Thực trạng và các giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên nước ta giai đoạn 2006 - 201 - Pdf 46

GVHD: GS.TS Đỗ Hoàng Toàn
LỜI NÓI ĐẦU
Ở nước ta, thanh niên chiếm một tỷ lệ lớn, nếu không nói là lớn nhất trong
các nhóm tuổi của nguồn lao động và lực lượng lao động. Dự báo sau 10 năm nữa,
thanh niên sẽ là tầng lớp dân cư đông đảo nhất ở Việt Nam. Thanh niên thực sự là
chủ thể đại diện cho tương lai của dân tộc. Nhưng để thực hiện được trách nhiệm to
lớn này, họ phải tham gia vào dân số hoạt động kinh tế và phải có việc làm.
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm giáo dục, bồi dưỡng thanh niên, phát
huy vai trò làm chủ, tiềm năng to lớn của thanh niên trong công cuộc xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành
trung ương Đảng (khoáVII) khẳng định: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay
không, đất nước bước vào thế kỷ 21 có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới
hay không phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng rèn
luyện thế hệ thanh niên; công tác thanh niên là vấn đề số còn của dân tộc, là một
trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”. Vì vậy, giải quyết
việc làm cho thanh niên là một trong những mục tiêu hướng tới của chiến lược phát
triển kinh tế xã hội.
Hơn nữa, trong giai đoạn cách mạng mới, với bối cảnh quốc tế biến động và
phức tạp, trước những thách thức to lớn xu thế toàn cầu hoá về kinh tế sự phát triển
của kinh tế tri thức, thanh niên là lực lượng xung kích cách mạng là nguồn nhân lực
quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nên
giải quyết việc làm cho thanh niên cần được chú trọng để lực lượng thanh niên phát
triển, trưởng thành nhanh nhất và cống hiến nhiều nhất cho đất nước.
Nhận thức được vấn đề trên, em đã chọn đề tài nghiên cứu:
“Thực trạng và các giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên nước ta
giai đoạn 2006 - 2010”
Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên.
SV: Tạ Thị Hạnh QLKT 44B 1
GVHD: GS.TS Đỗ Hoàng Toàn
Chương 2: Phân tích thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho thanh

chia ra thành người có đủ việc làm và người thiếu việc làm.
Người đủ việc làm bao gồm những người có số giờ việc làm trong tuần lễ
tính đến điều tra lớn hơn hoặc bằng 40 giờ, hoặc có số giờ nhỏ hơn 40 giờ nhưng
không có nhu cầu làm việc hoặc những người có số giờ việc làm nhỏ hơn số giờ
quy định đối với những người làm công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện
hành.
Người thiếu việc làm gồm những người trong tuần lễ tính đến thời điểm điều
tra có số giờ làm việc dưới 40 giờ, hoặc số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy định
đối với những người làm công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định hiện hành của
Nhà nước, có nhu cầu làm thêm giờ và đã sẵn sàng làm việc nhưng không có việc
làm để làm (trừ những người có số giờ việc làm dưới 8 giờ, có nhu cầu làm việc và
sẵn sàng làm việc nhưng không tìm việc làm).
SV: Tạ Thị Hạnh QLKT 44B 3
GVHD: GS.TS Đỗ Hoàng Toàn
Người thất nghiệp là người từ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động
kinh tế mà trong tuần lễ trước điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu làm
việc. Nghĩa là:
Có hoạt động tìm việc trong 4 tuần qua hoặc không có hoạt động đi tìm việc
trong 4 tuần qua vì lý do không biết tìm việc ở đâu hoặc tìm mãi mà không được.
Hoặc trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra có tổng số giờ làm việc dưới 8
giờ, muốn và sẵn sàng làm thêm nhưng không tìm được việc.
1.2. Giải quyết việc làm:
Mục tiêu giải quyết việc làm là hướng tới có việc làm đầy đủ cho người lào
động, đảm bảo thu nhập ổn định, tiến đến nâng cao mức sống cho người lao động;
dần nâng cao chất lượng việc làm để sử dụng một cách có hiệu quả nhất nguồn
nhân lực của đất nước.
Căn cứ vào mục tiêu trên, người ta phân ra việc giải quyết việc làm thành
việc làm đầy đủ và việc làm hợp lý.
Việc làm đầy đủ là “sự thoả mãn nhu cầu về việc làm của các thành viên có
khả năng lao động trong nền kinh tế”

