MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với
mọi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao
động lớn như Việt Nam. Giải quyết việc làm cho người lao động trong sự
phát triển của thị trường lao động là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả
nguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình thành thể chế kinh tế thị
trường, đồng thời tận dụng lợi thế để phát triển, tiếp kịp khu vực và thế giới.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề giải quyết việc làm, Đảng và Nhà
nước ta đã đề ra nhiều chủ chương, đường lối, chính sách thiết thực, hiệu quả
nhằm phát huy tối đa nội lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ
cấu lao động, đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo
nhiều việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị, tăng tỷ lệ sử
dụng thời gian lao động ở nông thôn, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống
nhân dân, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Qua hơn 20 năm đổi mới, cùng với những thành tựu to lớn về tăng
trưởng kinh tế, Việt Nam cũng đạt được những kết quả quan trọng trong việc
giải quyết việc làm cho người lao động, đời sống người lao động trong đó có
tầng lớp thanh niên được cải thiện rõ rệt. Thanh niên là lực lượng tiên phong
trong phát triển chính trị, kinh tế và xã hội, đồng thời cũng là lực lượng mang
lại sự thay đổi và đổi mới. Thế giới việc làm tạo môi trường cho thanh niên để
họ tham gia một cách chủ động vào xã hội, cống hiến tài năng và tầm nhìn cho
tương lao, phát triển cam kết và các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên, tính trung
bình, tỷ lệ thất nghiệp ở thanh niên cao hơn từ hai đến ba lần so với nhóm dân số
lớn tuổi hơn, nhất là thanh niên ở nông thôn, những vùng khó khăn.
Cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, ở khu vực ngoại thành
Hà Nội, quá trình đô thị hoá đang diễn ra nhộn nhịp. Đó là một quy luật phát
triển tất yếu, đem lại một cuộc sống văn minh, hiện đại hơn và một nền kinh
1
tế phát triển hơn. Song, đằng sau những biến đổi tích cực đó còn những vấn
đề xã hội khác đang cần quan tâm giải quyết. Điển hình hơn cả là vấn đề việc
tỉnh Vĩnh Phúc”, luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội, 2002 bảo vệ tại Học Viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Ngoài ra còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí về vấn đề này với
những cách tiếp cận khác nhau.
Có thể thấy rằng, cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào đã công
bố, tập trung nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa
bàn thành phố Hà Nội. Tuy vậy, nghiên cứu các công trình đã công bố, tôi
cũng tham khảo được nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn rất có giá trị đối với đề
tài của mình. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những vấn đề được nghiên cứu
trong các công trình khoa học đó, kết hợp với khảo sát thực tế ở địa bàn thành
phố Hà Nội, tôi có thể rút ra và kiến nghị những giải pháp giải quyết việc làm
cho thanh niên trên địa bàn thành phố Hà Nội
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận và
thực tiễn của vấn đề lao động, việc làm, giải quyết việc làm cho thanh niên
trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta nói chung và thành phố Hà
Nội nói riêng. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp giải quyết việc làm cho
thanh niên trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Hệ thống hoá và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về lao động, việc
làm, giải quyết việc làm cho thanh niên trong điều kiện kinh tế thị trường.
- Phân tích, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho thanh niên trên
địa bàn thành phố Hà Nội.
- Xác định quan điểm và đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm cho
thanh niên trên địa bàn thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn
cơ bản về hỗ trợ giải quyết việc làm cho thanh niên, trong đó tập trung vào
những biện pháp hỗ trợ từ phía chính quyền thành phố.
