Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐÇu
1. Sự cần thiết của nghiên cứu để tài
Cùng với sự phát triển của lịch sử loài người, các hoạt động kinh tế diễn ra với
quy mô ngày càng lớn, phạm vi các quan hệ kinh tế ngày càng được mở rộng, tính
chất của chúng ngày càng phức tạp, trình độ phát triển của chúng ngày càng cao. Từ
khi phương thức tư bản chủ nghĩa ( TBCN) ra đời, quan hệ thương mại giữa các quốc
gia ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, sự phân công lao động diễn
ra ở tầm quốc tế, các doanh nghiệp tìm cách mở rộng thị trường ra nước ngoài, các
quan hệ kinh tế quốc tế diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong đó có cả di chuyển quốc tế về
sức lao động giữa các quốc gia hay chính là xuất khẩu lao động ( XKLĐ) ngày nay.
Trên thế giới, đã cớ rất nhiều nước tham gia XKLĐ và đã đạt được những thành tựu
to lớn như: Hàn Quốc, Thái Lan, Philippin, Indonexia,…
Ở Việt Nam, XKLĐ ra đời vào năm 1980 và ngày càng diễn ra mạnh mẽ, góp
phần quan trọng vào giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, tăng thu ngoại tệ,
cải thiện cuộc sống nhân dân nhất là trong điều kiện đất nước vừa bước ra khỏi chiến
tranh và còn rất nhiều khó khăn. Đặc biệt là những năm gần đây khi mà đất nước
đang càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới thì XKLĐ với những lợi ích to lớn
ngày càng trở nên cần thiết và là tất yếu.
Tuy nhiên do nhận thức về XKLĐ ở nước ta còn chưa đầy đủ, thống nhất, việc
xác định mục tiêu và giải pháp nâng cao hiệu quả XKLĐ còn chưa phù hợp với thị
trường lao động trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, nên hiệu quả kinh tế - xã hội
ở XKLĐ còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu và tiềm năng về nguồn nhân lực hiện
có ở Việt Nam. Với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả của XKLĐ Việt Nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, nên tôi chọn đề tài: “ XKLĐ Việt Nam, giải
pháp tạo việc làm cho người lao động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc
tế”.
Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Vĩnh Giang đã hướng dẫn tân tình để
giúp em hoàn thành đề án này!
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Tên đề tài: “XKLĐ - giải pháp tạo việc làm cho người lao động trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế”.
Tên các chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về XKLĐ và tạo việc làm trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế”.
Chương II: Đánh giá thực trạng XKLĐ - hướng giải quyết việc làm trong nền kinh tế
quốc tế.
Chương III: Phương hướng biện pháp để thúc đẩy XKLĐ có hiệu quả nhằm tạo việc
làm trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
NỘI DUNG
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chng I: Cơ sở lý luận về XKL và tạo việc làm trong
trình hội nhập tiến kinh tế
I. xuất khẩu lao động
1. Khỏi nim.
Mi quc gia u cú mt ngun lc phỏt trin kinh t ca mỡnh. ú l ti
nguyờn thiờn nhiờn, ti sn cú th s dng vo vic sn xut ra cỏc ti sn hu hỡnh,
vụ hỡnh v c lao ng. Cỏc ngun lc ny cỏc nc khỏc nhau cú th s rt khỏc
nhau. ụi khi cú s khỏc quỏ ln cú th dn ti chờnh lch v cỏc yu t sn xut ca
quc gia. Trong iu kin kinh t th trng v ton cu húa kinh t quc t, vic gii
quyt tỡnh trng mt cõn bng ú trờn c s cung cu hng húa, dch v trong ú cú
cung cu v sc lao ng c thc hin thụng qua XKL cỏc quc gia vi nhau.
Nh vy:
XKL l a ngi lao ng ra nc ngoi bng nhng hỡnh thc thớch hp
nhm to ra thu nhp v ngoi t v gii quyt mt s ỏp lc vic lm trong nc.
Vit Nam, XKL v chuyờn gia l mt hot ng kinh t - xó hi gúp
phn phỏt trin ngun nhõn lc, gii quyt vic lm, to thu nhp v nõng cao trỡnh
tay ngh cho ngi lao ng, tng thu ngoi t cho t nc v phỏt trin quan h hp
tỏc gia nc ta vi cỏc nc.
quyết việc làm trong nước, đào tạo nguồn nhân lực.
4. Các hình thức XKLĐ
Các hình thức XKLĐ là cách thức tổ chức đưa lao động ra nước ngoài làm
việc. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, XKLĐ được thực hiện dưới những hình
thức chủ yếu sau:
Một là, bản thân cá nhân người lao động tự tìm việc làm ở nước ngoài. Đây là
hình thức XKLĐ ra đời sớm nhất trên thế giới cói chung thông qua các kênh thông tin
như internet, người thân hoặc qua các kênh khác, người lao động tự tìm hiều, thỏa
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
thuận và ký kết hợp đồng lao động với chủ thể thuê lao động nước ngoài. Nhưng
muốn làm việc ở nước ngoài, đòi hỏi phải có trình độ ngoại ngữ khá, có khả năng
hoạt động độc lập, hiểu biết luật pháp của các nước sở tại và thông lệ quốc tế.
