Tài liệu TIỂU LUẬN CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TẠI TRƯỜNG THCS : Lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng công tác pháp chế nghành giáo dục và đào tạo - Pdf 10

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC TP. HỒ CHÍ MINH
_________________
TIỂU LUẬN
CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TẠI
TRƯỜNG THCS
Lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng công tác
pháp chế nghành giáo dục và đào tạo
MỤC LỤC
A- Mở đầu
B- Nội dung
1. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, từ thực tiễn thành phố hồ chí
minh.
2. Thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại trường trung học
cơ sở.
3. Vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện xây
dựng Nhà nước pháp quyền Việt nam.
4. Vấn đề cần quan tâm trong công tác phổ biến giáo dục pháp luật của
ngành giáo dục
Trang 1
5. Kỹ năng cần thiết để phổ biến giáo dục pháp luật.
C- Kết luận
D- Kiến nghị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, NXB Chính trị Quốc
gia Hà Nội – 2011.
2. Tập bài giảng “Lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng công tác pháp
chế ngành giáo dục.
3. Điều lệ Trường Trung học – Bộ giáo dục và Đào tạo- NXB Giáo dục 2000.
4. Quyết định số 1928/QĐ-TTg ngày 20/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc
phê duyệt Đề án “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

chức đoàn thể phải chăm lo. Trong đó nhiệm vụ giáo dục và đào tạo của trường phổ
thong, trung học cơ sở về giáo dục pháp luật cho họ sinh có ý nghĩa rất lớn và thiết
thực góp phần “tạo sự chuyển biến cơ bản toàn diện trong phát triển giáo dục và đào
tạo”.
Từ những nhận thức trên, Tôi chọn đề tài “CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT TẠI TRƯỜNG THCS” để viết tiểu luận cho khóa “ bồi dưỡng kiến
thức pháp luật và kỹ năng công tác pháp chế nghành giáo dục và đào tạo năm
2012”
B- NỘI DUNG
1. CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT, TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH:
Thành phố Hồ Chí Minh với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL)
đã có nhiều cố gắng và thu được nhiều kết quả đáng kể, đáp ứng được yêu cầu của
việc tăng cường quản lý Nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp
chế XHCN tại khu vực.
Trong những năm qua, công tác PBGDPL đã có những chuyển biến tích cực,
tạo nhận thức pháp luật cho cán bộ và nhân dân, hình thức tuyên truyền có nhiều sáng
kiến mới, nội dung tuyên truyền phong phú qua đài truyền thanh, chương trình truyền
hình của Thành phố Hồ Chí Minh, qua các bài báo phát hành vào các buổi sáng . .
.Việc đó thể hiện qua cuộc sống và sinh hoạt của người dân như giảm vi phạm luật
giao thông, giảm tệ nạn ma túy, an ninh trật tự ngày càng được giữ vững, thanh niên
thực hiện nghĩa vụ Quân sự hằng năm đạt 100%; hạn chế đơn thư khiếu nại, tố cáo
của công dân; đặc biệt là ít án hình sự, dân sự Điều này đã cho chúng ta thấy được
rằng giữa công tác PBGDPL với việc tăng cường pháp chế XHCN thể hiện sự đan xen
và có mối quan hệ mật thiết với nhau, nó không thể tách rời nhau.
