MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là nước nông nghiệp, có gần 80% dân số sống ở nông thôn
và 70% lao động làm nông nghiệp, do đó nông nghiệp là ngành kinh tế giữ vị
trí trọng yếu trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đảng và Nhà nước ta chủ trương mở mang
công nghiệp, dịch vụ ngay trên địa bàn nông thôn. Trong bối cảnh đó, việc
huy động có hiệu quả các nguồn vốn để cung ứng đủ vốn cho nông nghiệp,
nông thôn là vấn đề trọng tâm và có ý nghĩa quyết định. Hà Nội là trung tâm
chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật của cả nước. Trong những
năm đổi mới, nông nghiệp ngoại thành Hà Nội có sự chuyển biến mạnh mẽ;
phát triển đa dạng, phong phú và đạt trình độ thâm canh cao hơn các vùng,
miền khác trong cả nước. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển một nền nông
nghiệp hàng hóa hiện đại, nông nghiệp ngoại thành Hà Nội vẫn còn những
yếu kém. Sự phát triển nông nghiệp ở vùng này còn gặp nhiều hạn chế, trở
ngại, trong đó có vấn đề: thiếu vốn và chưa huy động được tối đa các nguồn
vốn vào phát triển nông nghiệp. Vấn đề huy động vốn trên địa bàn ngoại
thành có những lợi thế, đặc điểm và yêu cầu riêng. Các giải pháp nào đẩy
mạnh việc huy động có hiệu quả các nguồn vốn để phát triển nông nghiệp
ngoại thành Hà Nội? Do đó chọn đề tài luận văn này vẫn là cần thiết, góp
phần nhỏ vào việc giải đáp các câu hỏi trên đây.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Phạm trù tư bản, tích tụ và tập trung tư bản; vai trò của nó trong quá
trình công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa đã được các nhà kinh điển của chủ
nghĩa Mác - Lênin đề cập trong nhiều tác phẩm. Hiện nay, trên các ấn phẩm,
các nhà kinh tế học hiện đại cũng tiếp tục nghiên cứu vấn đề này.
Ở nước ta, dưới ánh sáng đường lối đổi mới kinh tế của Đảng, vấn đề
vốn phục vụ phát triển nền kinh tế quốc dân nói chung, vốn cho phát triển
1
2
trình nào đi sâu vào vấn đề huy động vốn trên địa bàn các huyện ngoại thành,
nơi mà điều kiện, đặc điểm và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội chứa đựng
những đặc trưng kinh tế riêng đang đòi hỏi phải được nghiên cứu. Vì vậy,
luận văn: "Vốn để phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội trong giai
đoạn hiện nay" là đề tài cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng huy động vốn trong nông nghiệp
ngoại thành Hà Nội, đề xuất những phương hướng, giải pháp khả thi nhằm
huy động có hiệu quả các nguồn vốn để phát triển nông nghiệp ngoại thành
Hà Nội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về vốn, đặc điểm, vai trò
vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp nói chung và nông nghiệp ngoại thành
Hà Nội nói riêng.
- Phân tích, đánh giá thực trạng huy động vốn phục vụ phát triển
nông nghiệp ngoại thành Hà Nội.
- Luận chứng phương hướng, giải pháp huy động có hiệu quả các
nguồn vốn phục vụ phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Nội dung nghiên cứu của luận văn liên quan chủ yếu đến lĩnh vực huy
động vốn trong nước (vốn bằng tiền) để phát triển nông nghiệp ngoại thành
Hà Nội.