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN Ở CÁC VÙNG
NGOẠI THÀNH TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY
1.1. VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN KHU
VỰC NGOẠI THÀNH
1.1.1. Khái niệm và phân loại việc làm
1.1.1.1. Khái niệm việc làm
Ngày nay, việc làm, thiếu việc làm, thất nghiệp là một trong những vấn
đề có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia, bởi nó ảnh
hưởng trực tiếp đến sự phát triển của một đất nước. Tăng việc làm, giảm tỉ lệ
thất nghiệp là một trong những biện pháp quan trọng để từng bước ổn định và
nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo phát triển bền vững. Đặc biệt đối với
Việt Nam, tốc độ tăng dân số, nguồn lao động cao, trong khi tốc độ tăng
trưởng kinh tế, tạo việc làm bị hạn chế do khả năng cung về vốn, tư liệu sản
xuất còn thấp.
Về mặt bản chất, việc làm là quan hệ tích cực, sáng tạo của chủ thể việc
làm với hoạt động sống của mình, với ý nghĩa, nội dung và mục đích đặt ra.
Tuỳ thuộc vào từng thời điểm, không gian và từng chủ thể có cách tiếp cận
vấn đề, đưa ra các khái niệm khác nhau về việc làm.
Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội
và nhân khẩu; nó thuộc loại vấn đề chủ yếu nhất của toàn bộ đời sống xã hội.
Hiện nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng, khái niệm “việc làm” và
“thị trường lao động” không hiếm khi bị đồng nhất với nhau. Hệ thống việc
5
làm được đưa thêm hàng loạt chức năng không đúng là tính chất của nó, còn
thị trường lao động được tăng thêm tính chất tổng hợp. Khái niệm việc làm và
khái niệm lao động có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nhưng không hoàn toàn
giống nhau. Việc làm không phải là hoạt động mà là những quan hệ xã hội
giữa con người, mà trước hết là những quan hệ kinh tế và pháp lý về việc đưa
người lao động vào hợp tác lao động cụ thể trong một chỗ làm việc xác định.
Hoạt động lao động, trước hết, đó là một quá trình, còn việc làm là tài sản của
thoả mãn những nhu cầu xã hội và của cá nhân, đem đến cho họ thu nhập và
không bị pháp luật Liên bang ngăn cấm” [4, tr.315].
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khái niệm việc làm chỉ đề cập
đến trong mối quan hệ với lực lượng lao động. Khi đó, việc làm được phân
thành hai loại: Có trả công (những người làm thuê, học việc ) và không được
trả công nhưng vẫn có thu nhập (những người như giới chủ làm kinh tế gia
đình ). Vì vậy, “việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó
có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có một sự tham gia tích cực, có tính
chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” [4, tr.314]. Theo khái niệm này,
người có việc làm là người làm việc gì đó để được trả công, lợi nhuận được
thanh toán bằng tiền hoặc hiện vật, hoặc tham gia vào các hoạt động mang
tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập của gia đình (không được
nhận tiền công hay hiện vật). Khái niệm này đã được chính thức nêu tại Hội
nghị quốc tế lần thứ 13 của nhà thống kê lao động (ILO.1993) và đã được áp
dụng ở nhiều nước. Tuy nhiên, quan niệm này mang nghĩa rất rộng, bao trùm
mọi hoạt động lao động của con người. Trong thời đại ngày nay, với quan
niệm trên, có rất nhiều người sẽ thuộc diện có việc làm, bao gồm: những hoạt
7
động mang tính hợp pháp và những hoạt động mang tính phi pháp hay là
những hoạt động lao động của con người vi phạm pháp luật hoặc bị cho là vi
phạm đạo đức xã hội và bị ngăn cấm ở một số nước. Ví dụ, việc buôn bán
heroin, mại dâm, ở các nước như Hà Lan, Colômbia thì không cấm, nhưng
những hoạt động này bị cấm ở các nước khác, đặc biệt là các nước Châu Á
như: Việt Nam, Trung Quốc Do vậy, khái niệm trên chỉ mang tính khái
quát, là cơ sở nghiên cứu vấn đề chung cho các nước trên thế giới.