Tuy nhiên, công tác PBGDPL vẫn chưa ngang tầm với việc quản lý xã hội bằng
pháp luật, chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục, đồng bộ và rộng khắp, còn
thiếu cơ chế, kế hoạch phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành để huy động sức
mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và sự tham gia của toàn xã hội đối với công
tác này. Mặt khác:

28/2006/QĐ-TTg ngày 28/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án chi
tiết thuộc chương trình hành động quốc gia PBGDPL và nâng cao ý thức chấp hành
pháp luật của cán bộ, nhân dân xã, phường, thị trấn từ năm 2005-2010 và Quyết định
112/2007/QĐ-TTg ngày 20/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chính
sách hỗ trợ các dịch vụ cải thiện đời sống nhân dân và trợ giúp pháp lý cho người
nghèo thuộc chương trình 135, giai đoạn II. Đổi mới công tác PBGDPL theo hướng
mở rộng quy mô, phối kết hợp với nhiều cấp, nhiều ngành, sử dụng nhiều hình thức
phổ biến sinh động, phong phú, thiết thực, liên tục và bề bỉ như thông qua hình thức
tuyên truyền miệng, các hội thi, cuộc thi, các buổi nói chuyện chuyên đề về pháp luật,
thông qua Tủ sách pháp luật lưu động, thông qua xét xử án lưu động, hoà giải cơ sở,
giải quyết các vụ việc
(2). Kiện toàn và ổn định bộ máy hoạt động của Hội đồng phối hợp công tác
PBGDPL, mở rộng và thường xuyên tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ báo cáo viên và
lực lượng tuyên truyền viên pháp luật, phân công thành viên Hội đồng phối hợp phụ
trách cụm để theo dõi hoạt động của các địa phương.
(3). Đội ngũ báo cáo viên và lực lượng tuyên truyền viên pháp luật phải năng
động, nhiệt tình, tâm huyết nắm vững kiến thức pháp luật nhằm giúp cho nhân dân
tiếp thu một cách nhanh hơn và dễ hiểu hơn.
(4). Cần phải có sự phối hợp tốt giữa các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể trong công
tác PBGDPL. Đưa công tác PBGDPL vào trường học để có sự phối hợp chặt chẽ giữa
gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục ý thức tôn trọng và chấp hành pháp
luật của thanh thiếu niên.
(5). Nâng cao vai trò hoạt động của tổ chức Đảng, Ban nhân dân, Mặt trận đoàn thể
thôn, tổ hòa giải cơ sở nhằm lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật đến người
dân.
(6). Phải xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, nhất là trong việc xử phạt vi
phạm hành chính trên các lĩnh vực.
(7). Cần có một nguồn kinh phí nhất định, có đầy đủ trang thiết bị, phương tiện kỹ
thuật để phục vụ cho công tác PBGDPL hằng năm đạt kết quả cao.
Trang 5

trường trên địa bàn; xây dựng và tổ chức hoạt động khảo sát lấy ý kiến của giáo viên
dạy môn Giáo dục công dân, pháp luật, học sinh, sinh viên nhằm đánh giá thực trạng
cũng như nhu cầu tìm hiểu pháp luật của các đối tượng trên để xây dựng kế hoạch, tài
liệu phổ biến pháp luật cho phù hợp, thiết thực. Hình thức phổ biến, giáo dục pháp
luật chủ yếu là tập huấn, tuyên truyền miệng, biên soạn cấp phát tài liệu, tổ chức cuộc
thi, hoạt động ngoại khóa, lồng ghép với cuộc họp, phối hợp với các ngành có liên
quan, phát huy hiệu quả khai thác tủ sách pháp luật.
Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên,
học sinh bao gồm loại văn bản sau: các quy định pháp luật về cán bộ, viên chức; các
quy định pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; các quy định pháp luật về
hội nhập quốc tế; các quy định pháp luật về thực hiện quy chế dân chủ; các quy chế về
đào tạo, rèn luyện học sinh, sinh viên; các bộ luật, luật liên quan tới giáo dục ý thức
chấp hành pháp luật của giáo viên, học sinh.
Đến nay quận đã có 10 trường trung học cơ sở, tổng số giáo viên dạy giáo dục
công dân: gần 35 giáo viên; có tủ sách pháp luật đạt chuẩn (trường đạt chuẩn quốc
gia); các trường chưa xây dựng được tủ sách pháp luật đều có ngăn sách pháp luật;
Trang 6
tổng số sách pháp luật của toàn ngành tính đến thời điểm kết thúc năm học 2011-2012
là 10.693 cuốn.
