Giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn xã đại trạch bố trạch quảng bình, lý luận và thực tiễn” - Pdf 26

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài “Giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn xã
Đại Trạch - Bố Trạch - Quảng Bình, lý luận và thực tiễn” ngoài sự cố gắng nỗ
lực học hỏi tìm kiếm của bản thân tôi còn nhận được sự giúp đỡ đặc biệt của
Thạc sỹ Lê Văn Đức, người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành bài tiểu luận
này.
Qua quá trình nghiên cứu bản thân sinh viên đã cố gắng tìm hiểu, vận
dụng các kiến thức được học tập ở môn học Luật Lao động, dành nhiều thời gian
cho việc tìm kiếm tài liệu và quan sát thực tế, nhưng do năng lực bản thân còn
hạn chế, nhận thức chưa cao, thời gian nghiên cứu không cho phép, do đó đề tài
không tránh khỏi những sai sót. Cho nên bản thân sinh viên mong muốn nhận
được sự góp ý của các thầy cô, các anh chị cũng như các bạn sinh viên. Đặc biệt
tác giả mong nhận được sự đóng góp, giúp đỡ nhiệt tình của giảng viên hướng
dẫn - Thạc sỹ Lê Văn Đức.
Với tấm long tri ân sâu sắc nhất tôi xin chân thành gửi đến Thầy giáo Lê
Văn Đức, Kính chúc Thầy và gia đình luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, chúc
thầy đạt được nhiều thành công mới trong cuộc sống.
Vinh, ngày 30 tháng 12 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Bùi Thị Thuỷ
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và việc làm cho đối
tượng thanh thiếu niên nói riêng đang là vấn đề hết sức nan giải của mỗi
quốc gia trên toàn thế giới trong đó có việt nam. Theo báo cáo của tổng cục
thống kê hằng năm nước ta có trên 1,5 triệu trẻ em được sinh ra đó là
nguồn nhân lực hết sức dồi dào, là lực lượng kế cận bổ sung cho một số
lượng lớn lao động đối tượng ngoài độ tuổi lao động. điều đó có nghĩa là
nước ta là một nước có cơ cấu dân số trẻ, tỉ suất sinh tăng( ) tỉ suất tử ở
mức thấp( ) đối tượng trong độ tuổi lao dộng chiem tỉ lệ cao chiếm trên
73% trong cơ cấu dân số việt nam. Có lực luongj lao động dồi dào đó là một

đề tài: “Giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn xã Đại Trạch - Bố
Trạch - Quảng Bình, lý luận và thực tiễn” làm đề tài nghiên cứu nhằm một phần
đáp ứng nhu cầu đó.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cho tới nay đã có một số công trình khoa học nghiên cứu vấn đề giải quyết
việc làm cho thanh niên dưới nhiều góc độ khác nhau, được công bố dưới dạng
sách, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, luận văn tốt nghiệp và các bài viết trên
một số tạp chí. Tuy nhiên, vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho thanh niên ở
một xã đặc thù như xã Đại trạch - huyện Bố Trạch - Quảng Bình thì chưa có đề tài
nào. Vì vậy, tôi chọn đề tài “Giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn xã
Đại Trạch - Bố Trạch - Quảng Bình.Lý luận và thực tiễn ” làm đề tài nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục đích: Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng lao động việc làm và việc
giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn xã Đại Trạch - Bố Trạch - Quảng
Bình trong những năm vừa qua. Qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả công tác giải quyết việc làm cho thanh niên Phường trong thời gian tới.

