Ảnh hưởng của kinh tế thị trường tới lối sống của sinh viên Hà Nội trong giai đoạn hiện nay - Pdf 28

1
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP KHOA
(Ghi theo các tiêu chuẩn chấm điểm công trình)
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
LỜI CẢM ƠN
Chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc, lời tri ân chân thành tới các thầy giáo, cô
giáo trong khoa Giáo dục chính trị- trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã dạy dỗ,
chỉ bảo và truyền đạt kiến thức cho chúng em trong suốt thời gian vừa qua, đặc
biệt là các thầy, cô giáo trong chuyên ban Chủ nghĩa xã hội.
Chúng em xin chân thành cảm ơn Ts Nguyễn Văn Long đã tận tình giúp đỡ, chỉ
bảo để chúng em hoàn thành được đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 14 tháng 3 năm 2011
SINH VIÊN
Nguyễn Ngân Hà
Nguyễn Thị Hoa
Nguyễn Thị Ngân
2
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
Điểm số:

2.1.2. Một số đặc điểm tâm lý cơ bản của sinh viên……………… 20
2.1.3. Khái niệm lối sống sinh viên………………………………. 22
2.2. Thực trạng lối sống sinh viên dưới ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế thị
trường………………………………………………… 22
2.2.1. Khái quát lối sống sinh viên hiện nay……………………… 22
2.2.2. Thực trang lối sống sinh viên………………………………. 24
Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm phát huy những ảnh
hưởng tích cực và khắc phục những hạn chế tiêu cực của nền kinh tế
thị trường tới lối sống sinh viên…………………………………………. 42
1. Phát huy những ảnh hưởng tích cực của lối sống sinh viên……. 43
2. Khắc phục những biểu hiện tiêu cực của lối sống sinh viên…… 43
KẾT LUẬN…………………………………………………………… 46
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………… 48
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay đất nước ta đang tiến hành đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội, trong đó đổi mới kinh tế là trọng tâm. Thực chất của
đổi mới kinh tế là chuyển từ cơ chế bao cấp của nhà nước sang nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự quản lý của nhà nước, đã
mở ra một giai đoạn phát triển mới cho đất nước.
Cơ chế thị trường kích thích sự phát triển kinh tế, nâng cao tổng lợi xã
hội, tạo điều kiện cho sự phát triển con người về mọi mặt, trong đó có đạo
đức. Con người tham gia vào hoạt động kinh tế thị trường về nhân cách được
độc lập, tự do có quyền bình đẳng trong cạnh tranh, giữ chữ tín trong trao đổi
và tăng cường quan tâm phát triển lợi ích chung của xã hội. Trong giai đoạn
phát triển này thì không thể kể đến vai trò của lớp trẻ mà cụ thể là sinh viên-
thế hệ sẽ kế tiếp những truyền thống tốt đẹp của cha ông trong sự nghiệp xây
dựng đất nước giàu mạnh, công bằng và văn minh. Tuy nhiên, cùng với sự
thay đổi sang cơ chế thị trường như hiện nay thì lối sống, cách nghĩ của sinh