Do thời gian học tập chính khóa ngắn so với khối lượng kiến thức của chương
trình môn học, song các trường đã lựa chọn nội dung và hình thức thích hợp nhằm
chuyển tải kiến thức pháp luật cho học sinh như tổ chức các cuộc thi tìm hiểu kiến
thức pháp luật, các buổi học ngoại khóa, tạo môi trường cởi mở, thân thiện giúp học
sinh dễ dàng tiếp thu các kiến thức pháp luật, tham gia các câu lạc bộ, xây dựng, bổ
sung đầu sách, khai thác tủ sách pháp luật, thông qua các bản tin, hệ thống loa truyền
thanh
Nhìn chung việc dạy và học pháp luật, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
trong trường học trong thời gian qua đã đi vào nề nếp và đạt nhiều kết quả tốt. 100%
đơn vị trường học đều xây dựng đầy đủ kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật trong
trường học; 100% trường học thực hiện nghiêm túc công tác phổ biến, giáo dục pháp

(5). Chỉ đạo các trường nên thành lập ban chỉ đạo tuyên truyền phổ biến pháp luật. Tổ
chức các câu lạc bộ pháp luật, tuyên truyền pháp luật bằng những hình thức hấp dẫn
các em tham gia như thi đua giải quyết các tình huống pháp luật có thưởng; trình bày
Trang 7
tiểu pháp về pháp luật; tổ chức phiên tòa giả định Hàng năm nên mời các báo cáo
viên đến trường để thuyết trình về kiến thức pháp luật cho giáo viên. Tổ chức thi giáo
viên dạy giỏi, học sinh giỏi môn Giáo dục công dân để khuyến khích giáo viên trong
công tác giảng dạy và việc học tập của học sinh.
Tổ chức hội thi tìm hiểu pháp luật với các nội dung phù hợp; sân chơi cuối
tuần; rung chuông vàng Lồng ghép phổ biến pháp luật thông qua các tiết chào cờ,
chương trình phát thanh của trường.
3. VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT TRONG
ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM:
Theo tôi, phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của Nhà nước và của toàn
bộ hệ thống chính trị. Thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật là một công tác xã hội,
là “của chung xã hội”, do Nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và của “toàn
thể công chúng” thực hiện, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt.
Do tầm quan trọng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trong thời gian
qua, Đảng và Nhà nước rất quan tâm chỉ đạo thực hiện các công tác này. Một loạt văn
kiện quan trọng đã được Đảng và Nhà nước ban hành, tạo khuôn khổ pháp lý khá toàn
diện, đầy đủ trong việc thực hiện các công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Tuy nhiên, xét một cách tổng quát, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật vẫn
còn những tồn tại, hạn chế nhất định:
- Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở một số ngành, địa phương có nơi
chưa được quan tâm đúng mức, chưa đồng bộ, còn mang tính hình thức, dàn trải, thiếu
trọng tâm, chưa bảo đảm chiều sâu, chưa hướng về cơ sở, hiệu quả chưa cao;
- Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành nhiều, việc phân loại, hệ thống
hoá pháp luật chưa được thực hiện tốt, tính ổn định của hệ thống quy phạm còn yếu,
văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên vẫn phải chờ văn bản hướng thi hành của cơ
quan nhà nước cấp dưới làm cho làm cho hệ thống phổ biến, giáo dục pháp luật bị hạn

có thể ban hành luật và các quy định pháp luật nhưng các luật này sẽ ít phát huy tác
dụng khi mà các đối tượng phải tuân thủ và thực thi lại không biết sự tồn tại của các
luật này.
- Cản trở về địa lý và hậu cần để đưa thông tin và áp dụng luật ở các vùng nông
thôn, vùng sâu, vùng xa. Thách thức về thông tin và giáo dục luật càng trở lên khó
khăn hơn đối với đưa thông tin và áp dụng luật đối với các cộng đồng nông thôn và
đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng xa.
- Các luật lệ, phong tục, ngôn ngữ địa phương. Ở mỗi vùng khác nhau thường
có những phong tục tập quán khác nhau mà những tập quán này thường mâu thuẫn với
các luật do nhà nước ban hành, đặc biệt là vùng núi, vùng sâu, vùng xa, bên cạnh các
cản trở của các tập quán địa phương, ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau có thể cản
trở quá trình tuyên truyền và chấp nhận pháp luật.
