Một số giải pháp tạo việc làm cho người lao động nông nghiệp nông thôn bị thu hồi đất do tác động của đô thị hóa ở ngoại thành Hà Nội - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

1

LỜI MỞ ĐẦU
Đô thị hóa là xu hướng phát triển tất yếu của các quốc gia trên thế
giới. Qúa trình đô thị hóa có tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống
kinh tế-xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia. Song song với
những lợi ích không nhỏ đã đạt được, quá trình đô thị hóa cũng làm nảy sinh
nhiều bức xúc, trong đó có vấn đề người dân bị thu hồi đất, rơi vào tình
trạng bị mất việc làm.
Là một nước đang phát triển, Việt Nam cũng không nằm ngoài quy
luật trên. Hiện nay, quá trình hiện đại hóa và đô thị hóa đang được đẩy mạnh
nên vấn đề nông dân bị thu hồi đất, vấn đề tạo việc làm mới cho những nông
dân này vẫn luôn là mối quan tâm của Đảng, Nhà nước và của mọi người
dân trong xã hội. Thực tế cho thấy Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng
tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất bằng các hoạt động cụ thể
như ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích tạo việc làm, hỗ trợ vốn, đề
ra các chương trình quốc gia giải quyết việc làm…Việc thực hiện tốt các
chương trình này đã góp phần tích cực giải quyết việc làm cho người lao
động. Tuy nhiên, hiện nay, nhu cầu việc làm ngày càng tăng, do đó vấn đề
tạo việc làm cho người lao động nói chung và người lao động bị ảnh hưởng
trong quá trình đô thị hóa nói riêng đang là một vấn đề nhạy cảm và rất được
quan tâm.
Với mục tiêu đề xuất các giải pháp về lao động và việc làm cho những
người nông dân bị thu hồi đất do quá trình đô thị hóa ở ngoại thành Hà Nội
nhằm nâng cao đời sống và thu nhập cho người dân tôi đã chọn đề tài: “Một
số giải pháp tạo việc làm cho người lao động nông nghiệp nông thôn bị
thu hồi đất do tác động của đô thị hóa ở ngoại thành Hà Nội”.

Sinh viên: Lê Thị Miền

Sinh viên: Lê Thị Miền

Lớp: Nông nghiệp 46A


Khóa luận tốt nghiệp

3

CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG VÀ VIỆC
LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP, NÔNG
THÔN DO TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA

I. NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ LAO ĐỘNG VÀ NGUỒN LAO
ĐỘNG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN.
1. Khái niệm và vai trò của lao động.
1.1. Khái niệm.
Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các
vật chất tự nhiên thành sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người.
Lao động là một hành động diễn ra giữa người và giới tự nhiên. Trong khi
lao động con người vận dụng sức lực tiềm tàng trong thân thể của mình, sử
dụng công cụ lao động để tác động vào giới tự nhiên, chiếm lấy những vật
chất trong tự nhiên, biến đổi vật chất đó, làm cho chúng trở nên có ích cho
đời sống của mình. Vì thế lao động là điều kiện không thể thiếu được của
đời sống con người, là một sự tất yếu vĩnh viễn, là kẻ môi giới trong sự trao
đổi vật chất giữa tự nhiên và con người. Lao động chính là việc sử dụng sức
lao động.
1.2. Vai trò của lao động đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Qúa trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động. Sức

vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm số lượng và chất lượng của
người lao động. Về số lượng bao gồm những người trong độ tuổi (nam từ 15
đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55 tuổi) và những người trên và dưới độ tuổi nói
trên tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Như vậy, lượng của nguồn nhân lực trong nông nghiệp không phải chỉ
bao gồm những người trong độ tuổi mà bao gồm cả những người trên và
dưới độ tuổi có khả năng và thực tế tham gia lao động.
Về chất lượng bao gồm cả thể lực và trí lực của người lao động, cụ thể
là trình độ sức khỏe, trình độ nhận thức, trình độ chính trị, trình độ văn hóa,
nghiệp vụ và tay nghề của người lao động.