3
+ Làm rõ một số vấn đề lý luận về việc làm, thanh niên, giải quyết việc làm
cho thanh niên.
+ Phân tích thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho thanh niên xã
Đại Trạch trong thời gian qua.
+ Chỉ rõ những hạn chế của công tác giải quyết việc làm cho thanh niên, từ
đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động này.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở các nguyên lý của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam,
những chủ trương chính sách của Nhà Nước về vấn đề thanh niên và nghề
nghiệp việc làm. Đề tài sử dụng các phương pháp sau:
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Các công việc tự làm để thu lợi cho bản thân.
- Làm các công việc nhằm tạo thu nhập (bằng tiền hoặc hiện vật) cho gia
đình mình nhưng không hưởng tiền lương tiền công.
Hiện nay quan niệm về việc làm đã có nhiều thay đổi, trong thời kỳ bao
cấp, người lao động được coi là có việc làm khi họ tiến hành những công việc
đòi hỏi một chuyên môn nào đó, tạo thu nhập nhất định; người có việc làm hoặc
phải thuộc biên chế Nhà nước, hoặc làm việc trong các hợp tác xã Theo cách
hiểu này, khái niệm việc làm không tính đến những người lao động đang làm
việc ở khu vực kinh tế tư nhân, cá thể, hay làm việc tại nhà. Do quan niệm máy
móc như vậy và để đảm bảo tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội nên trong xã hội
không thừa nhận thất nghiệp, thiếu việc làm, lao động dư thừa Quan niệm này
đã hạn chế rất lớn hoạt động lao động sản xuất của con người, triệt tiêu nhiều
tiềm năng sáng tạo, tính chủ động của họ trong quá trình hoạt động thực tiễn.
Hiện nay quan niệm này đã thay đổi, người có việc làm không thất thiết phải vào
biên chế nhà nước mà có thể làm việc ở mọi thành phần kinh tế hoặc do bản

5
thân người lao động tự tạo ra để có thu nhập. Việc đổi mới nhận thức về việc
làm đã đưa đến sự đổi mới nhận thức, quan niệm về chính sách, biện pháp giải
quyết việc làm trong điều kiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
theo hướng khơi dậy mọi nguồn lực và và khả năng to lớn nhằm giải phóng sức
lao động, giải quyết việc làm cho người lao động ở mọi thành phần kinh tế, ở
mọi khu vực, trong đó đặc biệt chú ý đến khả năng tự tạo việc làm của chính bản
thân người lao động. Hơn nữa, quan niệm mới hiện nay không chỉ chú ý đảm
bảo có đủ việc làm cho người lao động, mà còn coi trọng nâng cao chất lượng
việc làm tiến tới việc làm có năng suất, có thu nhập cao và được tự do lựa chọn
việc làm, tức là đảm bảo tính nhân văn của việc làm.
Việc làm trong xã hội thường chịu ảnh hưởng của các nhân tố như: Vốn
đầu tư, sức lao động, nhu cầu thị trường về sản phẩm. Ta nhận thấy rằng: Khối
lượng của việc làm được tạo ra tỉ lệ thuận với các yếu tố trên. Chẳng hạn như

động, có sức lao động nhưng chưa có việc làm, đang có nhu cầu làm việc nhưng
chưa tìm được việc làm. Thiếu việc làm là tình trạng có việc làm nhưng do
nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người lao động, họ phải làm việc
không hết thời gian theo pháp luật quy định hoặc làm những công việc có thu
nhập thấp, không đáp ứng nhu cầu cuộc sống muốn tìm thêm việc làm bổ sung.
Xét theo nguyên nhân người ta phân thất nghiệp thành các loại:
Thất nghiệp cơ cấu: do cơ cấu của cung lao động không phù hợp nhu cầu sản
xuất hàng hoá và dịch vụ, loại thất nghiệp này mang đặc điểm tồn tại lâu dài.
Thất nghiệp công nghệ: Do thay đổi công nghệ và áp dụng những tiến bộ
kỹ thuật mới, làm giảm nhu cầu chung về lao động trong một số ngành nghề
nhất định. Loại này có đặc điểm có thể tồn tại lâu dài hay ngắn hạn tuỳ thuộc
vào khả năng đào tạo lại, để nâng cao tay nghề cho người thất nghiệp và độ tuổi
của những người đào tạo lại.
Thất nghiệp chu kỳ: Loại thất nghiệp này thường gắn với chu kỳ kinh tế, nó
sẽ giảm trong thời kỳ tăng trưởng, và tăng trong thời kỳ suy thoái.