Ở nước ta, trong thời kỳ tập trung bao cấp, nhà nước đã đứng ra giải
quyết việc làm, trực tiếp quản lý nguồn lao động kể từ khâu đào tạo, phân bổ
đến việc sử dụng đãi ngộ đối với người lao động thực hiện theo chỉ tiêu pháp
lệnh. Trong giai đoạn này, những khái niệm về thiếu việc làm, lao động dư
thừa, việc làm không đầy đủ hầu như không được biết đến. Còn khái niệm
toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam trong quá
trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Người lao động hợp pháp ngày
nay được đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do hành nghề, tư do liên kết kinh
doanh, tự do tìm kiếm việc là, tự do thuê mướn lao động trong khuôn khổ của
pháp luật, không bị phân biệt đối xử dù làm việc trong hay ngoài khu vực Nhà
nước. Điều này khẳng định tính chấp pháp lý trong hoạt động của người lao
động thuộc khu vực ngoài Nhà nước và các khu vực phi chính thức.
Hai điều kiện đó có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ
để một hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm. Nếu một hoạt động
tạo ra thu nhập, nhưng vi phạm pháp luật như trộm cắp, buôn bán ma tuý, mại
dâm thì không được thừa nhận là việc làm. Mặt khác một hoạt động là hợp
9
pháp và có ích, nhưng không tạo ra thu nhập cũng không được thừa nhận là
việc làm.
Nhận thức về việc làm và tạo việc làm đã có sự chuyển biến căn bản.
Nếu như trước đây, quan niệm phổ biến là Nhà nước chịu trách nhiệm tạo
việc làm và bố trí việc làm cho người lao động thì nay đã chuyển sang quan
niệm tạo việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, doanh nghiệp, xã hội và của
chính bản thân người lao động. Sự thay đổi quan niệm về việc làm của Nhà
nước phù hợp với nền kinh tế thị trường, coi hoạt động lao động tao ra nguồn
thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm, có vai trò
quan trọng trong giải phóng sức lao động, thúc đẩy tạo mở việc làm và phát
triển thị trường lao động ở nước ta.
Quan niệm về việc làm nêu trên đã mang tính khái quát cao, tuy nhiên
vẫn còn một số hạn chế, cụ thể là:
Thứ nhất, xét trên phạm vi rộng thì tính hợp pháp của một hoạt động lao
động được thừa nhận là việc làm tuỳ thuộc vào luật pháp của mỗi quốc gia và
mỗi thời kỳ. Có hoạt động là việc làm ở nước này nhưng lại không được thừa
nhận là việc làm ở nước khác.
Thứ hai, không phải mọi hoạt động có ích và cần thiết cho gia đình và xã
những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ ) để sử dụng sức
lao động đó. Trên cơ sở này sẽ hình thành các dạng việc làm cũng như phân
tích các nhân tố ảnh hướng đến hỗ trợ giải quyết việc làm.
1.1.1.2. Các dạng việc làm
Trong lý thuyết và cả trong thực tế việc làm được chia làm nhiều hình
thức khác nhau. Những hình thức việc làm là các phương pháp tổ chức pháp
lý và những điều kiện sử dụng lao động. Trong khuôn khổ của thị trường lao
động quốc gia hoạt động lao động của con người được tổ chức với sự trợ giúp
của những hình thức tổ chức pháp lý khác nhau, được phân biệt bởi định mức
11
điều tiết pháp lý thời gian và chế độ ngày làm việc, sự đều đặn của hoạt động
lao động, vị trí thực hiện công việc
- Việc làm đầy đủ: khái niệm việc làm đầy đủ không thể chỉ giải thích
theo một nghĩa, nó phụ thuộc vào tiêu chí và tính chất của vấn đề. Đầy đủ ở
đây không có nghĩa là việc làm chung cho tất cả mọi người, đảm bảo chỗ làm
việc cho tất cả dân số có khả năng lao động. Xã hội luôn có khuyng hướng đạt
được cân đối nguồn lao động trong mức tối đa, dự đoán dòng chuyển động
nguồn lao động được dựa trên cơ sở dự báo và lên kế hoạch tạo chỗ làm việc.
