LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài “Giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn xã
Đại Trạch - Bố Trạch - Quảng Bình, lý luận và thực tiễn” ngoài sự cố gắng nỗ
lực học hỏi tìm kiếm của bản thân tôi còn nhận được sự giúp đỡ đặc biệt của
Thạc sỹ Lê Văn Đức, người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành bài tiểu luận
này.
Qua quá trình nghiên cứu bản thân sinh viên đã cố gắng tìm hiểu, vận
dụng các kiến thức được học tập ở môn học Luật Lao động, dành nhiều thời gian
cho việc tìm kiếm tài liệu và quan sát thực tế, nhưng do năng lực bản thân còn
hạn chế, nhận thức chưa cao, thời gian nghiên cứu không cho phép, do đó đề tài
không tránh khỏi những sai sót. Cho nên bản thân sinh viên mong muốn nhận
được sự góp ý của các thầy cô, các anh chị cũng như các bạn sinh viên. Đặc biệt
tác giả mong nhận được sự đóng góp, giúp đỡ nhiệt tình của giảng viên hướng
dẫn - Thạc sỹ Lê Văn Đức.
Với tấm long tri ân sâu sắc nhất tôi xin chân thành gửi đến Thầy giáo Lê
Văn Đức, Kính chúc Thầy và gia đình luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, chúc
thầy đạt được nhiều thành công mới trong cuộc sống.
Vinh, ngày 30 tháng 12 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Bùi Thị Thuỷ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với Quốc gia, thất nghiệp, thiếu việc làm là một sự lãng phí tài nguyên
sinh lực. Đối với gia đình và xã hội, thất nghiệp thiếu việc làm, “nhàn vi cư bất
thiện” là mầm mống đưa con người vào vòng phạm pháp, làm mất nhân cách
không xa. Vì những ảnh hưởng sâu rộng đó: giải quyết việc làm đi đến toàn
dụng nhân lực được xem là một quốc sách trong chiến lược phát triển kinh tế xã
hội của đất nước.
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH với mục tiêu đến năm
2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Để thực hiện được
mục tiêu đó đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải phát huy được mọi nguồn nhân lực,
+ Chỉ rõ những hạn chế của công tác giải quyết việc làm cho thanh niên, từ
đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động này.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở các nguyên lý của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam,
những chủ trương chính sách của Nhà Nước về vấn đề thanh niên và nghề
nghiệp việc làm. Đề tài sử dụng các phương pháp sau:
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp
+ Phương pháp thống kê
+ Phương pháp phỏng vấn
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần “mở đầu”, “kết luận”, “danh mục tài liệu tham khảo”, thì đề tài
được chia làm 2 chương
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về việc làm và thanh niên
Chương II: Thực trạng và một số giải pháp giải quyết việc làm cho thanh
niên xã Đại Trạch- Bố Trạch - Quảng Bình giai đoạn hiện nay.
NỘI DUNG
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC LÀM
VÀ THANH NIÊN
1.1. Một số khái niệm cơ bản về việc làm, thanh niên
1.1.1. Khái niệm việc làm
Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, là
vấn đề chủ yếu của toàn bộ đời sống xã hội. Tại hội nghị quốc tế lần thứ 13 của
tổ chức lao động thế giới (ILO), các nhà thống kê lao động đã đưa ra khái niệm
người có việc làm như sau: Người có việc làm là những người làm việc gì đó có
được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật, hoặc người
tham gia và các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay thu nhập
gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật.
Theo Bộ luật lao động thì: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập,
bảo có đủ việc làm cho người lao động, mà còn coi trọng nâng cao chất lượng
việc làm tiến tới việc làm có năng suất, có thu nhập cao và được tự do lựa chọn
việc làm, tức là đảm bảo tính nhân văn của việc làm.
