BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ TÂN LƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Học, ban chủ nhiệm khoa Giáo Dục Học, phòng Quản lí sau đại học – trường Đại học
Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và
nghiên cứu.
Tôi cũng xin được gửi lời cám ơn tự đáy lòng tới Ban giám hiệu nhà trường, các
trường Trung học phổ thông Quận 11, Tp. Hồ Chí Minh, tới gia đình và những người
bạn thân thiết đã động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành khoá học.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 12 năm 2010.
NGUYỄN THỊ TÂN LƯƠNG
1BMỤC LỤC
0TLỜI CẢM ƠN0T 3
0TMỤC LỤC0T 4
0TMỞ ĐẦU0T 6
0T1. Lý do chọn đề tài0T 6
0T2. Mục đích nghiên cứu0T 7
0T3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu0T 7
0T4. Giả thuyết khoa học0T 7
0T5. Nhiệm vụ nghiên cứu0T 8
0T6. Giới hạn đề tài0T 8
0T7. Phương pháp nghiên cứu0T 8
0TCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THỰC HIỆN PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC TÍCH CỰC Ở TRƯỜNG THPT
0T 10
0T1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề0T 10
0T1.1.1. Tình hình nghiên cứu về phương pháp dạy học tích cực và quản lí việc thực hiện
phương pháp dạy học tích cực ở nhà trường trên thế giới
0T 10
0T1.1.2. Tình hình nghiên cứu về phương pháp dạy học tích cực và quản lí việc thực hiện
phương pháp dạy học tích cực ở nhà trường trong nước
0T 11
0T2.3.4. Nguyên nhân của thực trạng quản lý việc thực hiện phương pháp dạy học tích
cực
0T 55
0TCHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN PHƯƠNG
PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC Ở TRƯỜNG THPT QUẬN 11 TP.HCM
0T 60
0T3.1. Nâng cao nhận thức về việc thực hiện phương pháp dạy học tích cực ở trường
THPT
0T 60
0T3.2. Xây dựng kế hoạch thực hiện phương pháp dạy học tích cực0T 63
0T3.3. Tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện phương pháp dạy học tích0T 66
0T3.4. Huy động các nguồn lực thực hiện PPDH tích cực0T 67
0T3.5. Tăng cường kiểm tra, đánh giá việc thực hiện PPDH tích cực0T 69
0TKẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ0T 72
0T1. Kết luận0T 72
0T2. Kiến nghị0T 74
0TDANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO0T 77
0TPHỤ LỤC0T 80
2BMỞ ĐẦU
9B1. Lý do chọn đề tài
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học, truyền thống đó đã tạo nên những
nét đẹp của nền văn hóa Việt Nam và được nhân lên trong thời đại mới. Những thành tựu
của nền giáo dục Việt Nam trong thế kỉ qua là hết sức to lớn, là cơ sở, điều kiện để thực
hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Ngày nay, Giáo dục được xem là “quốc sách hàng đầu” và trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp, tham gia một cách quyết định vào việc cung ứng những con người có đủ
phẩm chất và tài năng để xây dựng và phát triển sản xuất.
Phương pháp dạy học tích cực đóng vai trò quan trọng trong quá trình dạy học ở
pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào trong thực tiễn, tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”. Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và
học là hướng tới học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Thực
trạng và các biện pháp quản lí việc thực hiện phương pháp dạy học tích cực ở trường
THPT tại quận 11 TP.HCM.”
10B2. Mục đích nghiên cứu
Xác định thực trạng thực hiện phương pháp dạy học tích cực và quản lí việc thực
hiện phương pháp dạy học tích cực ở các trường THPT quận 11 TP. HCM, trên cơ sở đó đề
xuất một số biện pháp quản lí thực hiện các phương pháp dạy học tích cực ở trường THPT.
11B3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 . Khách thể nghiên cứu: Quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT.
3.2 . Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng và các biện pháp quản lý việc thực hiện phương
pháp dạy học tích cực ở trường THPT quận 11 Tp. HCM.
12B4. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý việc thực hiện PPDH tích cực ở các trường THPT quận 11, TP.
HCM đã được thực hiện và bước đầu đạt được một số kết quả. Tuy nhiên, công tác này vẫn
còn một số hạn chế và bất cập trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện
cũng như công tác kiểm tra, đánh giá. Nguyên nhân của thực trạng này có thể do chưa có
các biện pháp quản lý đồng bộ và thật sự hiệu quả. Vì vậy khi đánh giá đúng thực trạng và
đề xuất biện pháp quản lý thiết thực thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lí việc thực
hiện PPDH tích cực nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt động dạy học ở trường THPT.
13B5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa những cơ sở lý luận về quản lý việc thực hiện PPDH tích cực ở trường
THPT.
5.2. Khảo sát thực trạng thực hiện và quản lý việc thực hiện PPDH tích cực ở trường THPT
quận 11, TP.HCM.
5.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý việc thực hiện PPDH tích cực ở trường THPT.