- Nguồn lực (nhân lực và tài chính). Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật luôn
đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực, nguồn tài chính thoả đáng, trong khi nhà nước
còn rất nhiều khoản phải chi. Thực tế cho thấy hiện nay Nhà nước không có đủ nguồn
lực thoả đáng để tự thiết kế và thực hiện các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, là
những nhu cầu cần thiết ở các nhà nước hiện đại với hệ thống pháp luật phức tạp.
Chúng ta phải đối mặt với rất nhiều mục tiêu ưu tiên xong lại xung đột với nhau, trong
khi đó cũng có quá nhiều mục tiêu được coi là quan trọng từ xoá đói giảm nghèo tới y
tế và vô số các tệ nạn xã hội khác.
- Sự hợp tác, phối hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan. Thực hiện công
tác phổ biến, giáo dục pháp luật thường rất phức tạp đòi hỏi sự hợp tác (ít nhất là sự
phối hợp) của các bộ, ngành trung ương, các cơ quan liên bộ trong Nhà nước, phân bổ
thoả đáng các nguồn lực, có kế hoạch ưu tiên và sự phối hợp của các cấp chính quyền
để việc thực hiện các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật có thể tiếp cận được
tới cấp cơ sở và cộng đồng dân cư địa phương.
• Vấn đề đặt ra cho giải pháp giải quyết những thách thức này
Nhà nước có nên hướng tới các tổ chức xã hội trong hoạt động phổ biến giáo
dục pháp luật để họ tham gia vào hoạt động này, thậm chí bao gồm cả việc thiết kế,
lập chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật. Ở một số quốc gia, các bên hữu quan là

tin mà họ đang tiếp nhận.
Song ngay cả khi Nhà nước quyết định sử dụng kỹ năng và nguồn lực của xã
hội dân sự vào các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật thì vẫn cần đặt ra câu
hỏi là: Nhà nước nên duy trì vai trò gì, vai trò của Nhà nước trong xác định các mục
tiêu ưu tiên; liệu có nên tham gia vào các liên danh tư nhân/nhà nước với xã hội dân
sự không; liệu có nên tài trợ cho các tổ chức xã hội dân sự không thay vì để Nhà nước
tự thực hiện các chương trình đó trên thực tế, và nếu Nhà nước chọn cách làm việc với
xã hội dân sự trong các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật, thì làm sao để Nhà
nước duy trì mức độ chính xác của các thông tin được tuyên truyền mà vẫn đảm bảo
được chất lượng cung cấp.
Và câu hỏi khó ở đây không phải là liệu các tổ chức xã hội dân sự có nên tham
gia trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật hay không mà là vai trò tốt nhất của
tổ chức xã hội dân sự trong quy trình phổ biến, giáo dục pháp luật là gì. Làm thế nào
để có thể phát huy tốt nhất vai trò của Nhà nước, làm sao để Nhà nước có thể đặt ra
cho mục tiêu cho chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật và lại cộng tác với xã hội
dân sự trong việc thiết kế và thực hiện chương trình. Trên thế giới có nhiều ví dụ minh
hoạ cho phương thức phối hợp giữa Nhà nước và xã hội dân sự trong việc phổ biến,
giáo dục pháp luật.
Trong giai đoạn đầu tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật của các tổ chức xã
hội dân sự, điều quan trọng là Nhà nước cần phải duy trì một vai trò nhất định bởi có
những vấn đề chỉ có Nhà nước mới có thể giải quyết và những nguồn lực mà Nhà
nước cần cung cấp. Cụ thể là:
(1). Vai trò của Nhà nước
Sau đây là những việc mà xã hội dân sự không thể làm, uỷ thác của Nhà nước
và những việc Nhà nước có thể làm một cách tốt nhất:
Trang
10
- Hợp tác và phối hợp ở cấp bộ, ngành của Nhà nước (luật, giáo dục, nâng cao
nhận thức, cung cấp thông tin và tiếp cận thông tin);
- Xác định các ưu tiên;

của riêng Đoàn thanh niên. Vì vậy sự quan tâm và đầu tư cho công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật cho lớp trẻ chưa được bảo đảm. Việc phổ biến, giáo dục pháp luật ở một
số trường học còn mang tính phong trào, chưa đi sâu vào những nội dung thiết thực
mà học sinh cần. Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật chậm đổi mới, chưa theo kịp
tình hình. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể trong việc tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thiếu đồng bộ, trách nhiệm chưa rõ ràng, dẫn tới
hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật còn hạn chế.