Chương 1
VỐN ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
1.1. VỐN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm về vốn
Vốn là nguồn lực quan trọng nhất đối với tăng trưởng và phát triển
kinh tế của mọi quốc gia. Việt Nam là nước đang phát triển, nhu cầu về vốn
là rất lớn. Tuy nhiên, do tích lũy từ nội bộ nền kinh tế còn quá thấp, khả
năng "hút" vốn từ nước ngoài còn hạn hẹp nên lượng vốn đầu tư cho phát
triển nền kinh tế còn rất thiếu. Vì vậy, nhận thức và vận dụng đúng đắn
phạm trù vốn sẽ là tiền đề thúc đẩy việc khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng
về vốn để đầu tư phát triển nền kinh tế nói chung, kinh tế nông nghiệp nói
riêng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Cho đến nay đã có nhiều khái niệm về vốn dưới các giác độ khác nhau:
Theo nghĩa rộng, vốn gồm toàn bộ các nguồn lực kinh tế được đưa
vào chu chuyển, như: tiền, lao động, vật tư, tài nguyên, máy móc, thiết bị,
ruộng đất; giá trị của những tài sản vô hình, như: vị trí đất đai, công nghệ,
quyền phát minh, sáng chế. Trong các nền kinh tế phát triển thì tài sản vô
hình ngày càng có vai trò quan trọng trong cơ cấu vốn.
Theo nghĩa hẹp, vốn là một trong ba yếu tố đầu vào phục vụ cho sản
xuất (lao động, đất đai, vốn). Đối với các nhà kinh tế, vốn là yếu tố thứ ba
của sản xuất (các yếu tố khác là lao động và đất đai) được kết hợp lại để sản
xuất hàng hóa và dịch vụ.
Các nhà kinh tế học thuộc các trường phái kinh tế trước C.Mác đã
nghiên cứu vốn thông qua phạm trù tư bản và đi đến kết luận: vốn là phạm
trù kinh tế.
Ngày nay, do yêu cầu của sự phát triển, vốn không những là yếu tố
Các tài sản vật chất trong quá trình sử dụng hao mòn theo thời gian
và do nhu cầu sử dụng các tài sản vật chất ngày càng tăng cho nên phải tiến
hành thường xuyên việc bù đắp hao mòn và tăng thêm khối lượng các tài sản
vật chất mới và tăng thêm hàng hóa tồn kho [12, 138-139].
6
- "Vốn là những tài sản có khả năng tạo ra thu nhập và bản thân nó
cũng được cái khác tạo ra. Vốn là một trong bốn yếu tố sản xuất, và bao gồm
máy móc, nhà máy và nhà cửa là cái làm cho sản xuất trở thành hiện thực
nhưng trừ nguyên liệu thô và có thể được coi như là giữ giá trị được tích trữ của
những cái này" [7, 56].
Từ những cách tiếp cận trên về vốn, có thể rút ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất, vốn là một trong những nhân tố không thể thiếu trong quá
trình sản xuất ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Nó góp phần tạo ra thu nhập,
đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Thứ hai, vốn không chỉ là lượng tiền mặt nhất định trực tiếp đầu tư
sinh lợi nhuận mà còn là đại diện về mặt giá trị cho những tài sản hữu hình
và vô hình tham gia vào các quá trình sản xuất - kinh doanh.
Thứ ba, vốn được biểu hiện bằng tiền. Song, không phải tất cả tiền
đều là vốn. Tiền là hình thái biểu hiện của vốn. Trường hợp tiền để tiêu dùng
hàng ngày, tiền để cất trữ không được coi là vốn. Đó là các khoản để chi tiêu
và tiền tiết kiệm để giành, là các khoản tiền không sinh lời, không thể tạo ra
sự phát triển kinh tế. Chỉ có những đồng tiền được đảm bảo bằng tài sản thật,
đưa vào đầu tư kinh doanh với mục đích sinh lời mới là vốn.
Trong nền kinh tế thị trường, cách vận động và phương thức vận
động của tiền do phương thức đầu tư kinh doanh quyết định.