Thứ hai, các doanh nghiệp XKLĐ thông qua các hình thức dịch vụ XKLĐ của
các doanh nghiệp. Dưới hình thức này, các doanh nghiệp XKLĐ khai thác, tìm kiếm
đối tác, chủ thể thuê lao động nước ngoài, ký kết hợp đồng cung ứng lao động theo
quy định của pháp luật nước tiếp nhận và luật pháp nước XKLĐ; sau đó tổ chức
tuyển chọn, đào tạo ngoại ngữ, bổ túc tay nghề, giáo dục định hướng về luật pháp,
phong tục tập quán của nước tiếp nhận lao động và làm các thủ tục cần thiết để đưa
lao động đến nơi làm việc và đưa họ về nước khi hết hạn hợp đồng. Với hình thức
này, số lượng người lao động đưa đi nhiều hơn, tổ chức và quản lý chặt chẽ hơn,
quyền lợi người lao động cũng được bảo vệ hơn.
Thứ ba, lao động đi làm việc theo trương trình thầu khoán, liên doanh, liên kết,
hợp tác trực tuyến, đầu tư ra nước ngoài. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là quá
trình toàn cầu hóa, tự do hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực theo
các quy định của luật pháp. Lao động đi theo loại hình này được tổ chức chặt chẽ,
quyền lợi được bảo vệ tốt.
Thứ tư, lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua các hiệp đinh, thỏa thuận,
cam kết của chính phủ. Theo thỏa thuận của chính phủ nước XKLĐ với chính phủ các
nước và các tổ chức quốc tế tiếp nhận, lao động được tiếp nhận đến làm việc thông
6.3. Các yếu tố khác: Như thị trường lao động quốc tế ,quan hệ chính trị, kinh tế
giữa nước xuất khẩu và nhập khẩu và các yếu tố không thựờng xuyên, bất khả kháng
khá như chiến tranh, dịch bệnh …
II. viÖc lµm vµ t¹o viÖc lµm cho ngêi lao ®éng
1. Một số khái niệm.
1.1. Việc làm
Trong tất cả các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (vốn, tài nguyên, công
nghệ), thì yếu tố con người là quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đến sự thành
công hay thất bại của tổ chức. Song con người chỉ trở thành động lực cho sự phát
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
triển khi và chỉ khi họ có điều kiện sử dụng sức lao động của họ để tạo ra của cải vật
chất và tinh thần cho xã hội. Qúa trình kết hợp sức lao động và điều kiện để sản xuất
là quá trình người lao động làm việc hay nói cách khác, là khi họ có việc làm. Vậy
việc làm có ý nghĩa là gì?
Có nhiều cách hiểu khác nhau về việc làm.
Khái niệm 1: Việc làm là trạng thái phù hợp của sức lao động và những điều
kiện thích hợp (vốn, tư liệu sản xuât, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó.
Việc tạo việc làm phụ thuộc vào mối quan hệ tỉ lệ giữa chi phí ban đầu (C)
như nhà xưởng, máy móc, thiết bị… và chi phí lao động (V). Tỷ lệ này phải phù hợp
với trình độ công nghệ sản xuất nhất định.
Hiện nay mối quan hệ giữa C và V thường xuyên biến đổi dưới nhiều dạng
khác nhau:
+ Sự phù hợp giữa C và V: Khi có mối quan hệ này chúng ta có 2 khái niệm:
Việc làm đầy đủ: Tức là sử dụng hết thời gian làm việc, mọi người có khả
năng và có nhu cầu thì đều có việc làm.
Việc làm hợp lý: C và V kết hợp và đều dựa vào tiềm năng của vốn, tư liệu
sản xuất, lao động.
+ Sự không phù hợp giữa C và V: dẫn đến thiếu việc làm và thất nghiệp.
Khái niệm 2: Theo điều 13, chương II, Bộ luật lao động của Nước
khả năng lao động, trong tuần lễ tham khảo( tức tuần lễ tiến hành điều tra thu thập
thông tin) không có việc làm, đang có nhu cầu tìm việc và có đăng ký tìm việc theo
quy định.
Cùng với khái niệm thất nghiệp, ta còn khái niệm thiếu việc làm.
1.3. Thiếu việc làm (bán thất nghiệp, thất nghiệp trá hình): là những người làm
việc ít hơn mức mình mong muốn.