gồm các hoạt động nhằm chống và giải quyết thất nghiệp ở thành thị và khắc phục
tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn.
1.3. Chính sách việc làm: Là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010 nhằm phát huy tối đa nội lực, nâng cao chất
lượng nguồn lực và chuyển đổi cơ cấu lao động, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu
cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tạo nhiều việc làm, giảm thất nghiệp ở
thành thị và tăng quỹ thời gian lao động được sử dụng ở nông thôn; góp phần tăng
thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân. Nhà nước đã ban hành các văn bản quy
phạm pháp luật về việc làm để xác định rõ các hoạt động, quyền và nghĩa vụ của
các tổ chức và cá nhân trong lĩnh vực việc làm.
Chính sách việc làm được xây dựng trên quan điểm: giải quyết việc làm cho
người lao động và đó cũng là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn
định và phát triển kinh tế, lành mạnh xã hội, đáp ứng yêu cầu bức xúc của nhân
dân. Tạo hành lang pháp lý và điều kiện thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế
đầu tư phát triển, tạo nhiều việc làm và phát triển thị trường lao động. Đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, kết hợp
tăng trưởng việc làm với không ngừng nâng cao chất lượng việc làm. Tăng cường
các hoạt động hỗ trợ trực tiếp giải quyết việc làm thông qua thực hiện có hiệu quả
chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, nhất là các hoạt động tín dụng ưu đãi
để tạo việc làm; thông tin tư vấn và giới thiệu việc làm,...
3
Hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết việc làm –Bộ Lao động Thương binh và Xã hội-NXB Lao động Xã hội –HN2003-
Tr7
SV: Tạ Thị Hạnh QLKT 44B 5
GVHD: GS.TS Đỗ Hoàng Toàn
2. Một số khái niệm về thanh niên:
2.1. Khái niệm:
Thanh niên là một khái niệm được sử dụng nhiều trong công tác cũng như
trong cuộc sống hàng ngày với nhiều cách hiểu khác nhau. Tuỳ theo trường hợp, có
khi thanh niên dùng để chỉ một con người cụ thể, có khi lại được dùng để chỉ tính

Luật số 53/2005/QH11 của Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 8. (từ ngày 18/10
đến 29/11 năm 2005).
Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến
30 tuổi. Quy định về quyền và nghĩa vụ của thanh niên, trách nhiệm của nhà nước,
gia đình và xã hội đối với thanh niên, tổ chức thanh niên. Luật này áp dụng đối với
cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế,
đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân Việt Nam.
Thanh niên là tương lai của đất nước, là lực lượng xã hội hùng hậu, có tiềm
năng to lớn, xung kích trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đào tạo, bồi
dưỡng và phát huy thanh niên là trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội.
Nhà nước có chính sách tạo điều kiện cho thanh niên học tập, lao động, giải
trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng về đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức
công dân, ý chí vươn lên phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
Quyền và nghĩa vụ của thanh niên:
Trong học tập: Được học tập và bình đẳng về cơ hội học tập. Xung kích tham
gia các chương trình phát triển giáo dục và đào tạo, xây dựng xã hội học tập. Học
tập nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp, tham gia xây dựng môi
trường văn hoá học đường, trung thực trong học tập.
Trong lao động: Lao động để lập thân, lập nghiệp, làm giàu chính đáng, góp
phần xây dựng đất nước. Tự lựa chọn việc làm và nơi làm việc phù hợp với khả
năng của bản thân và nhu cầu của xã hội. Rèn luyện tác phong công nghiệp, năng
lực quản lý, kinh doanh, tuân thủ kỷ luật lao động, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ
thuật; nâng cao trình độ nghề nghiệp.
Trong bảo vệ tổ quốc: Bảo vệ tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao
quý của thanh niên, được huấn luyện chương trình giáo dục quốc phòng, thực hiện
nghĩa vụ quân sự, giữ gìn bí mật quốc gia.
Trong hoạt động khoa học, công nghệ và bảo vệ tài nguyên, môi trường:
Được nghiên cứu khoa học và công nghệ, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
và đời sống. Trung thực và có tinh thần hợp tác trong nghiên cứu khoa học và công