bản chất lối sống xã hội chủ nghĩa, cơ sở kinh tế chính trị của lối sống đã
được đề cập.
6
Ở nước ta từ những năm 80 đã xuất hiện những công trình trình bày
những vấn đề có tính lý luận về lối sống như tác giả Vũ Khiêu với “Lối sống
là gì?”(11), tác giả Hà Xuân Trường với bài báo: “Từng bước xây dựng nền
văn hóa mới”, trong đó đề cập đến nếp sông văn hóa và các mặt biểu hiện của
nó. Phong Châu và Nguyễn Trọng Thu: “Về lối sống của chúng ta” và những
vấn đề về lối sống được tác giả Lê Như Hoa trình bày trong “Bàn về lối sống
và nếp sống xã hội chủ nghĩa”(7). Đây là công trình nghiên cứu lý luận, trình
bày khá hệ thống các khái niệm và các mặt cần nghiên cứu lối sống ở Việt
Nam theo mô hình chủ nghĩa xã hội bao cấp (trước 1986). Từ bình diện nhân
cách và nhân tố văn hóa trong lối sống, tác giả Đỗ Huy đã nêu: Lối sống cũng
như văn hóa có một điểm gặp gỡ chung, đó là trình độ phát triển các quan hệ
nhân tính. Một lối sống có văn hóa trước hết phải là lối sống thể hiện được cái
đúng, cái đẹp trong các quan hệ giữa con người với con người tức là hướng
tới cái chân, cái thiện, cái mỹ. Mỗi một lối sống đều có một hệ chuẩn mực chi
phối nó; mỗi dân tộc, mỗi thời đại, mỗi xã hội đều có những chuẩn mực giá trị
khác nhau thể hiện ở các quan hệ đạo đức, pháp luật, thẩm mỹ, lối sống riêng
của chúng, mà biểu hiện tập trung nhất là nhân cách. Tác giả cho rằng việc
thẩm định chuẩn mực lối sống trên hướng nhân cách, hướng lựa chọn hành
vi của con người có một ý nghĩa quan trọng. Tác giả Tương Lai đã đề cập tới
mối quan hệ giữa đạo đức và lối sống của con người… Tác giả nhấn mạnh:
“chỉ qua lối sống người ta mới “nhìn thấy” đạo đức…” và “đạo đức mới của
chúng ta phải được biểu hiện ra trong lối sống của những người lao động”
Những công trình này các tác giả đề cập đến vấn đề cơ sở lý luận
nghiên cứu lối sống theo những quan điểm khác nhau và mới trên bình diện lý
thuyết, phương pháp luận nghiên cứu lối sống, xây dựng lối sống mới Xã hội
chủ nghĩa và đấu tranh chống lối sống Tư bản chủ nghĩa…
Vào những năm 90 của thế kỉ XX, từ khi công cuộc đổi mới được triển

những phương hướng, biện pháp nhằm giáo dục lối sống đạo đức lành mạnh
cho sinh viên qua đề tài “Xây dựng lối sống và đạo đức mới cho sinh viên Đại
học Sư phạm phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Trân trọng và kế thừa thành tựu của những công trình đi trước, song
chúng tôi cố gắng tìm một hướng sâu hơn, làm rõ hơn thực trạng lối sống sinh
viên dưới ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường trong giai đoạn hiện nay. Với
sự lựa chọn trên, đây là một hướng nghiên cứu mới về lối sống sinh viên và hi
vọng có nhiều đóng góp mới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
8
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Nền kinh tế thị trường và ảnh hưởng của nó tới lối
sống sinh viên.
3.2. Khách thể nghiên cứu: Sinh viên các trường đại học, cao đẳng.
3.3. Phạm vi nghiên cứu: Thành phố Hà Nội trong những năm gần đây.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Thông qua đề tài này chúng tôi hi vọng sẽ tìm ra giải pháp khắc phục
lối sống thiếu lành mạnh của sinh viên hiện nay đồng thời phát huy những lối
sống đẹp tạo điều kiện cho sinh viên phát triển nhân cách toàn diện xứng đáng
là chủ nhân tương lai của đất nước, nhằm xây dựng đất nước ngày một giàu
mạnh, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận nhằm xác định rõ khái niệm “kinh tế thị trường”, “lối
sống”, “lối sống sinh viên”.
- Tìm hiểu thực trạng sự phát triển của nền kinh tế thị trường trong giai đoạn
hiện nay, những biểu hiện của lối sống sinh viên dưới tác động của nền kinh
tế thị trường.
- Đề xuất định hướng và giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và
điều chỉnh những hạn chế của nền kinh tế thị trường tới lối sống sinh viên.
5. Phương pháp nghiên cứu