Sinh viên: Lê Thị Miền

Lớp: Nông nghiệp 46A


Khóa luận tốt nghiệp

5

2.2. Đặc điểm của nguồn lao động nông nghiệp nông thôn.
Lao động trong kinh doanh nông nghiệp gắn chặt với đất đai, điều
kiện tự nhiên, cây trồng, vật nuôi, công cụ lao động…Vì vậy lao động trong
sản xuất nông nghiệp nông thôn có những đặc điểm riêng như:
Thứ nhất, lao động trong nông nghiệp có tính thời vụ: Đặc điểm này
do tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp quy định. Tuy vậy hiện nay con
người cũng có nhiều biện pháp hữu hiệu để giảm bớt tính thời vụ này.
Thứ hai, lao động trong sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào
điều kiện tự nhiên: Là một ngành phải thường xuyên tiếp xúc với môi trường
tự nhiên nên lao động trong ngành cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ của các

quan hệ hàng xóm gần gũi, lành mạnh, ít tệ nạn xã hội.
2.3. Xu hướng biến động nguồn lao động.
Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, nguồn nhân lực
trong nông nghiệp có số lượng lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng lao động
xã hội. Song, cùng với sự phát triển của quá trình công nghiệp hóa, nguồn
nhân lực trong nông nghiệp vận động theo xu thế giảm xuống cả tương đối
và tuyệt đối. Qúa trình biến đổi đó diễn ra theo hai giai đoạn như sau:
Giai đoạn đầu diễn ra khi đất nước bắt đầu công nghiệp hóa, nông
nghiệp chuyển sang sản xuất hàng hóa, năng suất lao động nông nghiệp
tăng lên, một số lao động nông nghiệp được giải phóng trở nên dư thừa và
được các ngành khác thu hút, sử dụng vào hoạt động sản xuất – dịch vụ.
Nhưng do tốc độ tăng tự nhiên của lao động trong khu vực công nghiệp lớn
hơn tốc độ thu hút lao động dư thừa từ nông nghiệp nên ở thời kỳ này tỷ
trọng lao động nông nghiệp mới giảm tương đối, số lượng tuyệt đối còn tăng
lên. Giai đoạn này dài hay ngắn tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của
đất nước quyết định..
Giai đoạn thứ hai, nền kinh tế đã phát triên ở trình độ cao, năng suất
lao động nông nghiệp tăng nhanh và năng suất lao động xã hội đạt trình độ
cao. Số lao động dôi ra do nông nghiệp giải phóng đã được các ngành khác
thu hút hết. Vì thế, giai đoạn này số lượng lao động giảm cả tương đối và
tuyệt đối.
Số lượng và chất lượng nguồn lao động nông nghiệp có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau. Ở một số nước đang phát triển số lượng nguồn lao đông
nông nghiệp rất lớn nhưng chất lượng nguồn lao động nông nghiệp thấp.

Sinh viên: Lê Thị Miền

Lớp: Nông nghiệp 46A



dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó. Bao gồm sản xuất

Sinh viên: Lê Thị Miền

Lớp: Nông nghiệp 46A


Khóa luận tốt nghiệp

8

nông nghiệp trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ có quyền sử
dụng, hoặc hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành
viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý.
Như vậy một hoạt động được coi là việc làm khi hoạt động đó không
bị pháp luật cấm và hoạt động đó phải có ích, tạo ra thu nhập cho người lao
động và cho các thành viên trong gia đình.
2. Các đặc trưng về việc làm ở nông thôn.
Ở nông thôn các ngành sản xuất nông, lâm, thủy hải sản vẫn là nguồn
cung cấp việc làm chính cho người dân nông thôn. Nhưng hiện nay do ảnh
hưởng của quá trình đô thị hóa làm thu hẹp diện tích canh tác nông nghiệp
làm giảm nguồn cung cấp việc làm cho lao động nông thôn. Song song với
vấn đề diện tích bị thu hẹp còn vấn đề dân số tăng nhanh làm cho đất nông
nghiệp ngày càng trở nên khan hiếm, nếu không được chuyển dịch sang các
ngành sản xuất khác thì tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm trong nông
nghiệp nông thôn sẽ là điều khó tránh khỏi.
Qúa trình sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự
nhiên, sinh thái của từng vùng…Việc sản xuất chủ yếu theo mùa vụ, do đó
việc làm cho lao động không thường xuyên. Đến lúc mùa vụ thì công việc
chủ yếu là gieo trồng và thu hoạch, còn lại là thời kỳ nông nhàn. Trong thời

