TIỂU LUẬN:
Ảnh hưởng của thuốc GHA lên một
số chỉ số tim mạch trên động vật
thực nghiệm cấp và bán cấp
Tóm tắt đề tài
Nghiên cứu độc tính cấp, bán cấp và tác dụng của chế phẩm GHA lên hệ
tim mạch được tiến hành trên 60 chuột nhắt trắng, 23 thỏ và 15 ếch.
Kết quả nghiên cứu cho thấy:
- Chưa tìm được LD
50
của chế phẩm thuốc GHA dạng cao lỏng 1/1 bằng
đường uống trên chuột nhắt trắng, chứng tỏ thuốc rất ít độc.
- Thuốc không ảnh hưởng đến các chỉ số huyết học và hoá sinh máu đánh
giá chức năng gan, có tác dụng cải thiện chức năng thải độc của thận ở thỏ thực
nghiệm.
- Chế phẩm GHA dạng cao lỏng 1/1 uống một lần liều 4ml/kg trong thí
nghiệm cấp và liều 3ml/kg liên tục 21 ngày trong thí nghiệm bán cấp đều có tác
dụng làm hạ HA mà không ảnh hưởng lên nhịp tim và điện tim thỏ thực nghiệm.
thận… và dễ gây nên những biến chứng hết sức nặng nề như chảy máu não, suy
tim… Tình trạng đó đã gây ảnh hưởng không nhỏ cho thu nhập và sức khoẻ của
người lao động.
Điều trị bệnh tăng HA theo y học hiện đại đã có những thành công nhất định.
Tuy nhiên kết quả điều trị không duy trì được lâu, bệnh thường tái phát khi ngừng
thuốc, hơn nữa các thuốc tân dược thường có tác dụng phụ ảnh hưởng đến sức
khoẻ của bệnh nhân [10].
Theo y học cổ truyền, tăng HA đã được mô tả rất lâu đời (Hoàng Đế - Nội
kinh) trong phạm trù “huyễn vựng” , “đầu thống”, “ can phong”, “can hoả”. Y
học cổ truyền đã có nhiều bài thuốc cổ phương, nghiệm phương và gia truyền để
điều trị chứng huyễn vựng. Tại Trung Quốc đã có hàng trăm chế phẩm và thương
phẩm y học cổ truyền để điều trị bệnh tăng HA [11], [15], [16].
ở Việt Nam đã có một số bài thuốc điều trị bệnh tăng HA theo Y học cổ
truyền, tuy nhiên chưa có chế phẩm thuốc hạ áp nào có nguồn gốc thảo mộc được
đánh giá đầy đủ về tính an toàn và tính hiệu quả.
Trên cơ sở kết hợp biện chứng luận trị chứng “huyễn vựng” theo y lý cổ
truyền và cơ chế bệnh sinh của y học hiện đại, Bộ môn - Khoa Y học cổ truyền,
Bệnh viện 103 đã tiến hành nghiên cứu chế phẩm dạng cao lỏng của bài thuốc
“GHA” từ 16 vị thuốc thảo mộc.
Theo quy chế đánh giá tính an toàn, tính hiệu quả của chế phẩm thuốc mới
trước khi đưa vào điều trị lâm sàng của Bộ Y tế (1993), chúng tôi tiến hành
nghiên cứu chế phẩm thuốc trên động vật thực nghiệm.
Mục tiêu của đề tài:
1. Xác định độc tính cấp và bán cấp của chế phẩm GHA trên động vật thực
nghiệm.
2. Đánh giá ảnh hưởng cấp và bán cấp của chế phẩm GHA lên hệ tim -
mạch trên động vật thực nghiệm.
prostaglandin (PGA, PGE); tiểu động mạch co làm tăng sức cản ngoại vi như khi
kích thích các thụ cảm thể - adrenergic, khi tăng catecholamin máu, khi hoạt
hoá hệ renin - angiotensin [3],[8].
2.2. Quan điểm của y học hiện đại về bệnh tăng huyết áp.
Theo hằng số sinh học người Việt Nam; người trưởng thành có HA tâm thu
(HATTh) trong giới hạn 90-140 mmHg, HA tâm trương (HATTr) trong giới hạn
60-90 mmHg. Nếu HATTh 140 mmHg và/ hoặc HATTr 90 mmHg là tăng HA
[10], [17].