- Tập trung cao độ lực lượng của cả nước để tạo bước phát triển vượt bậc trong
nông nghiệp, đẩy mạnh lâm- ngư nghiệp, phát triển công nghiệp nhẹ, cải thiện
đời sống tinh thần cho nhân dân, tăng tích lũy cho công nghiệp hóa.
- Xây dựng thêm nhiều cơ sở mới vè công nghiệp nặng, mở mang giao thông
vận tải.
- Sử dụng hết lực lượng lao động, bước đầu hình thành cơ cấu công- nông
nghiệp.
- Hoàn thành cơ bản cải tạo xã hội chủ nghã ở Miền Nam, củng cố quan hệ sản
xuất ở Miền Bắc.
Tại Đại hội Đảng lần V (tháng 3-1982) Đảng tiếp tục đề ra những mục tiêu
nhằm phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.
Dưới sự chỉ đạo của Đảng nhân dân ta đã quyết tâm thực hiện và đạt được
những thành tựu nhất định. Tuy nhiên vẫn còn một số những tồn tại như:
10
- Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chưa thực sự được củng cố và hoàn thiện,
vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh, hợp tác xã nông nghiệp ở nhiều nơi
chỉ còn là hình thức.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có của nền kinh tế quốc dân còn yếu kém, thiếu
đồng bộ, cũ nát, lạc hậu, công nghiệp nặng chưa đáp ứng được nhu cầu tối
thiểu của nhân dân, công nghiệp nhẹ phụ thuộc chủ yếu vào nguyên liệu nhập
khẩu. Do đó, đại bộ phận lao động xã hội là lao động thủ công. Nền kinh tế
vẫn là sản xuất nhỏ.
- Nền kinh tế bị mất cân đối nghiêm trọng, sản xuất không đủ tiêu dùng, hầu
như không có tích lũy trong nội bộ nền kinh tế, phân công lao động kém phát
triển, năng suất lao động xã hội thấp.
- Phân phối lưu thông rối ren. Thị trường tài chính, tiền tệ không ổn định. Lạm
phát nghiêm trọng, giá cả tăng nhanh, đời sống nhân dân khó khăn. Tiêu cực
xã hội tăng lên, trật tự xã hội giảm sút.
Như vậy nền kinh tế nước ta thời kỳ trước đổi mới về cơ bản vẫn là một

Nam chính thức thực hiện công cuộc đổi mới. Đại hội VI đã đi vào lịch sử
như một Đại hội mở đầu cho thời kì đổi mới ở Việt Nam. Đại hội đã chỉ ra
những nguyên nhân căn bản dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội và trên cơ sở
đó đề xướng chủ trương đổi mới đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta phải trải qua nhiều chặng đường. Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát
của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế xã hội , tiếp tục
xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội
chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo.
Nội dung đổi mới về kinh tế:
- Chuyển sang cơ chế giá thị trường, đẩy lùi lạm phát.
Năm 1986, 1987, 1988 là những năm lạm phát liên tục ở mức 3 con số. Để
chống lạm phát và quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường, nhà nước đã chỉ
đạo chuyển từ cơ chế 2 giá sang cơ chế thị trường, thực hiện chính sách tự do
hóa lưu thông. Cơ chế này có tác dụng xóa bỏ sự phân biệt 2 thị trường, tạo ra
thị trường thống nhất, thông suốt, góp phần điều hòa cung cầu. Việc lợi dụng
chênh lệch giá và các nhu cầu giả tạo bị loại trừ. Về cơ bản, ngân sách chấm
dứt chi bù giá từ năm 1989.
Ngoài ra nhà nước còn áp dụng một số biện pháp khác nhằm khống chế tốc
độ lạm phát: gjảm bù lỗ cho khu vực kinh tế quốc doanh, giảm chi đầu tư xây
dựng cơ bản, nâng lãi suất tiền gửi tiết kiệm cao hơn chỉ số lạm phát, nới lỏng
việc nhâp khẩu hàng hóa. Tác động tổng hợp của những biện pháp trên đã góp
phần giảm mức độ lạm phát.
- Thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần đồng thời với đổi
mới cơ chế quản lý trong các ngành kinh tế quốc dân.
12
Từ sau năm 1986 trở đi đã có sự tồn tại và phát triển của các thành phần kinh
tế khác: kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản
nhà nước. Các thành phần kinh tế này đều vận động theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong công nghiệp, mở rộng quyền tự chủ kinh doanh cho các xí nghiệp quốc