hình là những người làm việc ít hơn mức mà mình mong muốn. Thiếu việc
làm được biểu hiện dưới hai dạng: hoặc là người lao động không có đủ việc
làm theo thời gian quy định trong tuần, trong tháng hoặc là làm những công
việc có thu nhập quá thấp không đảm bảo cuộc sống nên muốn làm việc
thêm để có thu nhập.
Thất nghiệp là sự mất việc làm hay là sự tách rời sức lao động khỏi tư
liệu sản xuất. Thất nghiệp được chia thành nhiều loại, trong đó có một số
loại thất nghiệp như sau:
Thất nghiệp tạm thời: Là thất nghiệp phát sinh do người lao động cần
có thời gian để tìm việc làm thích hợp nhất với chuyên môn và sở thích của
họ.
Thất nghiệp cơ cấu: Là thất nghiệp xuất hiện khi không có sự đồng bộ
giữa kỹ năng, trình độ lành nghề của người lao động với cơ hội việc làm do
cầu lao động và sản xuất thay đổi.

Sinh viên: Lê Thị Miền

Lớp: Nông nghiệp 46A


Khóa luận tốt nghiệp

10

Thất nghiệp theo mùa: Là thất nghiệp do cầu lao động giảm thường
vào những thời kỳ nhất định trong năm. Ví dụ cầu lao động của ngành nông
nghiệp giảm sau vụ trồng cấy và kéo dài cho đến khi thu hoạch mùa màng.
Thất nghiệp chu kỳ: Là thất nghiệp gắn liền với sự suy giảm theo thời
kỳ của nền kinh tế. Ví dụ trong thời gian kinh tế suy thoái mức thất nghiệp
tăng lên.


điều khoản ưu đãi cho các dự án ở khu vực nông thôn, các chương trình tạo
việc làm hoạc các dự án kinh doanh sử dụng nhiều lao động. Đến nay
chương trình này đã đạt được những hiệu quả đáng kể. Tính từ năm 1992 tới
giữa năm 2006, Qũy tạo việc làm quốc gia đã cho vay 5.500 tỷ đồng và tạo
ra khoảng 4 triệu việc làm. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ước tính
rằng trong năm 2004 Qũy này đã cho vay 1.015 tỷ đồng và tạo ra khoảng
350.000 việc làm hay 22,5% tổng việc làm trong năm đó. Trong giai đoạn
2005-2010 Qũy có kế hoạch giải ngân khoảng 6000 tỷ đồng hỗ trợ tạo thêm
khoảng 1,5-1,6 triệu việc làm. Tuy nhiên, chương trình này cũng gây ra
nhiều lo ngại như tính hiệu quả và sự hợp lý của những vốn vay không kiểm
soát được.
Tạo việc làm ở khu vực nông thôn và thành thị
Cam kết của Chính phủ tạo thêm việc làm đã dẫn đến những cải cách
tiếp theo trong chính sách đầu tư. Luật Doanh nghiệp năm 2000, và gần đây
là luật Doanh nghiệp năm 2005, đã đơn giản hóa thủ tục đăng ký kinh doanh
của Doanh nghiệp hơn rất nhiều. Điều này đã giúp cho rất nhiều doanh
nghiệp vừa và nhỏ đăng ký hoạt động theo Luật doanh nghiệp trong nhiều
năm qua.
Nhằm tăng cường tạo việc làm ở khu vực nông thôn, Chính phủ đã có
một số sáng kiến giúp cải thiện khả năng tiếp cận của người nghèo đến tín
dụng. Những sáng kiến đó là Chương trình cung cấp tín dụng cho người
nghèo nhằm hỗ trợ các hoạt động sản xuất của các hộ nghèo. Chính phủ đã
cho thành lập thêm ngân hàng Chính sách xã hội vào tháng 3-2003 (trên cơ
sở Ngân hàng phục vụ người nghèo). Ngân hàng này cung cấp tín dụng với
lãi suất ưu đãi cho các hộ nghèo ở khu vực nông thôn lẫn thành thị. Tính đến
giữa năm 2003, Ngân hàng này đã có 5.480.106 lượt khách hàng còn dư nợ,
và số lượng hộ nghèo đã thoát khỏi đói nghèo tăng lên từ 644.035 hộ năm
2002 lên 1.294.035 hộ năm 2003.
Sinh viên: Lê Thị Miền