2.2.1. Cơ chế bệnh sinh của tăng HA:
Các nhà sinh lý và lâm sàng tim mạch đã cố gắng nghiên cứu tìm hiểu để
giải thích cơ chế bệnh sinh của tăng HA nguyên phát, một số yếu tố đã được công
nhận, song còn nhiều điều chưa sáng tỏ. Đến nay, các nhà khoa học đều thừa nhận
tăng HA có liên quan đến: [2], [8], [18].
- Vai trò của hệ thần kinh giao cảm: ảnh hưởng đến cung lượng tim và sức
cản ngoại vi.
- Vai trò của hệ renin - angiotensin - aldosteron (hệ RAA): kiểm soát lượng
máu lưu hành.
- Các chất nội sinh điều hoà mạch như: oxyt nitric, các endothelin, các kinin,
sự thay đổi chức năng của thụ cảm thể áp lực, cơ thể bị giảm chất điều hoà HA
CGRP (calcitonin gene relaxted peptid) cũng là yếu tố gây tăng HA và quá trình
tự vữa xơ.
- Vai trò của yếu tố di truyền: có nhiều giả thuyết cho rằng đây là bệnh lý do
đa gen quy định và chịu ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường.
Các yếu tố trên tác động đến khối lượng máu lưu hành và thành mạch (giai
đoạn đầu gây co thắt các tế bào cơ trơn ở thành động mạch, giai đoạn sau gây phì
đại tế bào cơ trơn thành mạch, dẫn đến tăng sức cản ngoại vi).
2.2.2. Điều trị:
Trong khi vận dụng pháp trị lâm sàng có thể dùng độc pháp có thể phối hợp các
phương pháp khác nhau, phải linh hoạt sử dụng tuỳ theo diễn biến kết quả lâm
sàng [4].
Một số bài thuốc: [4], [11], [16].
Bài thuốc 1: cỏ nhọ nồi, cỏ xước, măng vòi, lá bạc hà, nước vo gạo.
Bài thuốc 2: bạch truật, đẳng sâm, hạt sen, ý dĩ, tâm sen, đăng tâm,
xương bồ, hạt muồng, ngưu tất, hoài sơn.
Bài thuốc 3: bán hạ chế, trần bì, tinh tre, hạ khô thảo, tỳ giải, rễ cỏ
tranh, thảo quyết minh, hoè hoa, ngưu tất.
2.4. Tổng quan một số vị thuốc trong bài thuốc GHA.
2.4.1. Thành phần của chế phẩm “GHA”
* Hoa Kim ngân: Flos Lonicerae.
Tính vị: ngọt, lạnh.
Tác dụng: thanh nhiệt giải độc, sơ tán phong nhiệt, phổ kháng khuẩn rộng,
có tác dụng ức chế liên cầu khuẩn, trực khuẩn lỵ… ức chế bệnh do vi rút gây nên,
có tác dụng chống viêm, giải độc, giảm cholesterol máu.
Chỉ định: điều trị mụn nhọt giai đoạn đầu, sưng nóng đỏ da,viêm ruột thừa
cấp, viêm phổi [5], [12], [15].
* Rễ Huyền sâm: Radix Sirophulariae.
Tính vị: đắng, ngọt, mặn, hàn.
Tác dụng: có tác dụng hạ huyết áp, giảm đường máu mức độ nhẹ. Ngoài ra
có tác dụng giãn mạch, tăng cường tuần hoàn cục bộ, dùng để điều trị viêm tắc
động tĩnh mạch.
Chỉ định: chứng ôn bệnh nhập doanh gây sốt cao về đêm, tâm phiền, miệng
khát, lưỡi hồng giáng, mạch sác thường dùng cùng sinh địa [5], [12], [15].
* Thân Rễ Đại hoàng: Rhizoma Rhei.
Tính vị: đắng, lạnh.
thành cục máu đông, giảm mỡ máu.
Chỉ định: điều trị phụ nữ kinh nguyệt không đều, điều trị mụn nhọt sưng đau,
thường dùng cùng với ngân hoa, liên kiều [5], [12], [15].
