong di chúc.

hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng
phần di sản ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di
sản được chia theo pháp luật thì họ vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần
ba suất đó, trừ khi họ từ chối nhận di sản hoặc họ là những người không có
quyền hưởng di sản như đã trình bày ở trên.
Ví dụ: Ông A có khối tài sản giá trị 360 triệu đồng. Ông có vợ là bà B và
ba con là C (22 tuổi, có khả năng lao động), D (20 tuổi, có khả năng lao động),
E (15 tuổi). Ông A có lập di chúc để lại cho C và D mỗi người ½ di sản và truất
quyền thừa kế của bà B và E. Trong trường hợp này, khi ông A chết, di sản của
ông A sẽ được chia như sau:
Những người thừa kế theo pháp luật của ông A là B, C, D, E, trong đó bà
B (vợ ông A) và E (con chưa thành niên của ông A) là những người thừa kế
không phụ thuộc vào nội dung của di chúc.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status