ngày càng đông vào các đô thị và làm nâng cao vai trò của thành thị đối với
sự phát triển xã hội”.
Còn trong Bách Khoa toàn thư thì “Đô thị hóa là sự mở rộng của đô
thị, tính theo tỷ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng
số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực. Nó cũng có thể tính theo tỷ

Sinh viên: Lê Thị Miền

Lớp: Nông nghiệp 46A


Khóa luận tốt nghiệp

13

lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian. Nếu tính theo cách đầu thì nó
còn được gọi là mức độ đô thị hóa, còn theo cách thứ hai, nó có tên là tốc độ
đô thị hóa”.
Dù là định nghĩa theo quan niệm nào đi chăng nữa thì nó cũng phải
được gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá trình hình
thành và phát triển, mở rộng các thành phố. Qúa trình đô thị hóa đã có ảnh
hưởng lớn đến quá trình phát triển kinh tế-xã hội nước ta. Đô thị hóa làm
tăng mật độ dân cư, tập trung sức người vào việc phát triển kinh tế của vùng,
làm thay đổi nông thôn, dần dần biến nông thôn thành thành thị. Từ đó quá
trình đô thị hóa góp phần không nhỏ vào việc nâng cao đời sống nhân dân.
Quá trình đô thị hóa cũng được hiểu là quá trình cải biến cơ cấu kinh tế của
từng khu vực theo hướng tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp, dịch vụ
và giảm dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế. Đô thị hóa
không chỉ vì sản xuất, trong đó biến con người thành phương tiện sản xuất,
mà quá trình đô thị hóa phải vì con người, phải làm cho cuộc sống của con

ngày một tăng nhanh.
Đô thị hóa cùng với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa có vai
trò to lớn trong việc phát triển kinh tế-xã hội của nước ta. Do đô thị hóa thúc
đẩy quá trình phân bổ lại các cơ sở kinh tế, sử dụng những công nghệ hiện
đại làm cho năng suất lao động cao hơn nên phát triển đô thị đóng vai trò
kích thích tăng trưởng và phát triển kinh tế trong vùng và những khu vực
xung quanh.
Đô thị hóa thúc đẩy sự phát triển của các khu công nghiệp, khu chế
xuất, từ đó sẽ tạo động lực thu hút hàng trăm dự án đầu tư nước ngoài với
hàng chục tỷ USD vào việc xây dựng các nhà máy, xí nghiệp ở địa phương
và cả nước. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đến cuối năm 2005
các khu công nghiệp đã thu hút được 2098 dự án đầu tư nước ngoài với tổng
số vốn đăng ký khoảng 17,8 tỷ USD, trong đó có 1287 dự án đã đi vào sản
xuất.Tổng số vốn đã thực hiện khoảng trên 9 tỷ USD, đạt gần 50% so với
tổng số vốn FDI đã đăng ký.
Đô thị hóa góp phần tạo ra thu nhập và nâng cao thu nhập không chỉ
của những người nông dân mà còn tăng thu nhập cho toàn xã hội, cho cả nền
kinh tế quốc dân và tăng nguồn thu cho ngân sách quốc gia. Sự thật là 4
thành phố lớn Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng chiếm