* Rễ Ngưu tất: Radix Achyranthis Bidentatae.
Tính vị: đắng, ngọt.
Tác dụng: hoạt huyết thông kinh, bổ can thận cương cân cốt, lợi niệu thông
lâm, thực nghiệm trên chuột thấy có tác dụng giảm viêm các khớp và làm giảm
sưng nề. Ngoài ra có tác dụng hạ HA, lợi niệu.
Chỉ định: điều trị các chứng ứ huyết trở trệ gây kinh bế, điều trị can thận hao
hư gây đau lưng mỏi gối. Điều trị đau đầu, hoa mắt , mắt đỏ [5], [12], [15].
* Mẫu lệ (Vỏ con Hà): Concha Ostreae.
Tính vị: mặn, sáp, hơi hàn.
Tác dụng: bình can tiềm dương.
Chỉ định: điều trị chứng can dương thượng cang, đau đầu chóng mặt [5],
[12], [15].
* Rễ Hoàng kỳ: Radix Astragali.
Tính vị: ngọt, hơi ôn.
Tác dụng: bổ khí thăng dương, lợi niệu tiêu thũng, lợi niệu, chống lão suy,
hạ HA.
Chỉ định: điều trị tỳ vị khí hư, khí đoản, ăn ít, đại tiện lỏng nát, tứ chi mệt
mỏi [5], [12], [15].
* Rễ Đương quy: Radix Angelicae Sinensis.
Tính vị: ngọt, cay, ấm.
Tác dụng: bổ huyết, hoạt huyết, điều kinh, nhuận tràng, giảm tụ tập tiểu cầu,
chống lại sự đông máu, tăng cường sản sinh hồng cầu, giảm thiếu máu cơ tim,
giãn mạch, cải thiện tuần hoàn ngoại vi, giảm mỡ máu.
Chỉ định: điều trị tâm can huyết hư, chóng mặt, hồi hộp [5], [12], [15].
2.4.2. Công thức và dạng bào chế của “GHA”
* Công thức:
Vị thuốc Tỷ lệ
Thân rễ Đại hoàng
Vỏ Nhục quế
Vỏ quả Ngũ vị tử
Cành Cầu đằng
Rễ Bạch thược
Rễ Huyền sâm
Kim Bất hoán
Thạch quyết minh
Mẫu lệ
Rễ Đan sâm
Rễ Hoàng kỳ
Rễ Đương quy
Rễ Ngưu tất
Lá Thạch vĩ
Rễ Phòng kỷ
Hoa Kim ngân
1
1
1
3
3
3
3
4
4
4
* Động vật do Ban Chăn nuôi động vật Học viện Quân y cung cấp, được
nuôi trong điều kiện phòng thí nghiệm tại Bộ môn Sinh lý học Học viện Quân y
đảm bảo đủ thức ăn, nước uống.
3.2. Chất liệu nghiên cứu và liều dùng.
* Chất liệu nghiên cứu: thuốc GHA dạng cao lỏng 1/1 do Bộ môn Dược học
quân sự, HVQY cung cấp.
* Liều dùng cho nghiên cứu cấp diễn: thỏ uống thuốc một lần với liều 4ml
cao lỏng cho 1 kg(tương đương 4 g/kg thể trọng).
* Liều dùng cho nghiên cứu bán cấp diễn: thỏ uống thuốc với liều 3ml cao
lỏng/kg thể trọng/ngày 21 ngày.
* Động vật thuộc lô chứng cho mỗi điều kiện thí nghiệm trên được uống
nước muối sinh lý NaCl 0,9% với liều lượng như ở lô uống thuốc.
* Dịch truyền tiếp lưu trên ếch và tai thỏ cô lập ở nhóm thực nghiệm là dung
dịch thuốc 0,25%, đối chứng là dung dịch Ringer.