7
Thất nghiệp tạm thời: phát sinh do việc di chuyển lao động giữa các vùng,
các công việc. Người ta gọi loại này là thất nghiệp tự nhiên với ý nghĩa và thời
gian tìm việc ngắn hạn và không ảnh hưởng cân bằng trên thị trường lao động.
Xét theo hình thức biểu hiện có thể chia thất nghiệp thành:
Thất nghiệp ngắn hạn dưới 3 tháng, trung hạn trên 3 tháng đến 12 tháng,
dài hạn trên 12 tháng.
Thất nghiệp lâu dài: Thường xảy ra với những nhóm dân số nhất định, như
thanh niên, phụ nữ, người khuyết tật, người vượt quá giới hạn tuổi nhất định.
Thất nghiệp toàn phần: Bao gồm toàn bộ thời gian làm việc và thất nghiệp
từng phần vì thời gian không đầy đủ.
Thất nghiệp hữu hình: là loại thất nghiệp thống kê được. Loại này có thể
bao gồm toàn phần hoặc từng phần. Thất nghiệp hữu hình từng phần thường là
hậu quả của việc thừa lao động.

Đặc điểm nổi rõ trong tâm lý lứa tuổi thanh niên là khả năng phân tích, suy luận,
ưa thích cái mới, thích công bằng, có khả năng sáng tạo, mong muốn được tin
cậy và có nhu cầu được khẳng định mình…đặc điểm tâm lý này làm cho thanh
niên trở thành lớp người nhạy bén, năng động, không chấp nhận sự trì trệ, bảo
thủ, sẵn sàng đấu tranh cho cái mới. Song nó có thể dẫn đến những hành động
quá khích, phiêu lưu nếu không được hướng dẫn đúng đắn.
- Cùng với sự phát triển của văn minh xã hội, trình độ học vấn, năng lực trí
tuệ của thanh niên ngày càng được nâng cao hơn so với lớp thanh niên thế hệ
trước. Thanh niên là lớp người sung sức nhất, có khả năng chịu đựng khó khăn,
vất vả.
- Là lớp người đang phát triển nhanh chóng để trưởng thành, nhưng sự
trưởng thành về mặt xã hội của thanh niên thường chậm hơn sự trưởng thành về
mặt sinh học. Điều này đòi hỏi sự quan tâm thường xuyên của Đảng và Nhà
nước, gia đình và toàn xã hội tạo điều kiện phát triển toàn diện cho thanh niên.

9
1.2. Giải quyết việc làm cho thanh niên - vấn đề cấp bách trong giai
đoạn hiện nay
1.2.1 Khái quát tình hình việc làm, giải quyết việc làm cho thanh niên hiện
nay
Lao động là yếu tố quan trọng đầu tiên của con người. Ngày nay trong cơ
chế kinh tế mới, nhiều thanh niên thể hiện đầu óc thực tế và tinh thần độc lập,
quyết đoán trong phương hướng sản xuất kinh doanh, mạnh dạn đầu tư và áp
dụng tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại, nhiều thanh niên đã làm giàu
nhanh chóng. Thái độ đối với lao động và nghề nghiệp của thanh niên đã có
những biến đổi, họ quan tâm đến cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần, ý nghĩa
xã hội của lao động. Nhiều thanh niên đã tích cực chuẩn bị cả về tâm lý, trình độ
chuyên môn nghề nghiệp, ngoại ngữ để có thể thích ứng nhanh với yêu cầu, điều
kiện của nền sản xuất hiện đại. Do sự đa dạng của các thành phần kinh tế, với
nhiều cơ hội mở ra cho thanh niên về nghề nghiệp, việc làm, thu nhập nên đã

quốc gia về việc làm. Thông qua chính sách phát triển khu công nghiệp, khu chế
xuất, hợp tác đầu tư nước ngoài thu hút hàng ngàn lao động thanh niên…
Thông qua chương trình Quỹ quốc gia về giải quyết việc làm: chương trình
cho vay vốn thông qua các dự án để giải quyết việc làm sau nhiều năm đã đạt
được những kết quả đáng trân trọng. Tính đến nay quỹ quốc gia về việc làm sau
nhiều năm đã đạt được những kết quả đáng trân trọng. Tính đến nay Quỹ quốc
gia về việc làm đã tích lũy được trên 3.468 tỉ đồng và được phân bổ cho 63 tỉnh
thành phố trực thuộc Trung ương, các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội.
Bên cạnh đó, 31 tỉnh thành phố đã lập quỹ việc làm địa phương với số
vốn trên 752 tỉ đồng, kết hợp với nguồn vốn địa phương từ chương trình và
vốn thu hồi các dự án đã hết hạn nâng tổng doanh số cho vay từ năm 2006
đến năm 2009 đạt 5.766 tỉ đồng với 418 nghìn lượt khách vay, góp phần tạo
việc làm cho 250 - 300 nghìn lao động mỗi năm (chiếm 20% tổng số việc
làm được tạo ra hằng năm). Hỗ trợ, giới thiệu việc làm cho thanh niên thông
qua các trung tâm giới thiệu việc làm. Trên cơ sở các dự án đầu tư nâng cao
năng lực Trung tâm giới thiệu việc làm đã được phê duyệt, từ năm 2006 đến