Trên thực tế, sự vận động của vốn có ba hình thức:
+T-H
Một là, vốn trong nước là toàn bộ những giá trị của tất cả các yếu tố
cần thiết để cấu thành quá trình sản xuất, được hình thành nên từ nguồn lực
kinh tế và sản phẩm thặng dư của nhân dân lao động trong một quốc gia [29,
17]. Hay, nói cụ thể hơn, vốn trong nước là toàn bộ những giá trị của tất cả các
yếu tố cần thiết cấu thành quá trình sản xuất, bao gồm: tiền mặt, nhà xưởng
máy móc thiết bị, vật kiến trúc, nguyên liệu, đất đai, lao động, kinh nghiệm
quản lý, chữ tín của khách hàng đối với sản phẩm, bí quyết công nghệ, vị trí
kinh doanh, mạng lưới tiêu thụ sản phẩm,... Được hình thành nên từ các
nguồn lực kinh tế và sản phẩm thặng dư của nhân dân lao động trong một
quốc gia.
Như vậy, các nhân tố cấu thành vốn trong nước là rất đa dạng: vốn
bằng tiền, các dạng của cải, vốn con người, vốn tài sản,... Trong điều kiện
nền sản xuất hàng hóa, các loại vốn trên có thể thâm nhập vào nhau, chuyển
hóa cho nhau và dĩ nhiên, chúng sẽ trở thành tiền mặt trong những điều kiện
cụ thể. Vì vậy, cần có cách nhìn biện chứng, linh hoạt về các nguồn vốn. Từ
8
đó mà có biện pháp khai thác, huy động nguồn vốn còn tiềm ẩn trong nền
kinh tế vào phát triển kinh tế. Nhất là, khi có một nguồn vốn nhất định đủ
sức tiến hành sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hàng hóa thì điều quan
trọng là phải tìm cách cấu trúc tối ưu các yếu tố, quản lý có hiệu quả chúng
để đạt hiệu quả cao trong kinh doanh.
Hai là, vốn bằng tiền (tiềm lực về tài chính) đầu tư vào phát triển
nông nghiệp. Nói cụ thể, vốn đầu tư trong nông nghiệp là biểu hiện bằng tiền
của tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng vào sản xuất kinh
doanh trong lĩnh vực nông nghiệp.
Vốn là yếu tố không thể thiếu đối với tăng trưởng và phát triển kinh
tế. Để tiến hành sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp hay trên phạm vi
từng quốc gia cần phải có các khoản tiền ứng ra để đầu tư ban đầu và đầu tư
Vốn pháp định là bộ phận quan trọng hợp thành vốn đầu tư của doanh
nghiệp. Trên thực tế, để giảm bớt rủi ro, các chủ thể đầu tư thường xây dựng
phương án kinh doanh với tỷ lệ góp vốn pháp định trong tổng vốn đầu tư
càng ít càng tốt; vốn vay là lượng vốn huy động từ các nguồn bên ngoài chủ
thể kinh doanh để đảm bảo tính liên tục, hiệu quả của quá trình sản xuất.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn vay là lượng vốn chiếm phần lớn trong tổng
vốn đầu tư.
Ngoài các cách phân loại trên, người ta còn có những cách thức phân
loại vốn khác,như: phân theo giác độ sử dụng vốn có hai loại: vốn đầu tư
trực tiếp và vốn đầu tư gián tiếp; căn cứ vào quyền sở hữu các nguồn vốn để
tiến hành đầu tư trên tổng thể nền kinh tế có vốn đầu tư trong nước và vốn
đầu tư nước ngoài,... [40, 13]. Trong nền kinh tế thị trường, ở mỗi góc nhìn
khác nhau cho ta những quan niệm khác nhau về vốn, đầu tư vốn, song, xét
về bản chất nó là thể thống nhất. Việc phân chia vốn thành các loại khác
nhau nhằm mục đích hiểu rõ bản chất phạm trù vốn. Nói cách khác, là hiểu
được tính đa dạng, phong phú và rất phức tạp của vốn đầu tư trong nền kinh
tế thị trường, giúp cho các chủ thể kinh doanh có kế hoạch chủ động để huy
động và sử dụng vốn ngày càng có hiệu quả.