3.3. Phương pháp nghiên cứu.
3.3.1. Chỉ tiêu nghiên cứu và cách xác định.
3.3.1.1. Xác định độc tính cấp (LD
50
):
Độc tính cấp (LD
50
) của thuốc được xác định theo phương pháp của
Abraham và Turner R (1965): 60 chuột nhắt được chia làm 5 lô, mỗi lô 12 con, 5
lô chuột được uống thuốc với liều tăng dần từ 15-75 g/kg thể trọng, mức tăng 15
g. Quan sát tình trạng và số chuột thí nghiệm bị chết ở từng lô trong thời gian 72
giờ kể từ thời điểm sau uống thuốc.
3.3.1.2. Xác định độc tính bán cấp.
- Ngay sau mổ (xuất phát điểm).
- Sau 15 phút - 30 phút - 45 phút - 60 phút - 90 phút - 120 phút.
* Ghi điện tim (ECG) thỏ:
Chỉ ghi ECG ở nhóm thỏ nghiên cứu bán cấp diễn. Ghi ECG trước khi uống
thuốc và sau 21 ngày uống thuốc bằng máy ghi điện tim một bút Cardiofax của
hãng Nihon Kohden (Nhật Bản) với tốc độ giấy chạy 50 mm/s. Ghi ECG ở các
đạo trình cơ bản D
1
, D
2
, D
3
.
* Tiếp lưu trên tai thỏ cô lập:
Tiếp lưu trên tai thỏ cô lập theo phương pháp của Kracop: đặt một ống potylen
vào động mạch trung tâm tai thỏ, cô lập tai khỏi cơ thể. Rửa sạch máu trong các
mạch máu tai thỏ bằng cách tiếp lưu dung dịch Ringer . Sau đó định chuẩn tốc độ
truyền bằng dung dịch Ringer là 14 giọt/phút với độ cao 100 cm và thể tích dịch 500
ml. Sau khi xác định tốc độ dịch Ringer chảy ra từ hệ tĩnh mạch rìa tai thỏ trong 1
phút, ta chuyển sang truyền dung dịch thuốc 0,25%. Theo dõi số giọt dịch chảy ra từ
tĩnh mạch trong thời gian 1 phút tại các thời điểm: xuất phát (Truyền dung dịch
Ringer) và khi truyền dung dịch thuốc 0,25% tại các thời điểm: sau 1 phút - 5 phút -
10 phút - 15 phút - 30 phút. Và sau khi truyền lại bằng dung dịch Ringer lần hai.
* Tiếp lưu trên ếch:
Được thực hiện theo phương pháp của Trendlenbourg: đặt một ống potylen
vào động mạch chủ ếch và một canuyn thuỷ tinh vào tĩnh mạch chủ dưới của ếch,
rửa sạch máu bằng dung dịch Ringer. Định chuẩn tốc độ dịch truyền Ringer là 32
* Mô hình nghiên cứu trên thỏ:
Đánh giá độc tính và ảnh hưởng của thuốc trên tim, HA Nhóm thực nghiệm
cấp diễn
Nhóm thực nghiệm
bán cấp diễn
Lô uống
thuốc
Lô
chứng
Lô uống
thuốc
Lô
chứng - Ghi HA
động mạch
- Tần số tim
- Ghi HA động mạch
- Ghi điện tim
- XN huyết học, hoá sinh máu
3.3.3. Xử lý số liệu.
Các số liệu nghiên cứu được sử lý theo phương pháp thống kê sinh học
[14] theo chương trình Microsoft excel, với các thông số
X
, SD, so sánh giữa hai
lô nghiên cứu theo test Student.
Trong phần kết quả nghiên cứu, trên các bảng độ tin cậy được quy ước như sau:
p < 0,05 được đánh dấu bằng một dấu sao (*).
p < 0,01 được đánh dấu bằng hai dấu sao (**).
p < 0,001 được đánh dấu bằng ba dấu sao (***).
10’
IV. Kết quả nghiên cứu và bàn luận
4.1. Kết quả nghiên cứu độc tính cấp (LD
50
) của chế phẩm GHA.
Độc tính cấp của thuốc GHA đã được tiến hành trên chuột nhắt trắng theo
phương pháp của Abraham và Turner R. Kết quả nghiên cứu được trình bày trên
bảng 1.
Bảng 1: Độc tính cấp của thuốc GHA.