11
nay Chương trình mục tiêu quốc gia đã đầu tư cho 40 trung tâm giới thiệu
việc làm thuộc ngành lao động - thương binh xã hội với tổng số vốn đầu tư là
318 tỉ đồng. Đến năm 2009 đã có 16 trung tâm giới thiệu việc làm hoàn thành
đầu tư nâng cao năng lực với nguồn vốn 161 tỉ đồng, dự kiến năm 2010 sẽ tiếp
tục đầu tư cho 47 trung tâm giới thiệu việc làm. Từ năm 2006 - 2009 các trung
tâm đã giới thiệu cho 3,5 triệu lượt người (riêng năm 2009 đã giới thiệu cho 1,2
triệu lượt người), trong đó đa số là thanh niên và lao động trẻ. Tổ chức hội chợ
việc làm cũng là một phương thức kích thích hoạt động thị trường lao động.
Năm 2009 với chủ đề “Thanh niên với nghề nghiệp và việc làm” các cấp bộ
Đoàn trong toàn quốc đã tổ chức 7.487 sàn giao dịch, ngày hội việc làm, thu hút
912.544 lượt đoàn viên thanh niên tham gia. Tư vấn giới thiệu việc làm cho
1.095.790 đoàn viên thanh niên tham gia, giải quyết việc làm cho 331.836 đoàn

Thanh niên có vai trò to lớn trong xã hội, để đảm bảo sự phát triển bền
vững của đất nước thì vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên là một điều tất
yếu và cần thiết. Giải quyết việc làm cho người lao động nói chung, thanh niên
nói riêng có hiệu quả có nghĩa là sẽ sử dụng được tối đa lực lượng lao động vào
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, phát huy được tiềm năng của lượng thanh
niên. Đồng thời tiết kiệm chi phí và nguồn nhân lực cho đất nước. Giải quyết
việc làm cho thanh niên sẽ tạo điều kiện để phát triển nguồn lực lao động cả về
số lượng và chất lượng. Đây sẽ là cơ sở để cho nền kinh tế quốc dân tăng trưởng
bền vững. Việc làm luôn là vấn đề thanh niên quan tâm, nếu nhu cầu này không
được được thoả mãn sẽ là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các vấn
đề về tư tưởng, niềm tin vào lý tưởng cách mạng của Đảng. Thanh niên sẽ sa
vào các tệ nạn xã hội như cờ bạc, mại dâm, ma tuý… làm suy đồi nhân cách
thanh niên. Vì thế giải quyết việc làm cho thanh niên có ý nghĩa chính trị, xã hội
rất to lớn, giáo dục thanh niên trên cơ sở công việc, nghề nghiệp ổn định. Giải
quyết việc làm cho thanh niên tức là tạo điều kiện để thanh niên rèn luyện phấn
đấu trở thành công dân có ích, đem sức mình cống hiến cho đất nước vì đây là lực

13
lượng đông đảo, trẻ trung, đầy nhiệt huyết, năng động sáng tạo. Đồng thời tạo
thời cơ để thanh niên chăm lo cho chính tương lai của bản thân.
1.2.3. Giải quyết việc làm cho thanh niên góp phần nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Để hội nhập kinh tế quốc tế thì vấn đề đặt ra có tính chiến lược đối với mỗi
quốc gia là: khả năng cạnh tranh. Muốn phát triển, muốn hội nhập bền vững thì
không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, mà phần lớn phụ thuộc vào nguồn nhân lực. Trong khi các nguồn lực tự
nhiên chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, nếu không được con người khai thác, sử
dụng và phát huy trong quá trình lao động thì sẽ trở thành vô dụng hoặc vẫn ở
dạng tiềm năng. Chính vì vậy, lao động là nguồn lực duy nhất có khả năng phát
hiện khơi dậy và cải biến các nguồn lực tự nhiên và nguồn lực xã hội khác.