GVHD: GS.TS Đỗ Hoàng Toàn
Giáo dục hướng nghiệp: Thanh niên trước hết là học sinh phổ thông (cuối
bậc THCS hoặc THPT), trên cơ sở tư vấn và thu nhập thông tin nghề nghiệp nhất
định để hình thành quan niệm bước đầu về nghề nghiệp đồng thời căn cứ vào điều
kiện của bản thân đưa ra những dự định bước đầu về phương hướng lựa chọn nghề
để học hoặc làm việc sau này.
Chọn nghề để học: Trên cơ sở các thông tin cụ thể về ngành nghề, yêu cầu
của thị trường lao động, hệ thống giáo dục đào tạo và tự đánh giá hoặc được tư vấn
đánh giá đúng khả năng, nguyện vọng cá nhân, thanh niên quyết định nghề để học
ở các cấp, bậc học khác nhau (học nghề, Đại học...). Sau khi học chọn được nghề
để học và được đào tạo nghề nghiệp, thanh niên có thể bước đầu nắm vững kiến
thức và kỹ năng làm công việc nào đó. Đây là giai đoạn quan trọng chuẩn bị nghề
nghiệp phù hợp của thanh niên để sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động. Giai
đoạn này sự tác động của các yếu tố định hướng giá trị xã hội và định hướng thị
trường đến các quyết định của cá nhân rất lớn và cũng là giai đoạn quyết định trong
phân luồng học sinh để đi vào thị trường lao động, học nghề hoặc học Đại học theo
yêu cầu của thị trường.
Chọn nghề để làm: Sau khi được đào tạo, thanh niên có năng lực nghề nghiệp
nhất định, hiểu rõ nhu cầu của thị trường lao động, đồng thời căn cứ vào điều kiện
của bản thân để lựa chọn vị trí, nơi làm việc phù hợp với trình độ và điều kiện của
bản thân, của gia đình. ở giai đoạn này, vấn đề quan trọng nhất là khả năng đáp ứng
nghề nghiệp của thanh niên như thế nào đối với yêu cầu của thị trường lao động. Sự
đáp ứng càng tốt, khả năng hội nhập của thanh niên vào thị trường lao động càng
lớn, cơ hội thanh niên có việc làm càng cao. Đây là mắt xích quan trọng của việc
định hướng nghề nghiệp cho thanh niên mà kết quả của nó là thanh niên có việc
làm phù hợp.
Trong giai đoạn này, vai trò tư vấn, giới thiệu và hoạt động giao dịch lao
động trên thị trường là rất quan trọng.
Thích ứng và phát triển nghề nghiệp của thanh niên: Sau khi có việc làm,
thanh niên vẫn phải được định hướng để qua thực tiễn họ có thể đảm đương được

hướng cho thanh niên trước khi tham gia thị trường lao động (hiện nay đang thực
hiện cho đối tượng thanh niên trước khi đi xuất khẩu lao động)...
- Hoạt động tư vấn về bản thân thanh niên, về lựa chọn nghề để học, lựa
chọn việc làm...
- Hoạt động đào tạo nghề nghiệp cho thanh niên theo các cấp trình độ và các
bậc đào tạo, trong đó có đào tạo liên thông giữa các cấp trình độ và các bậc đại học.
SV: Tạ Thị Hạnh QLKT 44B 10
GVHD: GS.TS Đỗ Hoàng Toàn
- Hoạt động dịch vụ giới thiệu đào tạo nghề nghiệp, giới thiệu việc làm... cho
thanh niên (giao dịch trên thị trường lao động).
Như vậy, hoạt động định hướng nghề nghiệp cho thanh niên xét về bản chất
có nội dung kinh tế, hướng vào phát triển nguồn nhân lực (yếu tố đầu vào của sản
xuất), nhưng lại có ý nghĩa xã hội rất sâu sắc. Có thể nói, đó là một lĩnh vực dịch
vụ lao động – xã hội ngày càng phát triển trong kinh tế thị trường với những hình
thức rất đa dạng phong phú.
Trong đó vai trò của Nhà nước là rất quan trọng trong việc hoạch định chính
sách, phát triển hệ thống sự nghiệp định hướng nghề nghiệp và đầu tư hỗ trợ về tài
chính. Song trong kinh tế thị trường, cần đa dạng hoá các hình thức và các tổ chức
hoạt động định hướng nghề nghiệp theo tinh thần xã hội hoá, nhất là phát triển các
dịch vụ lao động – xã hội của các tổ chức xã hội hoạt động không vì mục tiêu lợi
nhuận, đồng thời cho phép phát triển các tổ chức dịch vụ xã hội tư nhân với điều
kiện nhất định.
6
II. GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN:
1. Tính tất yếu giải quyết việc làm cho thanh niên.
Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định con người vừa là mục tiêu vừa là động
lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Con người được xem xét trên hai khía cạnh
thống nhất với nhau:
Một là, con người với tư cách là chủ thể sáng tạo ra mọi của cải vật chất và
tinh thần. Như vậy, để tồn tại và phát triển, con người bằng sức lao động của mình