Một số cấp ủy Đảng, chính quyền và các ngành, đoàn thể chưa quan tâm công
tác quan trọng này. Việc đầu tư, chỉ đạo, triển khai công tác giáo dục pháp luật cho
học sinh là của Đoàn – Đội với tư cách là một nội dung giáo dục độc lập chưa được
Trang
11
thực hiện. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ở trường học chưa chặt
chẽ, còn chồng chéo, mang nặng tính sự vụ, hình thức, chưa có kế hoạch giám sát cụ
thể, rõ ràng. Bên cạnh đó, đội ngũ báo cáo viên pháp luật hầu hết là kiêm nhiệm, năng
lực, trình độ còn không ít những hạn chế; trong khi đó, việc bồi dưỡng kỹ năng nghiệp
vụ cho đội ngũ này thực hiện không thường xuyên, thiếu cơ bản nên đôi lúc việc
nghiên cứu, biên soạn tài liệu tuyên truyền cũng như việc tham gia các buổi, đợt triển
khai công tác phổ biến giáo dục pháp luật xuống cơ sở còn thiếu đồng bộ, hiệu quả
chưa cao.
Hiện nay, nghiên cứu nguyên nhân của sự hình thành các loại tội phạm trong
thanh, thiếu niên thì phần lớn xuất phát từ việc không hiểu biết pháp luật, không biết
hoặc cố tình làm trái những quy định của Nhà nước. Đây là điều đáng báo động cho
tương lai nếu như học sinh nói riêng và thanh niên nói chung không được giáo dục
pháp luật đầy đủ ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường
Một trong những mô hình tuyên truyền, phổ biến pháp luật được nhiều nơi
triển khai là xây dựng Tủ sách pháp luật, nhưng tại nhiều trường hiệu quả khai thác và
sử dụng còn thấp, số lượng học sinh tham gia mượn đọc, nghiên cứu sách, báo pháp
luật rất thấp. Mặt khác, kinh phí đầu tư cho công tác phổ biến giáo dục pháp luật còn
quá hạn hẹp, trong khi cơ chế, chính sách, nguồn lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị,

Các hoạt động liên quan công tác này cần được triển khai thực chất, có kế hoạch riêng
Trang
12
và thước đo sự thành công phải được thể hiện bằng ý thức chấp hành pháp luật của
thanh, thiếu niên học sinh trong thực tế cuộc sống
5. KỸ NĂNG CẦN THIẾT ĐỂ PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT:
5.1. Gây thiện cảm ban đầu cho người nghe
Việc gây thiện cảm ban đầu cho người nghe rất quan trọng. Thiện cảm ban đầu
thể hiện ở nhân thân, tâm thế và biểu hiện của người nói khi bước lên bục tuyên
truyền. Danh tiếng, phẩm chất đạo đức, học hàm, học vị, chức vụ của người nói là
nguồn thiện cảm ban đầu cho người nghe; kích thích người nghe háo hức chờ đón
buổi tuyên truyền. Thiện cảm ban đầu tạo ra sự hứng thú, say mê của người nghe,
củng cố được niềm tin về vấn đề đang tuyên truyền. Thiện cảm ban đầu còn được tạo
ra bởi khung cảnh của hội trường, khung cảnh của diễn đàn, dáng vẻ bề ngoài, y
phục, nét mặt, cử chỉ, phong thái, lời giao tiếp ban đầu. Như vậy, báo cáo viên cần
phải tươi cười bao quát hội trường, có lời chào mừng, chúc tụng, có câu mở đầu dí
dỏm, hài hước, công bố thời gian, chương trình làm việc rõ ràng, thoải mái sẽ gây
được thiện cảm ban đầu đối với người nghe. Thế nhưng, thiện cảm ban đầu chủ yếu là