chính mình để có cơ hội tham gia vào hoạt động kinh tế.
Trong quá trình tạo việc làm cho thanh niên chúng ta xác định được
những điểm yếu của lao động thanh niên, từ đó có điều kiện xây dựng kế
hoạch đào tạo và đào tạo lại cho lực lượng lao động thanh niên, góp phần
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Giải quyết việc làm cho thanh niên sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống quản lý
lao động. Tức là qua quá trình tạo việc làm sẽ phân bổ lao động một cách hợp lý,
phù hợp với cơ cấu hệ thống ngành nghề có sự phối hợp hài hoà giữa các bộ
phận tổ chức, bố trí lao động phù hợp với đặc điểm tính chất của công việc sẽ
nâng cao năng suất lao động cá nhân, giúp họ phát triển khả năng và sự sáng tạo
của mình trong lao động sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Tóm lại, thanh niên là một bộ phận cấu thành của xã hội, và là lực lượng
lao động cơ bản. Giải quyết việc làm cho thanh niên là nhiệm vụ cấp bách và
quan trọng của mỗi quốc gia. Giải quyết việc làm cho thanh niên góp phần quan

15
trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giảm thiểu các tệ nạn trong xã hội,
thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢI QUYẾT VIỆC
LÀM CHO THANH NIÊN XÃ ĐẠI TRẠCH - BỐ TRẠCH - QUẢNG BÌNH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1. Thực trạng lao động, việc làm, giải quyết việc làm cho thanh niên
xã Đại Trạch - Bố Trạch - Quảng Bình trong giai đoạn hiện nay
2.1.1. Thực trạng lao động, việc làm của thanh niên xã Đại Trạch
Trong giai đoạn từ 2005 - 2009, lao động việc làm của thanh niên xã có
nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, do nền kinh tế nước ta đang gặp nhiều khó

16
khăn, thêm vào đó là những biến động của nền kinh tế thế giới làm cho vấn đề

Chỉ tiêu ĐVT
30 hộ điều tra
Số lượng Cơ cấu (%)

17
1. Tổng số hộ
- Hộ nông nghiệp Hộ 8 26,67
- Hộ phi nông nghiệp Hộ 5 16,67
- Hộ kiêm Hộ 17 56,67
2. Tổng số nhân khẩu Người 143 100,00
- Nhân khẩu nông nghiệp Người 2986 90,21
-Nhân khẩu phi nông nghiệp Người 14 9,79
3. Tổng số lao động Lao động 97 100
- Lao động nông nghiệp Lao động 67 69,07
- Lao động TTCN-XD Lao động 17 17,53
- Lao động DV-TM Lao động 9 9,28
- Lao động khác Lao động 4 4,12
Nguồn : số liệu điều tra
Qua bảng số liệu điều tra ngẫu nhiên 30 hộ trên địa bàn cho ta thấy các hộ
dân ở đây sản xuất nông nghiệp vẫn là chủ yếu. Nhưng do sản xuất nông nghiệp
mang tính mùa vụ nên các hộ chuyển sang lao động kiêm. Cụ thể là 30 hộ được
điều tra thì có tới 25 hộ sản xuất nông nghiệp (chiếm 83,34 %) với 8 hộ là thuần
nông chiếm (26,67 %), còn 17 hộ kiêm chiếm (56,67 %). Có thể nói số lao động
kiêm ở phường chiếm tỷ lệ khá nhiều. Do sản xuất nông nghiệp theo mùa vụ,
trong thời gian nông nhàn lao động nông nghiệp họ chuyển sang ngành nghề
khác. Chủ yếu là xin vào làm thời vụ ở các xí nghiệp gỗ trong khu tiểu công
nghiệp. Cho nên số lao động làm việc trong các nhà máy trên địa bàn chủ yếu là
lao động phổ thông, chưa qua đào tạo khiến cho thu nhập thấp, tính bền vững
của việc làm không cao.
Nguồn thu nhập của thanh niên xã chủ yếu là từ việc làm. Khảo sát 100%