14B6. Giới hạn đề tài
Đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu thực trạng thực hiện PPDH tích cực và quản lý việc thực
Phương pháp này nhằm phỏng vấn và trò chuyện với BGH và giáo viên về quá trình
quản lý thực hiện PPDH tích cực.
7.2.2.3. Quan sát
Phương pháp này nhằm quan sát giờ dạy để tìm hiểu việc thực hiện PPDH tích cực.
7.2.2.4. Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này nhằm thu thập những thông tin đáng tin cậy từ những chuyên gia,
những nhà nghiên cứu giáo dục và thực hiện nhằm tìm ra những thuận lợi, khó khăn khi
triển khai các PPDH tích cực.
7.2.3 Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp này nhằm xử lý thống kê kết quả nghiên cứu bằng phần mềm SPSS.
3BCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THỰC HIỆN
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC Ở TRƯỜNG THPT
16B1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
30B1.1.1. Tình hình nghiên cứu về phương pháp dạy học tích cực và quản lí việc thực
hiện phương pháp dạy học tích cực ở nhà trường trên thế giới
Ngay từ thời cổ đại, vấn đề phát huy tính tích cực của người học đã được các nhà
giáo dục quan tâm. Điển hình là Xocrat với phương pháp vấn đáp Ơcristic.
Đến thế kỷ XVII, J.A.Komenxki trong tác phẩm “Lý luận dạy học”, lần đầu tiên
trong lịch sử đã nêu tính tự giác, tính tích cực là một trong những nguyên tắc dạy học, J.J.
Rutxô thì chủ trương phải làm cho trẻ tích cực, phải dành lấy kiến thức bằng con đường
khám phá ra nó. Đistervec đã nói: “Người giáo viên tồi là người cung cấp cho học sinh chân
lý, còn người giáo viên giỏi là người cung cấp cho học sinh cách đi tìm chân lý”. Usinxki
cho rằng, tính tích cực độc lập của học sinh trong quá trình dạy học được coi là “cơ sở vững
chắc cho sự học tập hiệu quả”.[39]
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhờ sự thành công của phong trào nhà trường mới
tích cực, vấn đề này đã được nhiều nhà giáo dục và tâm lý học nghiên cứu vận dụng.
L.Dewey đã thành lập “nhà trường tích cực” và phát triển cách học tập nhóm của học sinh.
Sau này Kerschensteiner cùng với J.Dewey cố gắng thực hiện những nguyên tắc của
khả năng và công cụ trí tuệ cho phép giải quyết thành công những vấn đề, hoàn thành những
mục tiêu đề ra. Để đào tạo năng lực thích nghi tự chủ người ta giáo dục ý chí hành động, ý
thức trách nhiệm với công việc [39].
31B1.1.2. Tình hình nghiên cứu về phương pháp dạy học tích cực và quản lí việc thực
hiện phương pháp dạy học tích cực ở nhà trường trong nước
Ở nước ta, phương pháp dạy học tích cực cũng được nhiều nhà giáo dục quan tâm
nghiên cứu như Nguyễn Cảnh Toàn, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, Thái Duy Tuyên,
Phạm Viết Vượng, Đặng Thành Hưng… Trong các công trình của mình (giáo trình, sách và
các bài báo đăng trên các tạp chí), các tác giả đều bàn đến các phương pháp dạy học tích cực
– phát huy tính tích cực, độc lập của học sinh trong quá trình dạy học.
Nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về PPDH nói chung và PPDH của
từng bộ môn trong nhà trường nói riêng. Một số luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu về PPDH
tích cực như: “Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong quá trình dạy môn
Văn ở trường THPT TP.HCM”; “Lựa chọn các phương pháp dạy học tích cực cụ thể cho
các bài học Vật lý lớp 10 ở trường THPT” hay “Sử dụng phương pháp dạy học tích cực lấy
học sinh làm trung tâm bằng các bài học nhận thức trong dạy học địa lý 10 ban khoa học tự
nhiên ” Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã làm nổi bật bản chất của
phương pháp dạy học tích cực là phát huy tính tích cực, độc lập nhận thức của học sinh, gia
tăng sự tương tác đa chiều trong hoạt động dạy học…, khảo sát và đánh giá thực trạng sử
dụng PPDH tích cực ở một số trường học cụ thể. Tuy nhiên hiện chưa có một đề tài, công
trình nghiên cứu nào về quản lý việc thực hiện các PPDH tích cực trong giảng dạy ở trường
THPT quận 11, Tp. HCM.
17B1.2. Một số khái niệm cơ bản
32B1.2.1. Quản lí
Quản lý là một yếu tố cấu thành sự tồn tại của xã hội loài người. Ngày nay, quản lý
đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật, một nghề phức tạp nhất trong xã hội hiện đại.