Lô n Liều (g/kg) Số chuột chết/sống sau 72 giờ
1 12 15 0/12
2 12 30 0/12
3 12 45 0/12
Thỏ ở các lô uống thuốc và lô chứng đều có sự phát triển tương đương nhau.
Nói cách khác, thuốc GHA không ảnh hưởng lên sự tăng trọng ở thỏ thí nghiệm.
Bảng 3: Sức bền hồng cầu (tính theo ‰ của dung dịch NaCl) của máu thỏ ở các
lô thí nghiệm bán cấp tính.
Chỉ số
nghiên cứu
Lô uống thuốc GHA
(n = 7)
Lô uống NaCl 0,9%
(n = 5)
p
Trước (1) Sau (2) Trước (3) Sau (4)
Sức bền tối thiểu
6,77
0,35
6,66
0,46
6,72
0,41
6,56
0,52
p
1-2
> 0,05
p
3-4
> 0,05
Sức bền tối đa
(n = 5)
p
Trước (1)
Sau (2) Trước (3)
Sau (4)
Hồng cầu (T/l)
4,24
0,18
5,22
0,67
4,78
0,29
5,79
0,42
p
1-2
< 0,001
p
3-4
< 0,01
Hemoglobin (g/l)
114,14
0,49
119,71
8,81
109,00
1,52
7,83
2,09
7,78
0,61
8,38
1,31
p
1-2
> 0,05
p
3-4
> 0,05
Tiểu cầu (G/l)
544,86
83,72
461,50
133,00
526,6
98,20
433,2
45,42
p
1-2
> 0,05
p
3-4
73,40 35,30 102,98 28,73
p > 0,05 p > 0,05
SGOT (u/l)
129,43 26,24
105,87 27,74
75,00 28,75 98,84 24,10
p > 0,05 p > 0,05
GT (u/l)
92,43 16,24 105,87 17,74
85,00 31,63 94,44 15,58
p > 0,05 p > 0,05
Từ bảng 5 cho thấy ở lô thỏ uống NaCl 0,9% các chỉ số hàm lượng urê,
creatinin, SGPT, SGOT và GT thay đổi không rõ rệt trong thời gian nghiên cứu.
ở lô thỏ uống thuốc 21 ngày tương tự như ở nhóm chứng, các chỉ số SGOT và
GT thay đổi không rõ rệt. Hàm lượng SGPT có xu hướng tăng, còn creatinin máu
có xu hướng giảm, nhưng chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Riêng hàm lượng
urê máu ở thỏ sau 21 ngày uống thuốc giảm rõ rệt so với thời điểm trước uống
thuốc (p < 0,01).Thận có chức năng đào thải các chất độc do chuyển hoá tạo nên
trong cơ thể mà đại diện là urê và creatin. Do đó sự giảm urê và creatin trong máu
là thể hiện chức năng thải độc của thận được tăng cường. Như vậy, dùng thuốc
GHA liều 3 ml/kg/ngày trong 21 ngày chưa có ảnh hưởng rõ rệt lên chức năng
gan; Không những không độc, mà còn có tác dụng cải thiện tốt chức năng thải độc
của thận. Điều này là phù hợp với tác dụng của các vị thuốc trong bài thuốc, như
các tác giả trước đây đã nêu [5], [12], [16]. Tác dụng cải thiện chức năng thải độc
của thận của bài thuốc có lẽ do công dụng lợi tiểu của các vị Phòng kỷ, Thạch vỹ,
92,80 5,60
100 p
1-2
> 0,05
Sau 15 phút
75,33 9,44*
86,91
87,80 5,40
94,64 p
1-2
< 0,05
Sau 30 phút
75,00 6,95*
86,53
90,20 6,01
97,20 p
1-2
< 0,05
Sau 60 phút
73,50 4,85**
84,80
86,20 6,94
92,89 p
1-2
< 0,05
Sau 120 phút
1b-2b
< 0,05
(Các dấu “*” là so với trị số xuất phát điểm).
Các số liệu ở bảng 6 cho thấy:
- Xuất phát điểm, HA ở thỏ thuộc hai lô nghiên cứu là tương đương nhau (
p > 0,05).
- Trong quá trình thí nghiệm, ở lô thỏ uống NaCl 0,9%, HA của thỏ giảm nhẹ