Trong tư duy và thực tế ở phương Tây, việc làm đầy đủ là tình hình nền
kinh tế, mà ở đó tất cả những người mong muốn làm việc có việc làm với
mức lương thực tế khống chế. Trong ngữ cảnh này nó được sử dụng đồng
nhất như khái niệm “toàn dụng nhân lực”.
Trong lý thuyết kinh tế và thực tế người ta còn chia việc làm đầy đủ ra
thành nhiều dạng như việc làm năng suất, hiệu quả và hợp lý.
- Việc làm năng suất có nghĩa là việc làm tạo ra những phúc lợi và dịch
vụ hữu ích cả cho xã hội và cả cho từng người lao động.
- Việc làm hợp lý dự đoán sự phân chia một cách tối ưu người đang làm
việc theo các ngành sản xuất và các khu vực lãnh thổ của đất nước với mục đích
sản xuất ra những sản phẩm và sử dụng những dịch vụ phục vụ cho nhu cầu.
- Việc làm hiệu quả là việc làm trong sản xuất sinh lợi nhuận được trang
Về hiệu quả việc làm có thể theo chỉ tiêu định mức thất nghiệp. Hiện
nay, ở phương Tây, việc làm đầy đủ và có hiệu quả đạt được khi có sẵn định
mức thất nghiệp tự nhiên. Định mức thất nghiệp tự nhiên là mức độ của nó
mà kiềm chế mức lương thực tế và giá cả không thay đổi với mức tăng trưởng
năng suất lao động bằng không. Trong thực tế định mức thất nghiệp được tính
bằng cách tính tổng thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cấu trúc. Phương pháp
đơn giản nhất để tính định mức thất nghiệp tự nhiên là tính theo mức độ của
13
nó trong điều kiện lạm phát ở mức vừa phải. Vì vậy, không nên đánh giá việc
làm đầy đủ và có hiệu quả chỉ theo một phương pháp, mà để nhận được thông
tin chính xác thì nên sử dụng hệ thống các chỉ tiêu đã nêu trên.
- Việc làm hợp lý: là sự thoả mãn nhu cầu làm việc cho bất cứ ai có khả
năng lao động trong nền kinh tế quốc dân và phù hợp với trình độ, nguyện
vọng của họ.
Việc làm hợp lý không những hàm chứa nội dung việc làm đầy đủ mà
còn nói rõ việc làm đó phải phù hợp với khả năng và nguyện vọng của người
lao động. Việc làm hợp lý, do vậy có năng suất lao động và hiệu quả kinh tế-
xã hội cao hơn so với việc làm đầy đủ. Trong quá trình thực hiện việc làm đầy
đủ, cần từng bước, từng bộ phận thực hiện việc làm hợp lý. Việc làm hợp lý
phản ánh sự phù hợp về mặt số lượng và chất lượng của các yếu tố con người
với điều kiện vật chất của sản xuất và xã hội, hợp lý giữa lợi ích cá nhân
người lao động với lợi ích của xã hội.
Khái niệm việc làm đầy đủ và việc làm hợp lý cũng chỉ mang ý nghĩa
tương đối. Vì trong nền kinh tế thị trường có điều tiết thì việc làm đầy đủ và
việc làm hợp lý không có nghĩa là không có người thất nghiệp. Mục tiêu phấn
đấu của chúng ta là việc làm, tiến tới việc làm đầy đủ, việc làm hợp lý và tự
do lựa chọn việc làm.
- Việc làm chính: là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian
nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với các công việc khác. Như vậy, những hoạt
động lao động của con người mang lại nguồn thu nhập chính cho bản thân và gia
hiện nay lại ảnh hưởng rất tiêu cực đến tình hình kinh tế - xã hội nói chung và
sự phát triển đồng bộ thị trường lao động nói riêng.