nghiệp tham gia đáng kể vào các tệ nạn xã hội như ma tuý, trộm cướp, mại dâm...
Trong lúc các con đường khác để tạo việc làm rộng mở hơn và khó bị kiểm soát và
ngăn chặn hơn. Mặt khác, thất nghiệp còn tác động đến tâm tư tình cảm, suy nghĩ
của người lao động, thất nghiệp gây cho người lao động tâm lý luôn luôn lo lắng, bị
đe doạ, làm mất niềm tin của họ vào tương lai tươi sáng.
Chính vì vậy trong mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của quốc
gia đều hướng vào mục tiêu việc làm đầy đủ cho người lao động, nâng cao chất
lượng việc làm... Nhưng trên thực tế, không dễ dàng thực hiện được những mục
SV: Tạ Thị Hạnh QLKT 44B 12
GVHD: GS.TS Đỗ Hoàng Toàn
tiêu này nên một yêu cầu có tính khách quan là cần phải có các biện pháp giải
quyết việc làm cho người lao động.
Như chúng ta đã xem xét ở phần trên, thanh niên trong lực lượng lao động,
nên nó cũng là một trong những đối tượng cần giải quyết việc làm. Mặt khác, thanh
niên là lực lượng lao động dự trữ đầy tiềm năng, là những “người làm chủ tương lai
của nước nhà”, quyết đinh đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nên giải
quyết việc làm cho đối tượng này có ý nghĩa rất quan trọng. Mặt khác, độ tuổi
thanh niên là độ tuổi bắt đầu tham gia vào thị trường lao động nên có những yếu
điểm so với các nhóm tuổi khác trong tìm và tự tạo việc làm; với tính di chuyển cao
gây khó khăn trong việc phân bố là lực lượng lao động, mặc dù họ có tính chất
xung phong. Không những thế, thanh niên là đối tượng đang trong giai đoạn trưởng
thành, “nhạy cảm” với sự tác động của bên ngoài nên những tác động tiêu cực đến
bản thân thanh niên mạnh hơn các đối tượng khác. Chính vì vậy giải quyết việc làm
cho đối tượng này không chỉ là yêu cầu khách quan mà là yêu cầu bức xúc.
2. Đặc điểm trong giải quyết việc làm cho thanh niên.
“Giải quyết việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, các cấp, các tổ chức xã
hội và của mỗi người lao động”
7
. Có nghĩa là bản thân thanh niên phải có tinh thần
học hỏi, tự lực rèn luyện, vươn lên, chuẩn bị tốt về thể lực và trí lực để tự tìm tạo


Đối tượng tác động của chính sách việc làm người lao động xã hội, người
chưa có việc làm, người thất nghiệp, người thiếu việc làm. Như vậy chính sách việc
làm tác động trực tiếp đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động, trong đó
có thanh niên.
Ngày 11/04/1992, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Nghị quyết số
120/HĐBT: “Về chủ trương, phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm trong
những năm tới”, theo đó: Người lao động và người sử dụng lao động có quyền tự
do làm việc, tìm việc và tuyển lao động theo quy định của pháp luật, điều này thúc
đẩy thị trường lao động phát triển, mở rộng cơ hội tìm và tạo việc làm cho người
lao động trong đó có thanh niên.
SV: Tạ Thị Hạnh QLKT 44B 14
GVHD: GS.TS Đỗ Hoàng Toàn