Sinh viên: Lê Thị Miền

Lớp: Nông nghiệp 46A


Khóa luận tốt nghiệp

15

khoảng 14% dân số nhưng đã tạo ra 36,4% GDP, và 45,7% giá trị sản lượng



Khóa luận tốt nghiệp

16

thị hóa ở nước ta trong điều kiện hạ tầng xã hội và kỹ thuật đô thị còn yếu
kém, quy hoạch và kiến trúc các đô thị còn mang tính tự phát. Ngoài ra định
hướng phát triển không gian khu vực đô thị hóa còn chưa rõ nét, còn mang
nặng tính hình thức đô thị, chưa thực sự giải quyết vấn đề cốt lõi của đô thị
hóa đối với khu vực dân cư như chưa gắn kết chất lượng đô thị với việc giữ
gìn bản sắc dân tộc và đảm bảo cảnh quan đô thị.
Mặc dù còn nhiều bất cập nhưng những đóng góp của đô thị hóa trong
công cuộc phát triển kinh tế đất nước là vô cùng to lớn. Đô thị hóa đã làm
biến đổi bộ mặt kinh tế xã hội và đời sống nông thôn. Qúa trình đô thị hóa
đã biến nền sản xuất nông nghiệp độc canh trở thành nền sản xuất hàng hóa
đa ngành nghề. Đời sống vật chất của người dân đang ngày được nâng cao,
đường sá được mở rộng và hiện đại hóa, nhà cửa của người dân nông thôn
khang trang hơn, hiện đại hơn dưới tác động của đô thị hóa. Với những đóng
góp không nhỏ của đô thị hóa với sự phát triển kinh tế và đời sống nhân dân
thì quá trình này là một xu hướng tất yếu không thể thiếu trong tiến trình
phát triển của mỗi quốc gia.
2.2. Xu hướng phát triển của quá trình đô thị hóa.
Đô thị hóa đã và đang tạo ra những thay đổi về hạ tầng cơ sở và tiếp
tục tạo ra những thay đổi mới về hạ tầng cơ sở cũng như đời sống của nhân
dân. Đô thị hóa tiếp tục phát triển theo những xu hướng sau:
Thứ nhất, hình thành các trung tâm công nghiệp, trung tâm thương
mại, dịch vụ ở các đô thị lớn.
Tại các đô thị lớn vốn đã có nhiều trung tâm công nghiệp, trung tâm
thương mại và dịch vụ. Việc hình thành các trung tâm mới sẽ nâng cao tính

được đô thị hóa và trở thành những đô thị nhỏ. Đây là một xu hướng tiến bộ
và mới xuất hiện ở nước ta. Tuy nhiên để thực hiện tốt xu hướng này thì cần
phải có sự đầu tư lớn về vốn và công nghệ.
Thứ tư, song song với việc phát triển đô thị theo chiều sâu là việc
phát triển đô thị theo chiều rộng. Việc phát triển theo chiều rộng được tiến
hành bằng việc mở rộng các đô thị. Điều này dẫn đến một xu hướng tất yếu
đã được kể trên, đó là việc nhiều vùng nông thôn được chuyển thành thành
thị. Biểu hiện của xu hướng này là việc hình thành và phát triển các dịch vụ
công cộng và môi trường
3. Sự cần thiết phải thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô
thị hóa.

Sinh viên: Lê Thị Miền

Lớp: Nông nghiệp 46A


Khóa luận tốt nghiệp

18

Sau sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức
thương mại thế giới WTO, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa được
diễn ra với tốc độ nhanh hơn trước. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra
với tốc độ càng cao làm cho tiến trình đô thị hóa diễn ra ngày càng cao. Đô
thị hóa với tốc độ cao sẽ làm cho việc hình thành các khu công nghiệp và
trung tâm thương mại diễn ra với tốc độ nhanh và quy mô lớn. Điều này đòi
hỏi phải hi sinh một bộ phận lớn đất đai mà chủ yếu là đất nông nghiệp. Để
không ảnh hưởng đến khối lượng sản phẩm nông nghiệp sản xuất ra hàng
năm thì việc áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp và tiến