ở cách đặt vấn đề đầu tiên của người nói. Trong những phút đầu tiên của bài giới
thiệu, người nói phải nêu được khoảng từ 3, 4 vấn đề chủ yếu mà người nghe cần tìm
hiểu nhất. Ví dụ khi tuyên truyền cho đối tượng là học sinh về Luật giáo dục thì các
vấn đề mà học sinh quan tâm nhất là quyền trẻ em, quy chế học tập Việc nêu các
vấn đề đó còn tuỳ thuộc ở khả năng thuyết trình của báo cáo viên. Báo cáo viên có thể
bắt đầu từ một câu chuyện pháp luật được các phương tiện thông tin đại chúng nói
đến nhiều thời gian qua hoặc có thể bắt đầu từ một bộ phim đã chiếu khá phổ biến
hoặc cũng có thể bằng các tình huống xảy ra gần địa bàn nơi tổ chức tuyên truyền
5.2. Tạo sự hấp dẫn, gây ấn tượng trong khi nói
Nghệ thuật tuyên truyền là tạo nên sự hấp dẫn, gây ấn tượng bằng giọng nói,
điệu bộ, ngôn ngữ. Giọng nói phải rõ ràng, mạch lạc nhưng truyền cảm. Hết sức tránh
lối nói đều đều. Giọng nói, âm lượng phải thay đổi theo nội dung và nhấn mạnh vào

- Giải thích là việc dùng lý lẽ để giảng giải giúp người nghe hiểu rõ và hiểu
đúng vấn đề. Lập luận trong khi giải thích phải chặt chẽ, chính xác, mạch lạc, khúc
triết, không ngụy biện.
- Phân tích là diễn giải, đánh giá vấn đề nhằm tìm được đặc điểm, bản chất,
điểm mạnh, điểm yếu, điểm tốt, điểm xấu, sự phù hợp, không phù hợp của vấn đề.
Việc phân tích phải dựa trên cơ sở khoa học, không được cường điệu mặt này hay hạ
thấp mặt kia. Sau khi phân tích phải có kết luận, đánh giá, hướng người nghe vào định
hướng tư duy đúng đắn, không làm cho người nghe hoài nghi, dao động, hoang mang.
5.5. Các bước tiến hành một buổi tuyên truyền miệng về pháp luật
Để có một buổi tuyên truyền miệng pháp luật cần qua 2 bước:
5.5.1. Bước chuẩn bị: gồm 5 nội dung chính sau đây :
- Nắm vững đối tượng truyên truyền: Báo cáo viên cần nắm vững đối tượng
tuyên truyền qua các yếu tố về số lượng; thành phần (trí thức, công nhân, nông dân,
học sinh, thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, phụ lão ); trình độ văn hoá; tình hình thực
hiện pháp luật ở cơ sở; ý thức thực hiện pháp luật và nhu cầu tìm hiểu pháp luật của
đối tượng.
Báo cáo viên có thể nắm vững đối tượng bằng phương pháp trực tiếp (tự điều
tra, tìm hiểu, gặp gỡ, quan sát ) hoặc bằng phương pháp gián tiếp (qua tài liệu, sách
báo, báo cáo tổng kết, trao đổi với người tổ chức buổi tuyên truyền ). Cần có thông
tin đầy đủ từ phía cơ quan tổ chức tuyên truyền về thành phần dự. Chú ý những thay
đổi có thể diễn ra về thành phần người nghe.
- Nắm vững vấn đề liên quan đến lĩnh vực mà văn bản điều chỉnh: Đó là các
vấn đề về kỹ thuật nghiệp vụ chuyên ngành, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà
nước trong lĩnh vực đó, các tài liệu lý luận, giáo khoa, các tài liệu của nước ngoài
trong lĩnh vực đó. Để nắm vững vấn đề liên quan đến lĩnh vực mà văn bản điều chỉnh
đòi hỏi báo cáo viên ngoài trình độ chuyên môn tốt cần phải có quá trình tích lũy, sưu
tầm với một ý thức trách nhiệm và lòng say mê với nghề nghiệp.