2. Ảnh hưởng của kinh tế thị trường tới đời sống xã hội
Nền kinh tế thị trường phát triển đã đem lại một nguồn tài sản dồi dào
cho xã hội. Các kết quả tích cực của kinh tế cả nứoc 11 tháng 2010 chứng
minh cho nhận định trên .
Theo báo cáo của Tổng Cục Thống Kê Việt Nam (GSO), nhình chung
kinh tế- xã hội 11 tháng đạt được những kết quả tích cực .
Về nông nghiệp, tính đến ngày 15/11/2010, cả nước đã thu hoạch được
1453,4 nghìn ha lúa mùa, bằng 98,6% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa
phương phía Bắc thu hoạch 1137,5 nghìn ha, chiếm 95,7% diện tích gieo cấy
và bằng 98,7% cùng kỳ năm trước; các địa phương phía Nam thu hoạch 315,9
nghìn ha, bằng 98,5%.
Sản lượng thủy sản tháng 11/2010 ước tính đạt 442 nghìn tấn, tăng 6%
so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá 328 nghìn tấn, tăng 6,8%; tôm 56,5
nghìn tấn, tăng 4,8% .
Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 11/2010 theo giá so sánh 1994 ước
tính tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, giá trị sản
xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 717,1 nghìn tỷ đồng, tăng
13,8% so với cùng kỳ năm 2009, bao gồm khu vực kinh tế Nhà nước tăng
7,5%; khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng 14,5%; khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài tăng 16,9% (dầu mỏ và khí đốt giảm 2,7%, các ngành khác tăng
19,4%).
Trong 11 tháng, nhiều sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp có tốc
độ tăng cao hơn mức tăng chung của toàn ngành như: Khí hóa lỏng tăng
93,6%; sơn hóa học tăng 28,5%; sữa bột tăng 22,7%; bia tăng 20,7%; giày thể
thao tăng 20,2%; tủ lạnh, tủ đá tăng 18,8%; quần áo người lớn tăng 18,7%;
kính thủy tinh tăng 18,3%; khí đốt thiên nhiên dạng khí tăng 18%; xi măng
tăng14,9%,xemáytăng14,8%.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 11 tháng
năm 2010 ước tính đạt 1425,2 nghìn tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ năm
2009,nếuloạitrừyếutốgiáthìtăng14,7%.

hội để phát triển. Quá trình sáng tạo, phổ biến các giá trị văn hóa sẽ thu hút sự
tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân.
Kinh tế thị trướng đã đề cao trách nhiệm cá nhân, gắn liền động cơ và
hiệu quả như là một chuẩn mực giá trị trong hoạt động của con người, trong
nhân cách mỗi người. Nó buộc người ta phải khắc phục lối tư duy cảm tính,
phương thức tư duy kiểu “ngoại suy”, chủ quan và phải rèn luyện, nâng cao
15
phương thức tư duy lý tính, lành mạnh. Mục đích, động cơ phải dựa trên cơ sở
hiện thực và phải đi đôi với biện pháp, những phương tiện hữu hiệu để hiện
thực hóa trong thực tế.
Về phương diện đạo đức, lối sống, sự ảnh hưởng tích cực của kinh tế
thị trường là từng bước hình thành nhân cách tự chủ, tự lập trong con người,
rèn luyện con người ý thức lao động, bản lĩnh. Năng động, thích nghi và sáng
tạo. Đây là những phẩm chất đạo đức về ý chí, lòng dũng cảm, nghĩa vụ, tính
nguyên tắc và tự trọng ở mỗi con người cũng như cả cộng đồng.
2.2. Ảnh hưởng tiêu cực
Trong kinh tế thị trường phải đề phòng khuynh hướng, lối sống chạy
theo đồng tiền. Kinh tế thị trường có khuynh hướng mở rộng các nguyên tắc
trao đổi thị trường ra tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đời sống cá
nhân, đời sống cộng đồng, có khuynh hướng làm cho người ta coi giá trị thị
trường là giá trị chân thực duy nhất dùng để đo các giá trị khác. Họ định giá
trị của con người căn cứ vào của cải của người đó, từ đó tìm các quan hệ
trong sự đem lại lợi ích gì cho mình, cho cá nhân mình. Từ đây mà các quan
hệ tình cảm cao đẹp, ấm áp tình người có nguy cơ bị băng giá trong sự tính
toán vị kỷ.
Kinh tế thị trường cũng cần đề phòng khuynh hướng chạy theo lợi
nhuận đơn thuần, dẫn đến nguy cơ "thương mại hóa" (cái gì có tiền mới làm,
cái gì không có tiền, dù cần cũng không làm). Hơn thế nữa, khi chạy theo
đồng tiền có thể sẽ bất chấp đạo lý, những hủ tục mê tín có thể tăng nhanh,
các sản phẩm phản văn hóa, làm băng hoại con người có thể tràn lan, các bậc