1.1.2. Cơ cấu nguồn vốn và các phương thức huy động vốn trong
nước
10
1.1.2.1. Cơ cấu nguồn vốn
Hiện nay, nguồn vốn trong nước tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau,
nhưng tựu chung lại có các loại: vốn ngân sách nhà nước, vốn doanh nghiệp,
vốn tín dụng ngân hàng và vốn tích lũy của dân cư.
- Nguồn vốn ngân sách nhà nước: Nguồn này được hình thành thông
qua việc tiết kiệm của chính phủ. Nói cách khác, phần tiết kiệm của chính
- Nguồn vốn tín dụng: Nguồn này được hình thành từ vốn tự có của
ngân hàng, vốn huy động, vốn vay và các nguồn khác. Nền kinh tế thị trường
càng phát triển, nguồn vốn tín dụng càng trở thành nguồn vốn chủ yếu trong
tổng vốn kinh doanh của các chủ thể kinh tế. Ở nước ta, nguồn vốn tín dụng
được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng thương mại, ngân hàng cổ
phần, quỹ tín dụng nhân dân. Trong đó, hệ thống ngân hàng thương mại bao
gồm: Ngân hàng trung ương (Ngân hàng nhà nước), Ngân hàng Nông nghiệp
và phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân
hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Trong đó, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam là ngân
hàng chủ yếu cung ứng vốn tín dụng cho phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Tính đến cuối năm 1998, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam đã có tổng nguồn vốn kinh doanh là 31.789 tỷ đồng, tăng 29%
so với năm 1997. Trong 7 tháng đầu năm 1999, do tích cực tìm nguồn vốn rẻ và
ổn định, mở rộng quan hệ với bạn hàng nước ngoài, khai thác các nguồn vốn ủy
thác quốc tế; mở rộng mạng lưới tín dụng ở nông thôn nên Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn đảm bảo được tốc độ tăng trưởng tín dụng cao,
tổng nguồn vốn tăng 12,9% so với 1998. Trong đó, vốn tín dụng tăng 6,4% [5].
Và, đến cuối 1998, Ngân hàng trên cho vay hết số vốn ước khoảng 691 tỷ đồng,
thu nợ 69,7 tỷ đồng, dư nợ 621 tỷ đồng và nợ quá hạn 679 triệu đồng, chiếm
0,15% dư nợ. Đồng thời Ngân hàng đã tài trợ cho 229.477 tiểu dự án với
doanh số cho vay là 994,3 tỷ đồng, dư nợ đến 31/10/1999 là 686 tỷ đồng [51].
Tuy nhiên, khả năng cấp tín dụng của các ngân hàng còn nhiều hạn chế, chưa
đáp ứng được các tài trợ về đầu tư cơ bản. Nguồn vốn huy động được chủ
yếu mới cho vay ngắn hạn. Vốn cho vay trung và dài hạn còn rất khiêm tốn.
12
- Nguồn vốn của dân cư: Đây là nguồn được hình thành từ phần còn
170
1993
13.000
120
1994
17.000
130
1995
20.000
117,7
1996
24.000
120,6
1997
28.000
doanh, gần 200 chi nhánh của 63 ngân hàng thương mại cổ phần và 186 quỹ
tín dụng nhân dân. Các ngân hàng thương mại huy động vốn thông qua tiền
gửi tiết kiệm của dân cư, tiền gửi của các tổ chức kinh tế, phát hành kỳ phiếu
ngân hàng thương mại, hình thành các quỹ tín dụng nhân dân. Bên cạnh đó,
ngân hàng còn thực hiện các phương thức huy động vốn mới, như: huy động
vốn cổ phần xác lập và cổ phần thường xuyên từ các hộ sản xuất kinh doanh
ở nông thôn. Số dư tiền gửi loại hình này lên tới hàng trăm tỷ đồng. Các
ngân hàng đầu tư phát triển, ngân hàng công thương đã hình thành hình thức
huy động tiết kiệm xây dựng nhà ở (điển hình là Ngân hàng phát triển nhà ở
đồng bằng sông Cửu Long), với số vốn huy động hàng ngàn tỷ đồng. Các
loại trái phiếu vô danh, trái phiếu ghi danh của các ngân hàng phát hành trên
thị trường theo chủ trương của Nhà nước vào các thời điểm khác nhau đã
khai thác được lượng vốn khá lớn. Ngoài ra, hình thức huy động vốn thông
14
qua mở tài khoản tiền gửi cho khoảng 50.000 tài khoản tiền gửi, với số dư
hàng chục tỷ đồng.