- Đã tốt nghiệp cấp II 55 26
- Đã tốt nghiệp cấp III 19 50
2. Trình độ chuyên môn
- Đại học, cao đẳng 2 4
- Trung cấp 3 3,09
- Công nhân kỹ thuật 1 9.5
Nguồn: số liệu điều tra
Trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động ở các hộ được
phỏng vấn là thấp, đây là rào cản lớn cho việc phát triển kinh tế trong giai đoạn tới,
tỷ lệ người chưa tốt nghiệp cấp I chiếm vào khoảng 6.19%. Có thể nói trình độ
văn hoá của người lao động tuy chưa cao nhưng người lao động trong xã rất cần
cù chịu khó, luôn luôn tìm hướng để sản xuất theo hướng có giá trị cao nhất.

19
Song trong thời gian tới xã cần có phương hướng, giải pháp đẩy mạnh giáo dục
hơn nữa, nhằm nâng cao trình độ văn hoá cho người lao động. Bên cạnh đó là
trình độ chuyên môn nghiệp vụ tay nghề của lao động nông nghiệp còn yếu, hầu
hết là lao động giản đơn chưa qua đào tạo (87.63%), quá trình sản xuất còn dựa
trên kinh nghiệm sản xuất là chính. Lực lượng lao động lành nghề, lao động chất
xám không đáng kể (12.37%). Do đó xã cần đặt ra giải pháp để giải quyết kịp
thời vấn đề này, đó là tăng cường đào tạo, bồi dưỡng người lao động có trình độ
để theo kịp với xu thế kinh tế hiện nay.
Theo khái niệm thất nghiệp thì thanh niên trên địa bàn xã chủ yếu là thất
nghiệp bộ phận, số thanh niên thất nghiệp hoàn toàn chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Đối
tượng này chủ yếu là thanh niên trong các gia đình công nhân viên chức, gia
đình phi nông nghiệp.
Từ thực trạng lao động việc làm thanh niên xã Đại Trạch nói riêng, có thể
rút ra những nhận xét:
- Lao động trên địa bàn xã còn tập trung nhiều ở khu vực nông nghiệp.
Trong khi đó khả năng sử dụng lao động ở khu vực này rất hạn chế, dẫn đến tình

công tác này còn rất nhiều hạn chế. Công tác tuyên truyền về nghề nghiệp, việc
làm cho thanh niên xã còn mang tính chất hình thức nên số lượng thanh niên
tham gia còn rất ít, thậm chí ở một số chi đoàn không có thanh niên tham gia.
Hạn chế này xuất phát từ việc Đoàn thanh niên chưa phát huy được hết vai trò
của mình. Chất lượng việc làm, tính ổn định và bền vững trong việc làm thấp.
Điều này làm cho thu nhập của người lao động cũng không ổn định. Hiện nay
lao động thanh niên có việc làm ở xã chủ yếu là lao động phổ thông, số lao động
có trình độ chuyên môn kỹ thuật ít. Cho nên thu nhập vẫn thấp, đời sống chưa
được cải thiện bao nhiêu. Chính sách giải quyết việc làm cho lao động trên địa
bàn xã chưa đi sát với thực tế, vẫn còn nhiều vấn đề bức xúc. Trên thực tế mới
chỉ dựng lại ở mức độ đối phó, chủ yếu giải quyết tình hình bức xúc trước mắt,

21
chưa xây dựng được chiến lược ổn định lâu dài phục vụ cho chương trình phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Công tác bố trí lao động giải quyết việc làm thời gian qua còn thiếu tính kế
hoạch. Lực lượng thanh niên đi tìm việc ở các địa phương khác còn mang tính
chất tự phát. Kết hợp lao động và sử dụng các nguồn lực chưa được đồng bộ dẫn
đến lãng phí tài nguyên, vốn và sức lao động. Hệ số sử dụng đồng vốn vào phát
triển kinh tế - xã hội còn thấp, khoa học kỹ thuật tiên tiến chưa được áp dụng
nhiều.
Tóm lại: Qua phân tích thực trạng lao động, việc làm và vấn đề giải quyết
việc làm cho thanh niên xã có thể rút ra một số nhận xét sau: Tỷ lệ lao động qua
đào tạo được tăng lên qua từng năm, song nhìn chung chất lượng lao động chưa
đáp ứng được nhu cầu lao động hiện nay trên thị trường. Đây là một trong
những khó khăn khi đất nước mở cửa hội nhập nền kinh tế thế giới; Tỷ lệ gia
tăng dân số tự nhiên cao (năm 2009 4,81% tăng 1,62% so với năm 2006) nên
hằng năm số người bước vào độ tuổi lao động ngày càng tăng, thêm vào đó là số
lao động chưa có việc làm từ năm trước chuyển sang làm cho vấn đề giải quyết
việc làm trở nên cấp thiết và khó khăn; Sự quan tâm của Đảng bộ, chính quyền