đề dặt ra đối với tất cả các nước khi bước vào nền kinh tế thị trường trong đó
có Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng lối sống sinh viên dưới ảnh hưởng
của nền kinh tế thị trường trong giai đoạn hiện nay
17
1. Lối sống và quan niệm về lối sống
* Khái niệm lối sống
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lênin: Lối sống là một phạm trù
của chủ nghĩa duy vật lịch sử có liên quan chặt chẽ với phạm trù sản xuất của
cải vật chất. Trong một chừng mực nhất định, thuật ngữ lối sống được xem
như tương đồng với các thuật ngữ cách sống, nếp sống. Khái niệm lối sống
thường bao gồm các nội hàm sau:
- Lối sống là phương thức, là hoạt động của con người, được thể hiện bằng
hành vi và cách ứng xử của con người với cộng đồng và với xã hội. Lối sống
được hình thành trên cơ sở những điều kiện và các mối quan hệ kinh tế - xã
hội của phương thức nhất định.
- Lối sống không chỉ giới hạn trong lĩnh vứcản xuất của cải vật chất, nó thể
hiện cả trong hành động phi sản xuất của con người như đời sống hàng ngày,
trong lĩnh vực văn hóa, chính trị và cả trong chuẩn mực đạo đức mà con
người phải tuân thủ trong cách cư xử của mình.
- Lối sống mang tính giai cấp trong xã hội có giai cấp, không có lối sống chung
cho mọi người. Lối sống của giai cấp thống trị sẽ chi phối lối sống của các
giai cấp khác trong xã hội.
Về mặt ngữ nghĩa, “lối sống” trong tiếng Pháp là “mode de vie”, trong
tiến Anh là “mode of lifer”, trong tiếng Đức là “lebensweise”. Trong tiếng
Việt, lối sống là một danh từ ghép gồm “lối” và “sống”. “Lối” là lề lối, thể
thức, kiểu cách, phương thức. “Sống” là sinh hoạt, là quát trình hoạt động của
mỗi con người và xã hội loài người. Cho đến nay thuật ngữ đó đã được khái
niệm hóa dưới nhiều cách thức tiếp cận khác nhau.
Theo từ điển tiếng Việt (NXB Đà Nẵng, 1998) thì lối sống là hình thức

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tác giả đề tài đã thống nhất quan
niệm và vận dụng những nội dung của các định nghĩa trên trong nghiên cứu
của mình bời vì lối sống của sinh viên bao gồm nhiều mặt, nhiều mối quan hệ
của sinh viên với nhà trường, với cộng đồng và xã hội trong những hoàn cảnh
sống cụ thể.
2. Sinh viên và lối sống sinh viên
2.1. Khái niệm sinh viên và một số đặc điểm tâm lý sinh viên
2.1.1. Khái niệm sinh viên
Sinh viên là một bộ phận của thanh niên đang theo học ở các trường đại
học, cao đẳng. Họ là một nhóm xã hội đặc thù, đang trong gai đoạn phát triể
và hoàn thiện nhân cách, tích cực học tập, rèn luyện chuẩn bị gia nhập đội ngũ
19
tri thức, lao động kĩ thuật cao của đất nước. Trong bất cứ giai đoạn lịch sử
nào, thanh niên, sinh viên luôn là lực lượng năng động, sáng tạo và là nguồn
nhân lực được đào tạo với trình độ cao của xã hội. Mỗi thế hệ thanh niên nói
chung, sinh viên nói riêng đều thuộc về một nền văn hóa xã hội lịch sử nhất
định. Lịch sử tạo cơ sở và điều kiện cho họ thực hiện vị thế, vai trò xã hội mà
họ đảm nhiệm. Đồng thời, họ cũng là lớp người đóng góp những sáng tạo
mới, phát triển lịch sử.
Sinh viên là lực lượng kế tiếp, bổ sung cho đội ngũ tri thức tương lai.
Họ là lớp người có văn hóa cao và có nhiều điều kỉện đón nhận những thông
tin về tư tưởng, koa học kĩ thuật, văn hóa và được tập trung ở những trung
tâm kinh tế, văn hóa xã hội của địa phương. V.I.Lênin đã đánh giá sinh viên
là: bộ phận nhạy cảm nhất của giới tri thức, là tầng lớp có trìn độ tiên tiến
nhất trong hàng ngũ thanh niên. Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế- xã
hội hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng của giáo dục đại
học, đội ngũ sinh viên có nhiều biến đổi về định hướng giá trị, lối sống, nhu
cầu, nguyện vọng.
Sinh viên đại học chủ yếu ở lứa tuổi 17-18 đến 25-26, là lứa tuổi đang
trưởng thành về xã hội, chín muồi về thể lực, định hình về nhân cách.