Về lãi suất: cơ chế điều hành lãi suất đã có sự thay đổi căn bản. Nếu
như trước đây, Ngân hàng nhà nước trực tiếp qui định mức lãi suất, thì từ
tháng 4 năm 1994, Ngân hàng nhà nước chỉ qui định khung lãi suất, còn
dành quyền chủ động cho các ngân hàng thương mại qui định các mức lãi
suất tiền gửi và cho vay cụ thể theo diễn biến cung cầu vốn trên thị trường. Ở
đây, thể hiện tính linh hoạt, mềm dẻo, hợp lý trong chính sách huy động các
nguồn vốn của Đảng và Nhà nước cũng như của ngành ngân hàng. Cũng
trong tháng 9 năm 1994 Thống đốc Ngân hàng nhà nước ra Quyết định số
211/QĐ/NH1 ban hành qui chế phát hành tín phiếu ngân hàng nhà nước và
Quyết định số 212/QĐ/NH1 ban hành thể lệ phát hành trái phiếu ngân hàng
thương mại, ngân hàng đầu tư phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho huy
nghiệp nhà nước.
Trái phiếu doanh nghiệp nhà nước là chứng chỉ vay nợ có kỳ hạn, có
mệnh giá và có lãi phát hành bao gồm các loại ký danh và vô danh, thời hạn
từ một năm trở lên tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng và khả năng thu hồi vốn
để trả nợ của doanh nghiệp nhà nước. Lãi suất trái phiếu doanh nghiệp nhà
nước được Bộ Tài chính qui định và do doanh nghiệp nhà nước công bố theo
từng đợt phát hành đảm bảo cho người mua trái phiếu được hưởng lãi suất
thực (+) với các chỉ số trượt giá và căn cứ vào hiệu quả sản xuất kinh doanh,
thu hồi vốn của doanh nghiệp.
Cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước là chứng chỉ thừa nhận sự góp vốn
và quyền sở hữu về vốn của chủ sở hữu cổ phiếu do doanh nghiệp nhà nước
phát hành nhằm góp vốn vào doanh nghiệp đang hoạt động hoặc góp vốn
thành lập doanh nghiệp mới mà nhà nước là người sáng lập. Cổ phiếu bao
gồm các loại ký danh và vô danh, phát hành dưới dạng chứng chỉ do kho bạc
nhà nước qui định theo mẫu. Cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước chỉ có một
loại mệnh giá do doanh nghiệp nhà nước qui định sau khi đã được Bộ Tài
chính chấp thuận. Lợi tức cổ phần được thanh toán hàng năm vào cuối năm
tài chính qui định, tùy thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh và theo Điều lệ
hoạt động doanh nghiệp. Cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước được tự do mua
16
bán, chuyển nhượng, thừa kế. Việc chuyển nhượng quyền sở hữu đối với các
loại cổ phiếu, ký danh và vô danh được thực hiện tại doanh nghiệp nhà nước,
nơi phát hành cổ phiếu và không phải chịu bất cứ khoản phí nào.
Trên thế giới, huy động vốn bằng cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp
nhà nước là phương thức quan trọng và phổ biến nhằm vay vốn để mở rộng
qui mô sản xuất kinh doanh, đổi mới thiết bị, công nghệ của doanh nghiệp. Ở
nước ta, phương thức huy động vốn này còn rất mới mẻ. Việc thành lập thị
tiếp đến việc giảm bội chi ngân sách nhà nước). Trái phiếu chính phủ được
phát hành dưới các dạng: tín phiếu kho bạc nhà nước, trái phiếu kho bạc nhà
nước và trái phiếu công trình.