8
Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trang – Về Chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam – NXB Chính trị Quốc
gia – HN 1997 – Tr17
Mặt khác, quy định Nhà nước có trách nhiệm:
Một là, Nhà nước định chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch phát triển
kinh tế-xã hội 5 năm và hàng năm, tạo điều kiện cần thiết, hỗ trợ tài chính cho vay
vốn hoặc giảm, miễn thuế và áp dụng các biện pháp khuyến khích khác để người
lao động có khả năng tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị và cá nhân
thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển nhiều nghề mới nhằm tạo việc làm cho
nhiều người lao động.
Hai là, Nhà nước có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các
tổ chức và cá nhân trong và nước ngoài, gồm cả người Việt Nam định cư ở nước
ngoài đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh để giải quyết việc làm cho người lao
động.
Việc quy định những chính sách trên nhằm thúc đẩy mở rộng cầu lao động.
Vì nền kinh tế của nước ta còn chưa phát triển, nên ngoài việc khuyên khích nền

dựng các vùng kinh tế mới, khai thác vùng đất trống đồi núi trọc...; xây dựng cơ
cấu cây trồng) và chương trình phát triển công nghiệp và dịch vụ (chú trọng phát
triển các khu công nghệ cao, đặc biệt ở các cùng kinh tế động lực, các vùng đô thị);
từ đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế kéo theo chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng
tăng tỷ trọng lao động ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông
nghiệp lâm nghiệp.
Việc triển khai các chương trình này có ý nghĩa rất lớn đến thanh niên vì náo
tác động đến tất cả nước lao động tham gia hoạt động kinh tế, đặc biệt việc tập
trung vào việc khai thác các tiềm năng kinh tế ở các vùng, ngành kinh tế trọng
điểm; vùng, ngành kinh tế mới; các khu công nghệ cao, các ngành kinh tế mũi nhọn
có khả năng tạo nhiều việc làm cho thanh niên vì họ tiếp thu nhanh cái mới và có
tính chất di chuyển cao.
* Chương trình xuất khẩu lao động và chuyên gia, đây hoạt động “góp phần
phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao tay nghề
cho người lao động, tăng thu ngoại tệ cho đất nước, ...; cùng với các giải pháp giải
quyết việc làm trong nước là chính, xuất khẩu lao động và chuyên gia là một chiến
lược quan trọng, lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây
dựng đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá”
10

.
Đây là chính sách phù hợp với xu hướng mở rộng thị trường lao động quốc
tế với dòng di chuyển lao động từ nước thừa lao động sang nước thiếu lao động;
nhu cầu chủ yếu của những nước này là lao động giản đơn, thiên về lao động chân
tay nên chính sách này thu hút nhiều thanh niên tham gia, những người có nhiều lợi
thế về mặt này. Còn đối với xuất khẩu lao động chuyên gia, những lao động có
SV: Tạ Thị Hạnh QLKT 44B 16
GVHD: GS.TS Đỗ Hoàng Toàn
trình độ cao ở những ngành công nghệ mới như công nghệ thông tin, công nghệ
sinh học,... thanh niên cũng là đối tượng nhanh nhạy trong lĩnh vực này, nên có thể

Xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động bằng cách xây dựng hệ
thống thông tin quản lý lao động, việc làm; tổ chức điều tra, khảo sát, thu thập, xử
lý và sử dụng các thông tin về thị trường lao động, thông tin về lao động, việc làm
tại các địa bàn trọng điểm thông qua các cuộc điều tra mẫu, điều tra lặp lại; tổ chức
điều tra lao động, việc làm hàng năm, hàng quý ở đô thị, hàng năm ở nông thôn.
Việc xây dựng hệ thống thông tin này rất quan trọng, nó là cơ sở để người lao
động, nhà tuyển dụng, các trung tâm dịch vụ việc làm nắm bắt được thông tin về thị
trường lao động và là cơ sở để các nhà quản lý về lao động đưa ra những chính
sách đúng đắn điều chỉnh thị trường lao động, từ đó có những chính sách giải quyết
việc làm hiệu quả cho lao động nói chung và từng đối tượng lao động đặc thù nói
riêng như thanh niên, phụ nữ, lao động trẻ em, người tàn tật,...
3.2. Chính sách giáo dục - đào tạo.
Hiến pháp năm 1992 của nước ta đã khẳng định “Giáo dục và đào tạo là quốc
sách hàng đầu”.
“Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và
năng lực của công dân, đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng
tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân
giàu nước mạnh, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
(Điều 35 - Hiến pháp). Mục tiêu này hướng đến người lao động hoàn thiện có đủ
khả năng và tự tạo việc làm.
Chính sách giáo dục – đào tạo tác động trực tiếp đến chất lượng cung lao
động, đặc biệt là đối với thanh niên, người đang trong độ tuổi học tập và cũng là
lứa tuổi có khả năng học hỏi và tiếp thu kiến thức hiệu quả nhất. Điều quan trọng
nhất là chính sách đào tạo nghề cho người lao động, vì đây là cơ sở cho việc làm
một công việc trong tương lai; 15 tuổi là bắt đầu tuổi lao động; nếu học liên tục thì
đã tốt nghiệp trung học cơ sở, và đây cũng là độ tuổi được học nghề, theo quy định
của Bộ luật lao động, 13 tuổi được phép học nghề nên các chính sách giáo dục -
đào tạo trong giai đoạn này tác động đến định hướng học sinh theo con đường nào
và điều này tác động trực tiếp đến công việc sau này của thanh niên.
SV: Tạ Thị Hạnh QLKT 44B 18