Việc làm trong xã hội thường chịu ảnh hưởng của các nhân tố như: Vốn
đầu tư, sức lao động, nhu cầu thị trường về sản phẩm. Ta nhận thấy rằng: Khối
lượng của việc làm được tạo ra tỉ lệ thuận với các yếu tố trên. Chẳng hạn như
vốn đầu tư để mua sắm thiết bị máy móc, nhà xưởng mở rộng quy mô sản xuất
là một nhân tố ảnh hưởng rất lớn. Khi vốn đầu tư tăng thì tạo ra được nhiều chỗ
làm việc mới và ngược lại đầu tư ít thì quy mô bị thu nhỏ lại kéo theo sự giảm đi
về số lượng việc làm được tạo ra.
Mặt khác nhu cầu của thị trường về sản phẩm sản xuất ra còn ảnh hưởng
không nhỏ đến việc tạo ra chỗ làm mới. Nếu sản phẩm sản xuất ra được đưa ra
thị trường đảm bảo cả về chất lượng và số lượng, mà thị trường chấp nhận, sản
phẩm tiêu thụ được sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, các doanh nghiệp các nhà
xưởng sẽ mở rộng quy mô sản xuất, đi đôi với mở rộng sản xuất là cầu về lao
động tăng lên. Ngược lại khi cầu về sản phẩm hàng hoá giảm sẽ làm ngừng trệ
sản xuất làm cho lao động không có việc làm và dẫn đến tình trạng thất nghiệp.
Ngoài ra còn một số các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến việc làm ở tầng vĩ
mô: Gồm các chính sách kinh tế của nhà nước vì khi các chính sách kinh tế phù
hợp sẽ tạo điều kiện khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển làm cho cầu
lao động tăng đồng nghĩa với việc tạo ra nhiều chỗ làm mới.
Dân số và lao động là hai vấn đề có quan hệ rất chặt chẽ với nhau, quy mô
dân số càng lớn thì nguồn lao động càng nhiều và ngược lại khi nguồn lao động
càng lớn lại là sức ép đối với công tác tạo việc làm cho người lao động bởi vì:
Khi cung về lao động lớn sẽ tạo ra một lượng lao động dư thừa cần giải quyết
việc làm. Ngược lại khi cầu lao động lớn hơn cung lao động sẽ dẫn đến tình
trạng thiếu hụt lao động tham gia vào các ngành kinh tế. Vì vậy tỉ lệ tăng dân số
và nguồn nhân lực có ảnh hưởng đến vấn đề lao động và tạo việc làm cho người
lao động
từng phần vì thời gian không đầy đủ.
Thất nghiệp hữu hình: là loại thất nghiệp thống kê được. Loại này có thể
bao gồm toàn phần hoặc từng phần. Thất nghiệp hữu hình từng phần thường là
hậu quả của việc thừa lao động.
1.1.3. Khái niệm thanh niên
Thanh niên là một khái niệm được sử dụng nhiều trong cuộc sống hằng
ngày với nhiều cách hiểu khác nhau. Tuỳ theo từng trường hợp, có khi thanh
niên dùng để chỉ một con người cụ thể, có khi lại được dùng để chỉ tính cách,
phong cách trẻ trung của một người nào đó, có khi lại dùng để chỉ cả một lớp
người trẻ tuổi.
Thanh niên còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, tuỳ theo
góc độ tiếp cận của mỗi ngành mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về
thanh niên. Về mặt sinh học, thanh niên được coi là một giai đoạn phát triển
trong cuộc đời con người. Các nhà tâm lý học lại thường nhìn nhận thanh niên
gắn với các đặc điểm tâm lý lứa tuổi và coi đó là yếu tố cơ bản để phân biệt với
các lứa tuổi khác. Từ góc độ xã hội học, thanh niên lại được nhìn nhận là một giai
đoạn xã hội hoá - thời kỳ kết thúc của tuổi thơ phụ thuộc chuyển sang xác lập vai
trò cá nhân qua các hoạt động độc lập với tư cách đầy đủ của một công dân, là
một trong các chủ thể của các quan hệ xã hội. Các nhà kinh tế học lại nhấn mạnh
thanh niên với góc độ là một lực lượng xã hội hùng hậu, là nguồn lực bổ sung cho
đội ngũ những người lao động trên các lĩnh vực sản xuất v.v…
Như vậy, mỗi ngành khoa học, tuỳ theo góc độ nghiên cứu của mình, đã
nhấn mạnh khía cạnh cá thể, sinh học hoặc nhấn mạnh khía cạnh tập thể, xã hội
của khái niệm thanh niên.