- Nắm vững nội dung văn bản, cụ thể là hiểu rõ bản chất pháp lý của vấn đề
được văn bản điều chỉnh, sự cần thiết phải ban hành văn bản; hiểu rõ đối tượng điều
chỉnh, phạm vi điều chỉnh của văn bản; hiểu rõ ý nghĩa của các quy phạm, đặc biệt là

nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo việc tổ chức triển khai tuyên truyền văn bản pháp luật
cho phù hợp với từng loại đối tượng, trên từng địa bàn.
+ Cần lựa chọn vấn đề cốt lõi của văn bản có liên hệ với hệ thống pháp luật để
làm rõ mối quan hệ của văn bản với hệ thống pháp luật.
+ Để thu hút người nghe và tạo điều kiện cho người nghe hiểu văn bản có tính
hệ thống, toàn bộ các phần trong đề cương phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau như
một câu chuyện là: yêu cầu, nhiệm vụ của văn bản; cơ chế quản lý như thế nào; quyền
và nghĩa vụ của các chủ thể ra sao; chế tài áp dụng đối với người vi phạm thế nào để
sao cho đạt được yêu cầu, nhiệm vụ cần tuyên truyền.
5.5.2. Tiến hành một buổi tuyên truyền miệng về pháp luật
Một buổi tuyên truyền miệng về pháp luật thường có các phần sau:
- Vào đề: Là phần giới thiệu vấn đề, định hướng tư duy, khơi gợi nhu cầu của
đối tượng, thiết lập quan hệ giữa người nói với người nghe. Với tuyên truyền miệng
về pháp luật, cách vào đề có hiệu quả thường là gợi ra nhu cầu tìm hiểu ý nghĩa, sự
cần thiết phải ban hành văn bản pháp luật.
Trước khi bắt đầu phần này, báo cáo viên cần có những lời chào mừng, chúc
tụng đối với người nghe để gây thiện cảm và không khí gần gũi. Trong phần vào đề,
người nói phải nêu được khoảng từ 3, 4 vấn đề chủ yếu mà người nghe cần tìm hiểu
nhất để tạo sự chú ý, sức hấp dẫn cho người nghe (như đã trình bày ở điểm 3.1). Việc
nêu các vấn đề đó còn tuỳ thuộc ở khả năng diễn thuyết của báo cáo viên. Báo cáo
viên có thể bắt đầu từ một câu chuyện pháp luật được các phương tiện thông tin đại
chúng nói đến nhiều thời gian qua; có thể bằng các tình huống xảy ra gần địa bàn nơi
tổ chức tuyên truyền hoặc một câu chuyện có liên quan mà tình cờ báo cáo viên biết
được qua trao đổi trước buổi tuyên truyền với một số người nghe
Trang
15
- Nội dung: Là phần chủ yếu của buổi nói, làm cho đối tượng hiểu, nắm được
nội dung, chuyển biến nhận thức, nâng cao ý thức pháp luật cho đối tượng. Cần lưu ý
là phải nêu được những điểm mới, thời sự để người nghe chú ý; khi tuyên truyền
không được sao chép, đọc nguyên văn văn bản để tránh sự nhàm chán. Khi giảng cần

nhạy chuyển sang hình thức khác có liên quan đến bài giảng như tổ chức thảo luận về
những nội dung của văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo viên sẽ trực tiếp giải đáp
những thắc mắc của người nghe hoặc báo cáo viên chuẩn bị sẵn những câu hỏi liên
quan đến nội dung bài giảng để hỏi người nghe hoặc tổ chức giao lưu, học hỏi kinh
nghiệm về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật giữa báo cáo viên và người nghe,
nhất là khi người nghe là những cán bộ tuyên truyền pháp luật
Ngoài ra, cần xử lý các tình huống khác trong hội trường như: Học viên ngủ
gật, nghe điện thoại di động, mất điện, học viên nói chuyện riêng
5.5.3. Phần kết luận:
Là phần người nói thường điểm lại và tóm tắt những vấn đề cơ bản đã tuyên
truyền. Tùy từng đối tượng mà nêu những vấn đề cần lưu ý đối với họ. Trong phần
này, người nói sau khi đã phân tích, diễn giải cần phải tóm tắt lại những nội dung
chính của buổi tuyên truyền miệng và những vấn đề cần lưu ý. Tuy nhiên với mỗi một
Trang
16
đối tượng khác nhau sẽ có cách thức tóm tắt khác nhau căn cứ vào nhu cầu, lĩnh vực
công tác của đối tượng.