đai. Khi người dân bị thu hồi đất thì có hai khả năng có thể xảy ra. Đối với
những người bị thu hồi hết đất đai, hoặc những người bị thu hồi một phần
đất đai nhưng không muốn tham gia hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp
nữa mà đô thị hóa đang tạo ra những cơ hội việc làm mới cho họ thì bộ phận
này có thể sẽ chuyển hướng sang tham gia vào các hoạt động phi nông
nghiệp để tìm kiếm việc làm. Đối với những người bị thu hồi một phần đất
đai mà muốn tiếp tục tham gia vào các hoạt động nông nghiệp trên diện tích
đất còn lại của mình hoặc những người thì cần phải thay đổi cách thức thực
hiện các hoạt động canh tác. Họ phải tiến hành đầu tư phát triển trên mảnh
ruộng của mình theo chiều sâu sao cho với diện tích đất hạn hẹp còn lại đó
sẽ tạo ra năng suất cao thì mới đáp ứng được mức sống của mình. Tùy theo
quan điểm và khả năng của mỗi người sẽ quyết định cơ hội việc làm mới của
mình. Nhìn chung những người bị thu hồi đất hầu hết trước mắt sẽ phải đối
mặt với tình trạng thất nghiệp. Đây cũng là thời gian để họ suy nghĩ nên
chọn hướng đi nào cho phù hợp nhất.
Nhìn chung, trong quá trình đô thị hóa, dân số và lao động trong các
đô thị tăng nhanh. Bởi vì do các hiện tượng như việc di dân từ các vùng khác
đến, dư thừa lao động nông nghiệp do bị thu hẹp diện tích đất nông nghiệp,
và tỷ lệ tăng dân số tự nhiên với số dân đông đúc đang sinh sống ở các khu
đô thị. Vấn đề này gây ra áp lực giải quyết việc làm cho những người lao
động này, đặc biệt là trong những giai đoạn đô thị hóa diễn ra với tốc độ
nhanh như hiện nay.

Sinh viên: Lê Thị Miền

Lớp: Nông nghiệp 46A


Khóa luận tốt nghiệp


nghiệp này đạt 65,9 tỷ nhân dân tệ, tăng gấp hơn 6 lần so với năm 1983. Các
xí nghiệp này hàng năm thu hút được lực lượng lao động dư thừa lên đến 10

Sinh viên: Lê Thị Miền

Lớp: Nông nghiệp 46A


Khóa luận tốt nghiệp

21

triệu người và đến năm 1988 số lượng lao động làm trong các xí nghiệp này
lên đến 95,5 triệu người. Chỉ trong vòng vài năm, tổng giá trị sản lượng của
các xí nghiệp địa phương đã vượt quá giá trị sản xuất nông nghiệp và trở
thành phần thu nhập chính trong nông thôn.
Giai đoạn 3: Từ 1989 đến 1991: Giai đoạn này chứng kiến nhiều biến
động trong sự phát triển của các xí nghiệp địa phương. Nhờ vào các chính
sách mở cửa của Trung Quốc làm cho các hoạt động đầu tư về vốn, kỹ thuật
trong các ngành chế biến của các xí nghiệp này rất phát triển. Năm 1991
tổng giá trị sản lượng của các xí nghiệp địa phương lần đầu tiên đã đạt 1.100
nhân dân tệ, đạt 850 tỷ nhân dân tệ, chiếm 1/3 tổng giá trị sản lượng công
nghiệp quốc gia, thu hút hàng trăm triệu lao động.
Giai đoạn 4: Bắt đầu từ năm 1992: Giai đoạn này, Trung Quốc thực
hiện các chính sách và cải cách mở cửa ra bên ngoài, tạo ra một nền kinh tế
hướng ngoại trên phạm vi cả nước. Kết quả là các chính sách này đã thúc
đẩy phát triển các xí nghiệp địa phương, tạo điều kiện thu hút lao động dư
thừa.
1.2. Xây dựng các đô thị quy mô vừa và nhỏ để giảm bớt lao động
nhập cư ở các thành phố lớn.