Cùng với chính sách mới cho người lao động được tự do lựa chọn công
việc và nghề nghiệp thì việc làm phụ là một biểu hiện hợp lý. Tuy nhiên, ở Việt
Nam, biểu hiện này về cơ bản nó gắn với những xuất hiện tiêu cực như: việc làm
15
không đầy đủ, thu nhập của người lao động thấp, tăng trưởng kinh tế chưa bền
vững. Xét từ góc độ này thì phát triển việc làm phụ rộng rãi chỉ là biểu hiện tạm
thời và nó sẽ giảm khi nền kinh tế - xã hội của đất nước phát triển ổn định.
- Việc làm không trọn ngày hay việc làm dở dang có đặc điểm công việc
trong chế độ thời gian làm việc không trọn ngày làm việc hoặc tuần làm việc
không đầy đủ, nghỉ phép bắt buộc không hưởng lương theo chủ động của lãnh
đạo công sở (doanh nghiệp), có thể được ấn định từ phía công ty, người thuê
lao động và thậm chí có thể từ sự thoả thuận đồng ý của người lao động, đó là
việc làm không trọn ngày tự nguyện. Thời gian gần đây, cả chế độ này hay
chế độ kia đều được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế thị trường
phát triển.
Đối với người lao động, việc làm không trọn ngày hoàn toàn có thể chấp
nhận được trong hàng loạt các trường hợp: phụ nữ có con nhỏ, những lao
động lớn tuổi, những người tàn tật, thanh niên vừa đi học, vừa đi làm đều có
lợi thế với loại hình việc làm này.
- Việc làm độc lập: là công việc độc lập theo chủ động cá nhân không
thu nhận lao động làm thuê khi sản xuất những hàng hoá tiêu dùng và các
dịch vụ khác nhau. Đồng thời người lao động làm chủ những phương tiện sản
xuất nhất định và tự tổ chức công việc cho mình. Trong giới hạn nhất định
việc làm độc lập là tình thế phải chọn của người lao động thất nghiệp (có thể
do doanh nghiệp không đủ năng lực đảm bảo khả năng với mức lương đầy
đủ), nhưng điều đó không thể phủ nhận vai trò tích cực chủ động của nó.
- Việc làm tổng thể: là việc làm trong tất cả các lĩnh vực hoạt động lao
động, cả trong nền kinh tế của đất nước, cả trong các hệ thống giáo dục và
đình. Mặt khác, công ty lại giảm được diện tích sản xuất, tiết kiệm chi phí lương
mà những người làm ở nhà thường được nhận ít hơn những người làm chính.
Hình thức quan trọng của việc làm không theo tiêu chuẩn hoá là những công
việc xã hội, được tổ chức bởi các dịch vụ việc làm và chính quyền địa phương
dành riêng cho những người thất nghiệp. Đó là những công việc tạm thời ít cần
đến chuyên môn như: thu dọn địa hạt, tham gia vào xây dựng đường giao thông
1.1.2. Đặc điểm và ý nghĩa của giải quyết việc làm cho thanh niên
1.1.2.1. Khái niệm giải quyết việc làm
Theo khái niệm việc làm nêu ở phần trên, việc làm là phạm trù để chỉ
trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư
liệu sản xuất, công nghệ ) để sử dụng sức lao động đó. Rõ ràng tạo được việc
làm cho người lao động hoặc tạo nhiều việc làm luôn gắn với quá trình phát
triển kinh tế xã hội, phát huy sức mạnh tiềm năng của con người, phát huy trí
tuệ người lao động để tạo ra nhiều của cải cho xã hội. Chính vì vậy, Văn kiện
Đại hội X của Đảng đã nêu rõ “Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để
phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã
hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân” [17].
Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động là cần thiết, không những
mang tầm quốc gia mà vượt ra bên ngoài khu vực và thế giới. Tuỳ thuộc vào
các cách thức tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta đưa ra
khái niệm về giải quyết việc làm:
Giải quyết việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các
chỗ làm việc và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các
việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử
dụng lao động, đồng thời đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước.