Thất nghiệp trá hình là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế nông
nghiệp, chậm phát triển. Trong khu vực thành thị, dạng thất nghiệp này tồn tại dưới
dạng khác nhau: làm việc với năng suất thấp không góp phần tạo nên thu nhập cho
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
người lao động, cho xã hội mà chỉ tạo ra thu nhập đủ sống ( nhiều khi dưới mức tối
thiểu). Dạng thất nghiệp này còn được gọi là thất nghiệp vô hình.
Trong khu vực nông thôn, thất nghiệp trá hình chủ yếu tồn tại dưới dạng thiếu
việc làm. Nguyên nhân là do giới hạn của đất đai nông nghiệp, do khu vực kinh tế phi
nông thôn phát triển chậm. Mức độ thiếu việc làm ở nông thôn càng trầm trọng hơn
khi chúng ta xem xét đến tính thời vụ của việc làm, tức là vào thời gian mùa vụ nhu
cầu lao động lớn, người nông dân phải làm việc nhiều, không hết việc trong khi đó, ở
thời kì nông dân lại không có việc làm, thời gian làm việc ít. Thất nghiệp tồn tại dưới
dạng này còn gọi là bán thất nghiệp.
1.4. Một số khái niệm khác
Người có việc làm: là những người làm việc trong khoảng thời gian xác định
cuộc điều tra kể cả lao động nghề giúp việc gia đình được trả công, hoặc đang tạm
thời nghỉ việc do tai nạn, bệnh tật, nghỉ lễ,…
Người thất nghiệp: là những người trong khoảng thời gian xác định của cuộc
điều tra không có việc làm, đang tích cực làm việc và có nhu cầu làm việc.
Người thiếu việc làm: là những người trong khoảng thời gian xác định điều tra
có tổng số giờ lao đông nhỏ hơn thời gian quy định.
Như vậy, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về việc làm và tình trạng thiếu việc
làm hay thất nghiệp. Nhưng dù hiểu theo cách nào thì đều thấy đây là vấn đề đáng lao
dựng đất nước.
III. tiÕn tr×nh héi nhËp kinh tÕ quèc tÕ
1. Khái niệm
hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế vận động tất yếu của nền kinh tế trên thế
giới trong điều kịên hiện nay, khi quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá và quốc tế hoá
đang diễn ra hết sức nhanh chóng dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ.
Đối với các nước đang và kém phát triển ( trong đó có Việt Nam ) thì hội nhập
kinh tế quốc tế là con đường tốt nhất để rút ngắn tụt hậu so với các nước khác và có
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
điều kiện phát huy tối ưu hơn lợi thế so sánh của mình trong phân công lao động và
hiệp tác quốc tế.
hội nhập kinh tế quốc tế là một thuật ngữ đã xuất hiên từ lâu, nhưng cho đến
nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về hội nhập kinh tế quốc tế .
Có ý kiến cho rằng: hội nhập kinh tế quốc tế là sự phản ánh quá trình các thể
chế quốc gia tiến hành xây dựng, thương lượng, ký kết và tuân thủ các cam kết song
phương, đa phương và toàn cầu ngày càng đa dạng hơn, cao hơn và đồng bộ hơn
trong các lĩnh vực đời sống kinh tế quốc gia và quốc tế.
Ý kiến khác lại cho rằng: hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình loại bỏ dần các
hàng dào thương mại quốc tế và di chuyển các nhân tố sản xuất giữa các nước.
Mặc dù có những quan niệm khác nhau, nhưng hiện nay khái niệm tương đối
phổ biến được nhiều nước chấp nhận về hội nhập như sau: hội nhập kinh tế quốc tế là
sự gắn kết khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa các nước thành viên có sự
ràng buộc theo những quyết định chung của khối. Nói một cách khái quát nhất, hội
nhập kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia thực hiện mô hình kinh tế mở, tự
nguyện tham gia vào các định chế kinh tế và tài chính quốc tế, thực hiện thuận lợi hoá
và tự do hoá thương mại, đầu tư và các hoạt động kinh tế đối ngoài khác.
2. Đặc điểm của hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là sự đan xen, gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau giữa các
này. Hơn nữa thị trường trong nước các nước nàh nhỏ và hẹp, không đủ đảm bảo để
phát triển công nghiệp với quy mô hiện đại, sản xuất hàng loạt, do đó không tạo được
công ăn việc làm, nạn thất nghiệp ngày càng nghiêm trọng. Việc mở rộng quan hệ
kinh tế quốc tế với nước ngoài giúp cho việc tập trung phát triển các thế mành của đất
nước.
Nắm bắt được vấn đề mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế có ý nghĩa thực tiễn to
lớn đặc biệt đối với đất nước Việt Nam chúng ta, nơi đã trải qua bao cuộc chiến tranh
giữ nước hào hùng, nhưng đói nghèo, hiểm hoạ đe doạ. Muốn đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng kinh tế, xích lại trình độ phát triển cao của khu vực và thế giới thì phải thực
13