lai trở thành niềm mong ước, sự kỳ vọng, lý tưởng, động cơ, mục đích cơ bản
nhất, quan trọng nhất trong cuộc sống và mọi hành động của sinh viên.
Tự đánh giá là một trong những phẩm chất quan trọng, một trình độ
phát triển cao của nhân cách. Tự đánh giá có ý nghĩa định hướng, điều chỉnh
hành động, hành vi của chủ thể nhằm đạt mục đích, lý tưởng sống một cách tự
giác. Biểu hiện cụ thể của nó là sinh viên không chỉ đánh giá hình ảnh bản
thân mình có tình cảm bên ngoài, hình thức mà còn đi sâu vào các phẩm chất,
các giá trị nhân cách. Do vậy tự ý thức, tự đánh giá có vai trò quan trọng đối
với tự nhận thức, tự phê phán và điều chỉnh lối sống của sinh viên.
2.1.3. Khái niệm lối sống sinh viên.
Khái niệm lối sống sinh viên không vượt ra ngoài nội hàm của khái
niệm lối sống đã được đề cập ở các phần trên. Lối sống sinh viên được đề cập
tong phần này cũng xác định tiếp cận trên bình diện tâm lý học mác xít.
Dựa trên định nghĩa lối sống đã được trình bày ở phần trên, có thể định
nghĩa lối sống sinh viên như sau:
21
“ Lối sống sinh viên là phương thức hoạt động đặc trưng của giới sinh
viên, thể hiện ở sự lựa chọn các hoạt động và cách thức thực hiện các hoạt
động đó trong những điều kiện chủ quan và khách quan nhất định.”
2.2. Thực trạng lối sống sinh viên dưới ảnh hưởng của sự phát triển
kinh tế thị trường
2.2.1. Khái quát lối sống sinh viên hiện nay
Hiện nay Việt Nam chúng ta đã và đang tiến hành xây dựng đất nước
theo công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Đây là một quá trình
khó khăn, đầy thử thách, mặc dù trong những năm vừa qua chúng ta đã đạt
được một số thành tựu khả quan: tỉ lệ tăng trưởng GDP năm 2003 đạt mức
cao nhất so với những năm trước 7,24%; nạn thất nghiệp giảm bớt, đời sống
của nhân dân ngày càng được nâng cao cả về mặt chất cũng ngư mặt lượng.
Và trong giai đoạn phát triển này thì không thể không kể đến vai trò của lớp
trẻ mà cụ thể là sinh viên- thế hệ sẽ tiếp nối những truyền thống tốt đẹp của