Về mặt xã hội, thanh niên là một bộ phận đông đảo trong dân cư, những
người trong độ tuổi thanh niên (ở Việt Nam và phần lớn các nước trên thế giới
đều tính độ tuổi thanh niên từ 15 - 35) chiếm một tỷ lệ đáng kể trong dân. Đặc
điểm về cơ cấu xã hội của thanh niên là “họ là một bộ phận của tất cả các giai
cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tôc, tôn giáo…Vì thế, thanh niên là một nhóm
kiện của nền sản xuất hiện đại. Do sự đa dạng của các thành phần kinh tế, với
nhiều cơ hội mở ra cho thanh niên về nghề nghiệp, việc làm, thu nhập nên đã
xuất hiện những thay đổi về lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và phấn đấu tăng
thu nhập cho bản thân, gia đình và xã hội. Phấn đấu vào biên chế Nhà nước để
được bao cấp không còn là sự lựa chọn duy nhất của thanh niên nữa. Qua bảng
thống kê dưới đây ta thấy cơ cấu lao động phân theo thành phần kinh tế thì khu
vực kinh tế nhà nước chiếm tỷ lệ nhỏ. Đa số lao động tập trung nhiều ở khu
vực kinh tế ngoài nhà nước.
Bảng 1: Cơ cấu lao động phân theo thành phần kinh tế
Chỉ tiêu 2004 2005 2006 2007 2008
Kinh tế nhà nước 9,88 9,50 9,11 9,02 9,07
Kinh tế ngoài nhà nước 87,83 87,84 87,81 87,44 87,20
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 2,29 2,66 3,08 3,54 3,73
100% 100% 100% 100% 100%
Nguồn: Tổng cục thống kê
Chiếm gần một nửa lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là lao động
thanh niên (15 -30 tuổi), lực lượng này đã đóng góp không nhỏ cho quá trình đổi
mới và cải cách nước ta trong những năm qua. Giải quyết việc làm cho thanh
niên luôn là bài toán khó đặt ra cho toàn xã hội nhằm đảm bảo sự phát triển bền
vững của đất nước. Hệ thống chính sách liên quan tới việc làm cho thanh niên
khá đầy đủ. Nhà nước luôn chú trọng tới việc hoàn thiện hệ thống pháp luật
nhằm điều chỉnh toàn diện quan hệ lao động. Theo báo cáo của Bộ Lao động -
Thương binh và xã hội năm 2009 cả nước đã tạo việc làm cho hơn 1.5 người,
trong đó hơn 70% việc làm được giải quyết từ các chương trình phát triển kinh
tế - xã hội (các dự án đầu tư trong và ngoài nước, đầu tư phát triển nông
nghiệp nông thôn, các doanh nghiệp mới hoạt động…). Trong đó giải quyết
việc làm cho khoảng 700 - 800 nghìn lao động thanh niên thông qua các
chương trình như: Thông qua chương trình kinh tế xã hội của Nhà nước;
chương trình phát triển kinh tế xã hội của miền núi; chương trình xây dựng nông
viên thanh niên, dạy nghề cho 431.2006 bạn trẻ.