+ Tín phiếu kho bạc nhà nước là loại trái phiếu ngắn hạn dưới một
năm, huy động vốn để bù đắp thiếu hụt ngân sách tạm thời trong năm tài
chính. Số dư nợ về trái phiếu kho bạc nhà nước đến cuối năm tài chính
(31/12) chưa đến hạn thanh toán được tính là khoản vay bù đắp thiếu hụt
ngân sách nhà nước và được hoàn trả trong năm tài chính tiếp theo.
+ Trái phiếu kho bạc là loại trái phiếu có thời hạn từ một năm trở lên,
huy động vốn để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước, đáp ứng nhu cầu chi
tiêu đầu tư phát triển trong kế hoạch ngân sách nhà nước được duyệt.
+ Trái phiếu công trình có hai loại: trái phiếu chính phủ huy động
vốn cho các công trình trung ương do Bộ Tài chính (Ngân sách trung ương)
bảo lãnh thanh toán.
Trái phiếu chính phủ bao gồm các loại ký danh và vô danh; phát hành
dưới dạng chứng chỉ trái phiếu và có nhiều mệnh giá khác nhau, được ghi
thu và thanh toán bằng đồng Việt Nam theo thời giá của cơ quan có thẩm
quyền quy định.
Lãi suất trái phiếu chính phủ do Bộ Tài chính công bố theo từng đợt
phát hành, sau khi đã thỏa thuận với Ngân hàng nhà nước Việt Nam, đảm
bảo cho người mua trái phiếu được hưởng lãi suất thực (+) có tính đến chỉ số
trượt giá. Mức lãi suất trái phiếu được xác định trên cơ sở tỷ lệ lạm phát và
biến động giá cả theo từng thời kỳ do Tổng cục Thống kê công bố; lãi suất
trái phiếu có thời hạn dài được qui định cao hơn lãi suất trái phiếu có thời
hạn ngắn; nhu cầu huy động vốn và khả năng huy động trái phiếu.
18
Ngoài ra còn có trái phiếu với lãi suất chỉ đạo, tổ chức đấu thầu chọn
trường và nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, dịch vụ. Sự tăng trưởng và
phát triển của nông nghiệp có tác động to lớn đến qui mô, tốc độ tăng trưởng
và phát triển của toàn bộ nền kinh tế, đẩy mạnh tích lũy vốn cho sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chính vì vậy, phát triển nông thôn nói chung,
nông nghiệp nói riêng luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng và đặt lên vị
trí hàng đầu. Đại hội Đảng lần thứ VIII khẳng định: "Nội dung cơ bản của
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong những năm còn lại của thập kỷ 90 là đặc
biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; phát
triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông,
lâm thủy sản" [16, 86]; để thực hiện nhiệm vụ trên phải "huy động mọi
nguồn vốn trong và ngoài nước để đầu tư phát triển, trong đó vốn trong nước
có ý nghĩa quyết định, vốn ngoài nước có ý nghĩa quan trọng... Chiến lược
lâu dài phải huy động tối đa nguồn vốn trong nước để chiếm tỷ lệ cao trong
đầu tư" [16, 228].