nay đang diễn ra quá trình phân hóa với 2 nguyên nhân cơ bản: tác động của
cơ chế thị trường dẫn đến khác biệt giàu nghèo, sự mở rộng quy mô đào tạo
khiến trình độ sinh viên chênh lệch. Dù vậy, vẫn có thể nhìn thấy trong đó
những đặc điểm tương đồng tới đây.
+ Tính thực tế: thể hiện ở việc chọn ngành chọn nghề, ở việc hướng
đến lựa chọn những kiến thức để học sao cho đáp ứng nhu cầu thực tế, chuẩn
bị kinh nghiệm làm việc cho tương lai,định hướng công việc sau khi ra
trường, thích những công việc thu nhập cao…Nói chung là tính mục đích
trong hành động và suy nghĩ rất rõ.
+ Tính năng động: nhiều sinh viên vừa đi học vừa đi làm (làm thêm bán
thời gian hoặc có thể là thành viên chính thức của một công ty). Hình thành tư
duy kinh tế trong thế hệ mới (thích kinh doanh muốn tự mình lập công ty khi
còn là sinh viên) thể hiện sự tích cực chủ động (tham gia phong trào tình
nguyện), nhiều sinh viên cùng một lúc học hai trường.
+ Tính cụ thể trong lý tưởng: đang có một sự thay đổi trong lý tưởng
sống gắn liền với sự định hướng cụ thể, câu hỏi vẫn thường đặt ra là: sinh
viên hôm nay sống có lý tưởng không? Lý tưởng ấy là gì? Có sự phù hợp
giữa lý tưởng cá nhân với lý tưởng của dân tộc, của nhân loại hay không? Có
thể khẳng định là có, nhưng đang xuất hiện những lý tưởng có tính thế hệ, lý
tưởng gắn liền với bối cảnh đất nước và quốc tế rất cụ thể. Lý tưởng hôm nay
không phải là sự lựa chọn những mục đích xa xôi mà hướng đến những mục
tiêu cụ thể gắn liền với lợi ích cá nhân.
+ Tính liên kết (tính nhóm): những người trẻ luôn có xu hướng mở
rộng các mối quan hệ, đặc biệt là những quan hệ đồng đẳng, cùng nhóm.
Tính nhóm phụ thuộc vào môi trường xã hội xung quanh chúng ta đang sống.
Sự thay đổi của đời sống tinh thần trong sinh viên trước xu hướng toàn cầu
hóa đang hướng mạnh đến tính cộng đồng.
23
+ Tính cá nhân: trào lưu dân chủ hóa, làn sóng công nghệ thông tin, và
việc nâng cao dân trí đã làm ý thức cá nhân ngày càng rõ. Sinh viên tự ý thức

người năng động và sáng tạo. Chính sinh viên là những người tiên phong
trong mọi công cuộc cải cách, đổi mới về kinh tế, giáo dục… Trong đầu họ
luôn đầy ắp các ý tưởng độc đáo và thú vị; và họ tận dụng mọi cơ hội để biến
các cơ hội đó thành hiện thực.Ví dụ như:Anh Thư, sinh viên lớp hóa tiên tiến
trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học quốc gia Hà Nội đã có một phát
minh mới về dải quang phổ. Anh Thư đang có cơ hội nhận bằng sáng chếcho
phát minh này tại Hoa Kì. Anh Thư chia sẻ, sở dĩ cô đạt được thành côngbước
đầu này là do cô đã có lựa chọn đúng đắn khi quyết định “gia nhập” vào lớp
chương trình tiên tiến đào tạo cử nhân ngành hóa học liên kết với trường Đại
học Illinois, Hoa Kì. Hiện nay, Anh Thư vẫn đang tiếp tục nghiên cứu cơ sở
lý thuyết và những cải tiến trong cấu hình máy…
Không chỉ chờ đợi cơ hội đến, họ còn tự tạo ra cơ hội. Đã có nhiều
sinh viên nhận được bằng phát minh sáng chế; và không ít trong số những
phát minh ấy được áp dụng, được biến thành sản phẩm hữu ích trong thực
tiễn. Như: Lê Thị Ngọc Tú, sinh năm 1987, quê ở Kiến Xương, Thái Bình,
hiện đang là sinh viên năm cuối, lớp địa chất B, K50, trường Đại học Mỏ- Địa
chất. Cô đã có công trình nghiên cứu khoa học được Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
trao giải nhất trong hệ thống đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên năm
2009; Được tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới trao giải nhà phát minh trẻ nhất
25
Việt nam năm 2009; Hay như Nguyễn Quốc Trưởng, sinh viên khoa Dệt may
- Thời trang, Trường ĐH Bách khoa Hà Nội với phát minh ra thuốc nhuộm
vải tự nhiên từ lá cây.Những chiếc lá xà cừ, lá bàng đã rụng tưởng chừng vô
ích đã biến thành thuốc nhuộm vải tự nhiên dưới bàn tay của “thầy phù thủy”
Trưởng. Sản phẩm của Trưởng đã được dùng để nhuộm vải phục vụ cho gian
hàng thời trang của trường Đại học Bách khoa Hà Nội tại Eco Fashion Show
2010. Thuốc nhuộm từ lá xà cừ cũng như các loại lá cây, vở cây…khác mà
Trưởng nghiên cứu nay mai sẽ có mặt và được đưa vào sản xuất tại Áo theo
một dự án hợp tác của trường Đại học Bách khoa Hà Nội.
Trưởng đang kiểm tra mẫu vải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status