Tạo việc làm cho thanh niên thông qua hoạt động xuất khẩu lao động. Hằng
năm với những nỗ lực tìm kiếm thêm thị trường lao động ngoài nước, và nỗ lực
quản lý các doanh nghiệp xuất khẩu lao động đã đưa hàng vạn người lao động đi
làm việc tại nước ngoài. Riêng năm 2009 mặc dù chịu ảnh hưởng của cuộc suy
thoái kinh tế toàn cầu nhưng cả nước đã đưa được 70.000 lao động đi làm việc
tại các nước. Trong những người được đưa đi xuất khẩu lao động hơn 90% lao
động trong độ tuổi thanh niên. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm của thanh niên
(15 – 35 tuổi) còn cao, cao hơn mức chung của cả nước. Tỷ lệ thanh niên thất
nghiệp ở các đô thị tương đối cao và không ngừng tăng qua các năm. Năm 2006,
tỷ lệ thanh niên đô thị thất nghiệp ở độ tuổi 15 – 34 là 5,1%. Năm 2007, tỷ lệ
này là 8,5% và năm 2008 đã lên 9,3%, chiếm gần 61% trong tổng số người thất
nghiệp. Bên cạnh những mặt tích cực chủ động của thanh niên trong lao động,
khắc phục khó khăn để vươn lên về nghề nghiệp, việc làm và nâng cao thu nhập,
cải thiện đời sống thì hiện nay vẫn còn một bộ phận thanh niên có lối sống tiêu
cực, lười lao động, lãng phí thời gian, chạy theo lối sống thực dụng. Không nhận
thức được giá trị của lao động. Như vậy trong thời gian qua nhờ đường lối đổi
mới của Đảng và Nhà nước, vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho người
lao động nói chung và thanh niên nói riêng đã được thay đổi cơ bản về nhận
thức và cả quá trình thực hiện. Từ chỗ người lao động thụ động chờ vào sự sắp
xếp của nhà nước nay đã tự chủ động tạo việc làm cho bản thân và thu hút thêm
lao động xã hội. Tuy nhiên hiện nay vấn đề lao động, việc làm luôn là vấn đề
bức xúc nhất, mối quan tâm hàng đầu của thanh niên.
1.2.2. Giải quyết việc làm cho thanh niên góp phần đảm bảo ổn định, an
toàn, công bằng xã hội
Việc làm có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu
đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong
các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội.
Thanh niên có vai trò to lớn trong xã hội, để đảm bảo sự phát triển bền
tranh cao như Nhật Bản, Hàn Quốc, trong khi đó có nhiều nước có tài nguyên
dồi dào, những đã không thể thành công hoặc thành công rất ít trong cạnh tranh
thị trường (như một số nước Nam Á của Châu Phi). Tìm hiểu kinh nghiệm phát
triển của các nước này, có thể thấy rằng, các quốc gia phát triển trong cạnh tranh
nhất thiết phải có đội ngũ lao động có học thức, có trình độ chuyên môn và tay
nghề cao; được tổ chức hoặc được khuyến khích.
Đặc biệt trong sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ và sức
sản xuất của kinh tế thị trường trong những năm đầu của thế kỷ XXI, chẳng
những không làm giảm đi vai trò của nguồn nhân lực mà ngược lại càng làm cho
nó ngày càng quan trọng hơn, khẳng định được vị thế ưu thế của nó. Điều này
hoàn toàn có thể lý giải được vì trí tuệ và kỹ năng của con người là yếu tố không
thể thiếu để lĩnh hội tri thức mới của thời đại và việc áp dụng tiến bộ khoa học
và công nghệ vào cuộc sống. Như vậy nguồn nhân lục có vai trò to lớn đối với
hội nhập kinh tế quốc tế.
Thanh niên là lực lượng lao động to lớn, luôn chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu
dân số của mỗi quốc gia. Chính vì vậy tạo việc làm cho người lao động nói
chung, cho thanh niên nói riêng sẽ giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Giải quyết việc làm cho thanh niên sẽ tạo điều kiện cho thanh niên có thu
nhập ổn định. Nếu thanh niên có thu nhập ổn định, hợp lý thì họ sẽ cải thiện
được cuộc sống, đảm bảo việc đầu tư cho học tập, rèn luyện nâng cao tay nghề,
từ đó người lao động được nâng cao về chất lượng.
Tạo việc làm là một trong những động lực thúc đẩy nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực vì khi các công việc được tạo mới bao giờ cũng đòi hỏi một
chuyên môn kỹ thuật cao ở người lao động mà theo quy luật của quá trình tuyển
dụng thì người ứng cử viên cũng phải có một trình độ tương đương bởi thế cho
nên người lao động luôn có xu hướng tích luỹ kiến thức, trình độ lành nghề cho
chính mình để có cơ hội tham gia vào hoạt động kinh tế.
Trong quá trình tạo việc làm cho thanh niên chúng ta xác định được
những điểm yếu của lao động thanh niên, từ đó có điều kiện xây dựng kế