Với khái niệm trên, việc giải quyết việc làm không chỉ có nhiệm vụ chức
năng của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của xã hội, của các cơ quan doanh
nghiệp và ngay bản thân người lao động. Hiện nay, các chính sách của Nhà
18
nước luôn quan tâm chú trọng đến tạo công ăn việc làm cho người lao động
nói chung và lượng lao động nói riêng trong cả một quá trình dài hạn.
Bản thân dự báo nguồn lao động không chỉ đơn thuần là dự báo về số
lượng lao động trong khu vực hay trong một vùng là bao nhiêu trong những
năm tiếp theo, mà thực chất dự báo nguồn lao động là một khái niệm tổng hợp
gồm nhiều vấn đề liên quan phản ánh mối quan hệ và tác động qua lại đến
nguồn lao động. Chẳng hạn, để có thể đưa ra được một chính sách, cơ chế
đúng đắn về giải quyết việc làm thì bản thân các quan hoạch định chính sách
rất cần biết về các thông tin dự báo về nguồn lao động như chất lượng lao
động, số lượng lao động có sự khác nhau hay nói cách khác có một khoảng
cách quá xa hay không tại cùng một thời điểm của các khu vực, đơn vị khác
nhau , ở các địa phương có những điều kiện văn hoá, xã hội, tự nhiên khác
nhau thì sẽ tác động tới chất lượng, số lượng lao động và ý thức của người lao
động như thế nào Chính vì tính chất tổng hợp này đã xác định việc lựa chọn
được phương pháp dự báo và cũng như đưa ra được chính sách chính xác.
Tuỳ thuộc vào mục đích của việc xây dựng, hoạch định chính sách
người ta đưa ra cách tính dự báo. Nếu theo tính chất dự báo nguồn lao động
thì có thể dự báo theo thời gian (ngắn hạn 5 năm, trung hạn 10 năm hay dài
dạn trên 10 năm ) hay dự báo theo phạm vi lãnh thổ (quốc gia, vùng, miền,
địa phương ). Có thể dự báo nguồn lao động theo tính chất nghề nghiệp, theo
chất lượng lao động hay theo từng lĩnh vực.
Các kết quả dự báo được ứng dụng nhiều cho xây dựng, hoạch định
chính sách phát triển kinh tế xã hội, là một bộ phận của kế hoạch dài hạn và
20
trung hạn cho mỗi đơn vị, địa phương. Mức độ chính xác của kết quả dự báo
phụ thuộc vào nguồn lực liên quan tới nguồn lao dộng. Hay nói cách khác,
các giả thiết đưa ra phụ thuộc vào khả năng làm thay đổi các xu hướng tăng,
giảm của tỉ lệ sinh, chết, di dân, xu hướng chất lượng sao cho phù hợp với
tình hình phát triển kinh tế xã hội.
Hai là, phân tích thực trạng nguồn lao động. Thực chất phân tích nguồn
lao động thường được gắn liền với quá trình dự báo nguồn lao động. Bản thân
đánh giá một cách tổng quát nhất tình hình giải quyết việc làm. Có thể giúp cho
nhà hoạch định chính sách so sánh mức độ tương đối giải quyết việc làm qua các
thời kỳ khác nhau tại một khu vực, địa phương nhất định nào đó.
Với sự đánh giá phân tích về giải quyết việc làm tại mỗi quốc gia, địa
phương khác nhau trên cơ sở đó mà người ta đặt ra mục tiêu mức độ cần giảm
tỉ lệ thất nghiệp. Thông thường, nhà hoạch định chính sách có xu hướng ban
hành chính sách việc làm mà muốn tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho
người lao động, có nghĩa là giảm tỉ lệ thất nghiệp càng thấp càng tốt. Đó là
một trong những điều đáng lưu ý qua tâm của nhà hoạch định chính sách.
Tuy nhiên, theo các nhà kinh tế học, không thể giảm hết tỉ lệ thất nghiệp,
tuy rằng đó là lý tưởng nhưng cần tính đến khả năng thúc đẩy cũng như tạo
động lực cho mọi người lao động có ý thức vươn lên, tự giác trao đổi học tập
và phấn đấu bồi dưỡng bản thân. Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, hiện
tượng thất nghiệp vẫn xảy ra, theo nghiên cứu cho thấy, để kích thích sự tăng
trưởng và phát triển kinh tế xã hội thì cần duy trì mức tỉ lệ thất nghiệp từ 3-5%.