- dịch vụ (gọi chung là dịch vụ), đồng thời giảm dần tương đối tỷ trọng giá trị
trong GDP của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp (gọi chung là
nông nghiệp).
Cùng với quá trình chuyển dịch của cơ cấu kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến những
biến đổi cơ cấu lực lượng lao động xã hội. Thực tế nhiều địa phương cho thấy
việc đa dạng hoá và chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp sang các cây
trồng, con nuôi có giá trị kinh tế cao đã không chỉ giúp tăng thu nhập cải thiện
đời sống mà còn tạo thêm được việc làm mới cho người lao động cũng như rút

23
ngắn thời gian nông nhàn. Chuyển dịch cơ cấu và đa dạng hoá sản xuất nông
nghiệp hướng vào khai thác tiềm năng, lợi thế so sánh của địa phương.
Đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp là cách giải quyết việc làm cho lao động
ở địa phương có hiệu quả, ít tốn kém và mang tình hiệu quả lâu dài. Các hoạt
động sản xuất nông nghiệp chuyển dần sang cơ giới hoá, đa dạng hoá dưới hình
thức hộ kinh doanh hàng hoá, trang trại. Chính quyền địa phương nên có những
chích sách khuyến khích, hỗ trợ các hộ nông dân đầu tư phát triển các cây trồng,
con nuôi có giá trị kinh tế cao bằng các chính sách thuế, đầu tư, tín dụng, khoa
học, công nghệ, thị trường…
Để phát triển theo định hướng đó, vấn đề quan trọng nhất là cần xây dựng,
nâng cấp hệ thống thuỷ lợi thuận tiện cho sản xuất với sự tham gia của người
dân, hỗ trợ cho người sản xuất thông tin về thị trường và tìm kiếm thị trường, hỗ
trợ về tín dụng và hệ thống các dịch vụ thông tin và chuyển giao công nghệ.
Đồng thời phát triển cơ sở hạ tầng như: đường xá, và các dịch vụ xã hội đảm bảo
cho hộ nông dân từng bước thâm nhập vào các hoạt động sản xuất, lưu thông và
tiêu thụ, tạo ra sức mua mới cho nông dân. Chuyển từ sản xuất lúa sang trồng
cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày, rau xanh có giá trị cao, trồng hoa và chế
biến nông sản tại chỗ. Kết hợp trồng lúa với nuôi trồng thuỷ sản (1 vụ lúa, 1 vụ
cá); Kết hợp cấy lúa với trồng cây ăn quả;
Đẩy mạnh phát triển các hoạt động thương mại và dịch vụ: Dựa vào tổ

trong giải quyết việc làm cho thanh niên. Đoàn Thanh niên cần phải được tạo
điều kiện và chủ động tham gia với Nhà nước hoàn thiện chính sách, thực hiện
các hoạt động định hướng nghề nghiệp cho thanh niên; đẩy mạnh phong trào thi
đua “Tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; trực tiếp quản lý và triển khai
các chương trình, dự án cụ thể về dạy nghề, tạo việc làm, dịch vụ việc làm cho
thanh niên,… theo hướng dẫn của Nhà nước.
Tổ chức Đoàn phải gắn hoạt động của mình sát với điều kiện phát triển
kinh tế xã hội của địa phương, như xây dựng các làng thanh niên lập nghiệp, các

25

Trích đoạn Tăng cường hướng nghiệp, dạy nghề và giới thiệu việc làm cho thanh niên Thông tin nghề: Là giới thiệu cho các nhóm cư dân khác nhau về những
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status