lớn do điều kiện cạnh tranh thấp hơn và yêu cầu về vốn thấp.
1.3. Một số biến pháp khác của Trung Quốc.
Để khuyến khích bộ phận dân cư tham gia trong lĩnh vực nông
nghiệp, Trung Quốc tiến hành tăng giá thu mua nông sản một cách hợp lý,
giảm giá cánh kéo giữa hàng nông nghiệp và hàng công nghiệp. Nhờ đó làm
tăng sức mua của người dân.
Để tạo ra cơ cấu việc làm hợp lý, Trung Quốc thực hiện chính sách đa
dạng hóa và chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh, thực hiện chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn. Trung Quốc còn thực hiện chính sách khoán sản
phẩm làm cho người dân biết tận dụng khả năng sử dụng đất đai một cách
hợp lý, tạo ra hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích canh tác.
Song song với việc quan tâm phát triển các ngành nghề trong lĩnh vực
nông nghiệp, Trung Quốc còn thực hiện nhiều biện pháp nhằm giải quyết
việc làm cho lao động nông nghiệp tham gia vào các hoạt động phi nông
nghiệp. Đó là việc tạo môi trường thuận lợi để công nghiệp nông thôn phát
triển. Vào giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa nông thôn, nhà nước
Sinh viên: Lê Thị Miền

Lớp: Nông nghiệp 46A


Khóa luận tốt nghiệp

23

thực hiện chính sách bảo hộ sản xuất hàng trong nước, hạn chế ưu đãi với
doanh nghiệp công nghiệp, tạo ra sân chơi bình đẳng hơn cho doanh nghiệp
nông thôn.
2. Kinh nghiệm của Thái Lan.
Thái Lan cùng với Việt Nam cũng như một số quốc gia khác nằm

24

-Áp dụng những công nghệ phù hợp để phát triển một số ngành nghề
phù hợp với lao động nữ như ngành dệt may, bao bì, hay một số ngành nghề
truyền thống..
-Thu hút lao động nữ vào các ngành dịch vụ như trong lĩnh vực ăn
uống, dịch vụ và phục vụ. Đặc biệt là những vùng ngoại thành, gần các
thành phố lớn nhu cầu về dịch vụ và phục vụ có nhiều công việc phù hợp với
lao động nữ.
Ngoài ra, Chính phủ Thái Lan còn ban hành nhiều chính sách và biện
pháp cụ thể trong việc hỗ trợ cho người dân nông thôn được vay vốn, trong
đó chính sách thiết lập hệ thống tín dụng nông thôn đã giúp người dân nông
thôn tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng chính thức để khuyến khích đầu
tư phát triển các nghề phi nông nghiệp.
3. Kinh nghiệm của Hàn Quốc.
Thực hiện phương châm tăng nhanh thu nhập quốc dân bình quân đầu
người hàng năm nhờ áp dụng chiến lược công nghiệp hóa định hướng xuất
khẩu kết hợp với chính sách và biện pháp giảm tỷ lệ phát triển dân số từ
2,7%/năm xuống còn 1,4% vào năm 1985, chiến lược công nghiệp hóa này
được thực hiện dễ dàng dựa vào nguồn nhân lực dồi dào với giá rẻ, tăng
cường đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước có trọng điểm.
Trong kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ nhất vào năm 1962,
chính phủ Hàn Quốc đã chuyển chiến lược công nghiệp hóa từ thay thế nhập
khẩu sang khuyến khích xuất khẩu bắt đầu với xuất khẩu hàng hóa. Chiến
lược phát triển công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động đóng vai trò quan
trọng vào phát triển kinh tế và tạo việc làm cho lao động nông thôn. Nhờ lợi
thế lao động rẻ và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, nền kinh tế định
hướng xuất khẩu đã tăng trưởng nhanh kéo theo việc giải quyết được việc
làm cho một bộ phận lao động thất nghiệp và thiếu việc làm.


có năng suất thấp sang khu vực công nghiệp hiện đại có năng suất cao. Kết
quả là điều này đã làm thay đổi giá các yếu tố đầu vào của quá trình sản
xuất. Do vậy, chính sách này không đạt được mục tiêu thu hút lao động, tạo
việc làm.
Philippin đã thực hiện chiến lược tạo việc làm ở nước ngoài bằng
cách xuất khẩu lao động như việc đưa lao động nữ đi làm giúp việc ở một số

Sinh viên: Lê Thị Miền

Lớp: Nông nghiệp 46A



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status