Đây cũng là điều khó khăn cho việc xây dựng và hoạch định chính sách, tính
toán sao cho vẫn đạt mục tiêu gia tăng năng suất lao động cao nhưng vẫn phải
đảm bảo tình hình xã hội trong nước có công ăn, việc làm cho người lao động.
22
iu ú ũi hi cú s phi hp gia cỏc chớnh sỏch ca chớnh ph, chớnh quyn
a phng cú s linh hot ỏp dng cho tng thi im sao cho phự hp.
Ba l, ban hnh chớnh sỏch vic lm. Chớnh sỏch vic lm l tng th cỏc
quan im, t tng, cỏc mc tiờu, gii phỏp v cụng c nhm s dng lc
lng lao ng v to vic lm cho lc lng lao ng ú. Hay núi cỏch khỏc,
chớnh sỏch vic lm l s th ch hoỏ phỏp lut ca Nh nc trờn lnh vc
lao ng v vic lm, l h thng cỏc quan im, phng hng mc tiờu v
cỏc gii phỏp gii quyt vic lm cho ngi lao ng.
Chớnh sỏch vic lm thc cht l mt h thng cỏc chớnh sỏch chung cú
quan h v tỏc ng n vic m rng v phỏt trin vic lm cho lc lng lao
ng ca ton xó hi, nh cỏc chớnh sỏch: Khuyn khớch phỏt trin cỏc lnh vc,
Yu t trỡnh ngh nghip ca thanh niờn rt quan trng khi tham gia
th trng lao ng, thm chớ quyt nh nng lc cnh tranh ca h v phi
24
Biu 1.2: Mụ hỡnh v trỡnh ngh nghip ca lao ng thanh niờn [8].
TRèNH NGH NGHIP
TRèNH NGH NGHIP
Kin thc ngh nghip
K nng thc t,
kinh nghim lm vic
K nng thớch ng
ngh nghip, cụng vic
Cp trỡnh
v ngnh o to
Thõm niờn lm vic
Trỡnh thc t
Trỡnh thc t
T
r
ỡ
n
h
v
h
ỡ
Thể lực, trí lực, tâm lực
Điều kiện sống và làm việc
- Sức khoẻ
- Hình thể
- Tâm thể
- Giới tính
- Lứa tuổi
- Trí tuệ
- Tinh thần
Trình độ
nghề nghiệp
N
h
ữ
n
g
n
h
â
n
t
ố
b
ê
n
n
- Điều kiện làm việc
- Khí hậu, thời tiết
- Điều kiện giải trí
- áp lực tâp lý, xã
hội
- Điều kiện khác
thông qua đào tạo, tích luỹ kinh nghiệm trong cuộc sống và làm việc, thể hiện
ở hình sau:
Trình độ nghề nghiệp được biểu hiện về mặt hình thức là trình độ đạt
được qua đào tạo nghề nghiệp; về mặt nội dung là trình độ nghề nghiệp thực
tế thể hiện ở năng suất, hiệu quả làm việc.
Lao động thanh niên có nhiều tiềm năng, tuy nhiên thanh niên đang
trong độ tuổi phát triển, chưa đến độ tuổi của lao động trưởng thành, nên lao
động thanh niên có một số hạn chế:
- Lao động mới tăng thêm thường 100% là ở tuổi thanh niên, nhưng chủ
yếu là lao động phổ thông chưa qua đào tạo nghề nghiệp;
- Số lao động thanh niên qua đào tạo, khi tham gia thị trường lao động
phải có khoảng thời gian nhất định để làm quen, thích nghi với công việc và
vẫn phải tiếp tục được đào tạo;
- Kinh nghiệm tích luỹ trong thực tế còn hạn chế.
25