SV: Tạ Thị Hạnh QLKT 44B 19
GVHD: GS.TS Đỗ Hoàng Toàn
+ Thanh niên xung phong phát triển kinh tế.
+ Các trung tâm và các câu lạc bộ chuyển giao công nghệ
+ Đội ánh sáng văn hoá, đội thanh niên tình nguyện xây dựng nông thôn.
+ Câu lạc bộ thanh niên giúp nhau làm kinh tế.
+ Trung tâm xúc tiến việc làm thanh niên.
Để thực hiện chính sách trên, tại Hội nghị Ban chấp hành TU Đoàn Thanh
niên Cộng Sản Hồ Chí Minh lần thứ II, khoá VI, năm 1993 đã phát động phong
trào “Thanh niên lập nghiệp”
* Phong trào “Thanh niên lập nghiệp”
Các cấp bộ Đoàn triển khai thành các phong trào như: “Học tập vì ngày mai
lập nghiệp”, “Xoá đói giảm nghèo xây dựng nông thôn mới”, “Giải quyết việc làm
cho thanh niên’, “Phong trào tình nguyện”,...
- Phong trào “Học tập – rèn luyện vì ngày mai lập nghiệp”
Hướng nghiệp cho thanh niên, tư vấn cho thanh niên việc chọn nghề, học
nghề và xin việc làm thông qua các trung tâm dịch vụ việc làm và các văn phòng
giới thiệu việc làm cho thanh niên.
Động viên, khuyến khích các đối tượng thanh niên tích cực học tập văn hoá,
chuyên môn, nghiệp vụ nâng cao trí tuệ để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa-
hiện đại hoá. Thông qua các câu lạc bộ học sinh, sinh viên ở các cơ sở Đoàn
trường học, các quỹ “khuyến học, khuyến tài, giúp nhau trong học tập”,..., các
nguồn vốn cho sinh viên vay để học tập,... động viên thanh niên tham gia chương
trình phổ cập tiểu học, phổ thông cơ sở, trung học phổ thông; các chương trình đào
tạo nghề và có tay nghề cao để tìm cho mình một công việc tốt. Mặt khác động viên
tham gia chương trình xoá mù chữ, chống tái mù nhằm nâng cao dân trí ở các vùng
trong cả nước thông qua việc tham gia các đội thanh niên tình nguyện xuống cơ sở
làm nhiệm vụ xoá mù chữ hay tổ chức các lớp học tình thương.
- Phong trào “Xoá đói giảm nghèo xây dựng nông thôn mới”
Động viên thanh niên tham giai các chương trình xoá đói, giảm nghèo và