Thực hiện đường lối trên, thời gian qua đã huy động được lượng vốn
khá từ nhiều nguồn khác nhau để đầu tư phát triển nông nghiệp. Do đó, nông
nghiệp nước ta nói chung, nông nghiệp ngoại thành nói riêng từng bước phát
triển ổn định, khá toàn diện và đạt nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm
4,5% - 4,8%. Riêng về lương thực (gạo) của nước ta, từ chỗ phải nhập khẩu
đến nay trở thành nước xuất khẩu gạo có thứ hạng cao trong khu vực và thế
giới. Mặc dù vậy, lượng vốn đầu tư để phát triển nông nghiệp vẫn chưa đủ
mạnh để cải biến một cách cơ bản, đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ
nông nghiệp, cũng như phát triển khoa học - công nghệ, ứng dụng thành tựu
đó vào khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư..., đáp ứng yêu cầu thâm canh
nông nghiệp ở trình độ cao. Do đó, nền nông nghiệp nước ta vẫn đang đứng
trước những thách thức to lớn: cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch chậm chạp
và còn mất cân đối nghiêm trọng giữa trồng trọt - chăn nuôi - nghề rừng; thị
trường tiêu thụ nông sản không ổn định; chất lượng nông sản còn thấp, chưa
đủ sức cạnh tranh với sản phẩm đồng loại trên thị trường khu vực và thế
Các công nghệ cao được áp dụng vào nông nghiệp, như: công nghệ
sinh học; công nghệ loại hình "tri thức", như: công nghệ thông tin, công nghệ
quản lý, công nghệ nông nghiệp chính xác,... Bên cạnh đó những công nghệ
trên đòi hỏi phải có một hệ thống sản xuất giao lưu giữa các ngành, thay đổi
căn bản nền nông nghiệp và chuyển nền nông nghiệp từ truyền thống sang
nền nông nghiệp công nghiệp, hướng vào mục tiêu an toàn lương thực, gia
tăng sản phẩm xuất khẩu qua chế biến. Phấn đấu thời gian tới, Việt Nam
có thể đạt được từ 85% - 90% giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng năm. Muốn
vậy, phải có vốn và tăng lượng vốn đầu tư vào phát triển khoa học - công
nghệ phục vụ nông nghiệp để vừa có đủ vốn nhập khẩu những công nghệ
23
cao từ nước ngoài khi trong nước chưa nghiên cứu được; vừa có vốn để triển
khai, nghiên cứu, ứng dụng những công nghệ mới ở trong nước cho phù hợp
với điều kiện cụ thể nền nông nghiệp Việt Nam. Một khi khoa học - công
nghệ xâm nhập được vào nông nghiệp sẽ mang lại hiệu quả sản xuất - kinh
doanh cao.
Biểu 2: Năng suất của một số cây trồng nhờ áp dụng công nghệ sinh học
Đơn vị tính: Tấn/ha
Loại cây trồng
Thời kỳ những năm 80
Thời kỳ những năm 90
- Mía
70 - 90
1.000
10 - 20
40 - 100
- Cây lấy gỗ
Nguồn: Chương trình phân tích và lựa chọn chiến lược công nghiệp hóa Bộ Khoa học - công nghệ và môi trường, Hà Nội 1994 [8, 42].
Hiểu rõ tầm quan trọng của khoa học - công nghệ, Đảng ta đã xác
định: "Khoa học - công nghệ là nền tảng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Khoa học và công nghệ có vai trò quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ
phát triển của mỗi quốc gia" [14, 60]. Trong những năm qua, tỷ lệ đầu tư cho
khoa học - công nghệ đã từng bước tăng lên. Năm 1998 đạt 1,28% tổng chi
ngân sách, tương đương với 1.054 tỷ đồng. Song, về lâu dài phải nâng tỷ lệ
đầu tư cho khoa học - công nghệ, đặc biệt là khoa học - công nghệ ứng dụng
trong nông nghiệp lên 2% tổng chi ngân sách. Đồng thời tích cực thu hút các
nguồn vốn vào phát triển lĩnh vực này. Từ năm 1995, Thủ tướng Chính phủ
đã ra quyết định thành lập Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia theo Quyết định số
808/TTg (9/12/1995) hoạt động theo Luật khuyến khích đầu tư. Mục tiêu của
24
Quỹ là hỗ trợ một số ngành nghề được khuyến khích phát triển, trong đó có
lĩnh vực công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp.
Thứ ba: Vốn tác động vào hệ thống công nghiệp phục vụ sản xuất nông
nghiệp làm thay đổi năng suất, chất lượng và hiệu quả nông phẩm hàng hóa.
Hệ thống công nghiệp phục vụ nông nghiệp được hình thành bởi các