5.5.4. Trả lời câu hỏi của người nghe:
Người nói cần dành thời gian cần thiết trả lời các câu hỏi mà người nghe quan
tâm, chưa hiểu rõ. Đây là phần người nói có thể đánh giá được mức độ hiểu bài của
người nghe; là dịp để người nói trao đổi những kinh nghiệm, hiểu biết của mình cho
người nghe.
Tóm lại, hiệu quả của tuyên truyền miệng về pháp luật phụ thuộc vào rất nhiều
yếu tố. Để đạt hiệu quả tuyên truyền cao, người tuyên truyền cần phải dày công tích
luỹ, chuẩn bị đề cương, phải có nghệ thuật vượt qua hàng rào ngăn cách ban đầu về
mặt tâm lý, gây thiện cảm, gây sự chú ý của người nghe từ khi bắt đầu buổi nói
chuyện; phải biết tạo ra nhu cầu, kích thích, hấp dẫn, gây ấn tượng cho người nghe
trong suốt buổi nói; biết kết luận đúng cách để khi kết thúc còn đọng lại những điều
cần thiết cho người nghe tiếp tục suy nghĩ.
KIẾN NGHỊ

Trang
17
cách khác chúng ta phải tổ chức thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống của
nhân dân, làm cho mọi người dân hiểu được pháp luật, thực hiện theo pháp luật và tôn
trọng pháp luật. Trong đó, các thế hệ thanh thiếu niên học sinh là chủ nhân tương lai
của đất nước, các em phải được giáo dục rèn luyện về hạnh kiểm đạo đức, có đầy đủ
kiến thức văn hóa và kiến thức pháp luật để trở thành công dân hữu ích cho xã hội,
cán bộ có đủ “đức” và “tài” phục vụ cho Tổ quốc. Nhiệm vụ to lớn đó, trước hết các
trường trung học cơ sở phải gánh vác với nhận thức sâu sắc và đầy đủ tinh thần trách
nhiệm, chủ động cải tiến phương pháp giảng dạy, học tập để nâng cao chất lượng các
môn văn hóa, đặc biệt là môn Giáo dục công dân, giáo dục pháp luật. Đồng thời phối
hợp chặt chẽ với gia đình và xã hội, đẩy mạnh công tác giáo dục pháp luật cho học
sinh. Đây là việc làm thiết thực và đầy ý nghĩa, chính thông qua các hoạt động giáo
dục pháp luật cho học sinh vận dụng kiến thức pháp luật vào đời sống thực tiễn và từ
thực tiễn sinh động giúp cho học sinh có nhận thức sâu sắc về kiến thức pháp luật.
Tuy nhiên công tác giáo dục pháp luật cho học sinh còn là một vấn đề mới mẻ,
đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện. Bản thân với điều kiện nghiên
cứu còn hạn chế, tầm nhìn còn hạn hẹp, các vấn đề nêu trong tiểu luận chưa thể đáp
ứng được yêu cầu cả về lý luận và thực tiễn nên bản thân phải tiếp tục nghiên cứu, học
tập bằng nhiều phương pháp để hoàn thiện và có thể mở rộng đề tài nghiên cứu đáp
ứng được yêu cầu công tác giáo dục pháp luật cho học sinh trong các trường trung học
cơ sở nói riêng và ngành giáo dục nói chung, góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp
giáo dục và đào tạo của đất nước./.
Quận 12, ngày /7/2012
Người viết
Lâm Thị Ngọc Vân

Trang
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status