động phát triển kinh tế, đặc biệt là nông thôn, vùng sâu, vùng xa mục đích để giáo
dục thanh niên hiểu được nghĩa vụ phục vụ đất nước, phát huy tinh thần xung
phong và quan trọng là phân bố lại lực lượng lao động thanh niên mới ra trường ở
SV: Tạ Thị Hạnh QLKT 44B 21
GVHD: GS.TS Đỗ Hoàng Toàn
những nơi thừa lao động sang nơi những vùng thiếu lao động và phát triển kinh tế ở
những vùng này, tạo mở cầu lao động, tăng giải quyết việc làm.
Tổ chức các hoạt động thanh niên tình nguyện đảm nhận các công trình
thanh niên, phần việc thanh niên trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới. Đây
chính là “trường học kinh nghiệm”
11
nâng cao về trình độ tay nghề để họ có được
kiến thức cũng như khả năng thực hành tốt khi xin việc, cái mà ở độ tuổi thanh niên
còn yếu; cũng như rèn luyện được những đức tính tốt trong lao động như yêu lao
động, chăm chỉ, dẻo dai... Mặt khác nó giúp nâng cao cơ sở hạ tầng nông thôn phát
triển kinh tế, tạo mở nhiều việc làm mới, gián tiếp giúp cho chính minh.
Để khuyến khích thanh niên tham gia các hoạt động tình nguyện, nhất là
chương trình trí thức trẻ tham gia phát triển kinh tế nông thôn, Nhà nước có “Chính
sách ưu đãi đối với đội viên các đội trí thức trẻ tình nguyện tham gia phát triển kinh
tế nông thôn miền núi” theo Quyết định số 149/2000/QĐ-TTG ngày 28/12/2000
của Thủ tướng Chính phủ. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, khi về địa phương xuất
phát được cấp chính quyền nhập hộ khẩu và giúp đỡ tạo điều kiện ổn định cuộc
sống; được ưu tiên trong thi tuyển công chức, thi tuyển sinh đại học và sau đại học.
Nếu có ý định ở lâu dài ở nơi đã tình nguyện đến công tác thì được chính quyền địa
phương ưu tiên sắp xếp việc làm, tạo điều kiện về chỗ ở, phương tiện sản xuất và
các điều kiện sinh hoạt để ổn định cuộc sống.
* Phong trào’Thanh niên xung phong”
Theo Quyết định 770/TTG ngày 20/12/1994 của Thủ tướng chính phủ về tổ
chức và chính sách đối với thanh niên xung phong, “Thanh niên xung phong
(TNXP) là hình thức tổ chức lực lượng xung kích của thanh niên do Đoàn TNCS

Tổng sản phẩm quốc dân của nước ta tăng hàng năm với tốc độ năm sau cao
hơn năm trước. Giai đoạn 2000 – 2004 tốc độ tăng bình quân năm đạt 7,2%.
Bảng 1: Tổng sản phẩm trong nước theo ngành kinh tế.
Năm
Tốc độ tăng hàng năm
(Tính theo giá so sánh)
Cơ cấu
(Tính theo giá thực tế)
Tổng NLN CN &
XD
DV Tổng NLN CN &
XD
DV
2000 6,79 4,63 10,07 5,32 100 24,53 36,73 38,74
2001 6,89 2,98 10,39 6,1 100 23,25 38,12 38,63
2002 7,08 4,16 9,48 6,54 100 22,99 38,55 38,46
2003 7,34 3,6 10,15 6,45 100 22,54 39,46 38,00
2004 7,79 4,36 10,21 7,26 100 21,81 40,21 37,98
(Chú thích: “NLN’ là nông lâm nghiệp; “CN &XD” là công nghiệp và xây
dựng; “DV” là dịch vụ)
(Nguồn: Tính toán trên: Niên giám thống kê năm 2004- Tổng cục Thống kê -
Hà Nội 2005)
Qua bảng số liệu trên, ta thấy ngành công nghiệp có tốc độ tăng cao nhất, sau
đến ngành dịch vụ và thấp nhất là ngành nông lâm nghiệp; điều này phù hợp với xu
hướng phát triển chung của nền kinh tế và định hướng phát triển chung của nền
kinh tế và định hướng phát triển của đất nước là “công nghiệp hoá - hiện đại hoá”.
Chính vì tốc độ trên làm cho tỷ trọng ngành CN & XD tăng lên; giảm tỷ trọng
ngành DV và ngành NLN. Xét về mức độ đóng góp của các ngành, qua bảng cho
SV: Tạ Thị Hạnh QLKT 44B 24
GVHD: GS.TS Đỗ Hoàng Toàn

Trích đoạn WWW.tintucvietnam.com Thứ 6 ngày 23/4/200 4 Mục Tuyển sinh Kết quả tổng kiểm tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản năm 2001 Tổng cục Thống kê NXB Thống kê-HN Cần đưa ra những văn bản hướng dẫn thi hành luật thanh niên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status