Người ta có thể tiếp cận khái niệm quản lý từ nhiều góc độ khác nhau. Theo góc độ tổ chức
thì quản lý là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, kiểm tra. Dưới góc độ điều khiển học thì quản lý
là điều hành, điều khiển, chỉ huy. Dưới góc độ của lý thuyết hệ thống thì quản lý là sự tác
động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay đối tượng quản lý) nhằm tổ chức phối
Còn “quản lý ai?”, “quản lý sự việc gì?” đó là đối tượng quản lý. Bản chất của hoạt động
quản lý là việc phát huy được nhân tố con người trong tổ chức. Hoạt động quản lý có những
yêu cầu khách quan, phổ biến đối với những người làm quản lý, đó là những chức năng
chung và cơ bản của hoạt động quản lý.
33B1.2.2. Quản lí nhà trường
Nhà trường là một thiết chế riêng biệt của xã hội, thực hiện chức năng kiến tạo các
kinh nghiệm xã hội cần thiết cho một nhóm dân cư nhất định của xã hội đó. Nhà trường
được tổ chức sao cho việc kiến tạo nói trên đạt được các mục tiêu mà xã hội đó đặt ra cho
nhóm dân cư được huy động và sự kiến tạo này đạt được một cách tối ưu theo quan niệm
của xã hội.
Nhà trường là tổ chức cơ sở của hệ thống giáo dục quốc gia, ở đó tiến hành quá
trình giáo dục, đào tạo, trực tiếp thực hiện mục tiêu của giáo dục. Nhà trường vừa là khách
thể chính của mọi cấp QLGD từ trung ương đến địa phương, vừa là một hệ thống độc lập
trong xã hội. Có thể phân biệt nhà trường với các thiết chế khác thông qua các dấu hiệu cơ
bản sau: Tính mục đích, tính tổ chức và tính kế hoạch cao, tính hiệu quả, tính biệt lập tương
đối hay tính lý tưởng hoá các giá trị xã hội, tính chuyên biệt cho từng đối tượng hay tính
phân biệt đối xử theo sự phát triển tâm lý và thể chất.[23]
Các nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước đã đưa ra các khái niệm về quản lý
nhà trường như sau:
M.I. Kônđacôp cho rằng: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta hiểu
quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là một hệ thống xã hội – sư phạm chuyên biệt, hệ
thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý
đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu các mặt xã
hội – kinh tế, tổ chức sư phạm của quá trình dạy và học, giáo dục thế hệ ðang lớn lên” [25].
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý trường học là thực hiện đường lối giáo dục của
Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý
giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ
trẻ với từng HS” [12].
Theo Hà Sĩ Hồ: “Quản lý nhà trường, QLGD là tổ chức hoạt động dạy học. Có tổ
chức hoạt động dạy – học, thực hiện được tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã
Hoạt động quản lí này chiếm thời gian và công sức khá lớn của người hiệu trưởng. Trong
quá trình đó, người hiệu trưởng chủ yếu phải tập trung vào hoạt động dạy của thầy và là trực
tiếp với thầy, gián tiếp với trò; thông qua quản lí hoạt động dạy của thầy mà quản lí hoạt
động học của trò.
35B1.2.4. Quản lý phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp (méthode) là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích
đã định. Phương pháp có cấu trúc phức tạp bao gồm mục đích được đề ra, hệ thống hành
động (hoạt động), những phương tiện cần thiết (phương tiện vật chất, phương tiện trí tuệ),
chủ thể, quá trình làm biến đổi đối tượng, kết quả sử dụng phương pháp (mục đích đạt
được).
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động có trình tự, phối hợp, tương tác của
giáo viên và học sinh nhằm đạt được mục đích dạy học.
Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn, được dùng
ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của người học. "Tích cực" trong PPDH - tích cực được dùng với
nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng
theo nghĩa trái với tiêu cực.
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của
người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập
trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích
cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động [14;15].
Quản lý phương pháp dạy học tích cực chính là điều khiển quá trình dạy học thực
hiện PPDH tích cực trong giảng dạy sao cho quá trình đó vận hành có khoa học, có tổ chức
theo những quy luật khách quan và được sự chỉ đạo, giám sát thường xuyên nhằm thực hiện
mục tiêu dạy học.
Để quản lý PPDH tích cực hiệu quả, người hiệu trưởng phải dựa trên cơ sở pháp lý
và cơ sở thực tiễn để điều hành hoạt động: Cơ sở pháp lý hiện nay đó là Luật giáo dục, Điều
lệ trường Trung học, Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ GD – ĐT về thực hiện nhiệm vụ năm học
ban hành từng năm, các chương trình, kế hoạch dạy học… Cơ sở thực tiễn là tình hình phát
triển giáo dục của thế giới, của đất nước, của địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến tình
thành công chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong
bối cảnh hội nhập quốc tế, đòi hỏi đất nước cần có nguồn nhân lực có trình độ học vấn rộng,
có thể thực hiện được nhiều nhiệm vụ và chuyên môn hóa nhằm đảm bảo chất lượng công
việc với hiệu quả cao.
Đáp ứng yêu cầu trên, người lao động phải năng động, sáng tạo, có kiến thức và kĩ
năng mang tính chuyên nghiệp, sẵn sàng gánh vác trách nhiệm. Dám chịu trách nhiệm là
một trong những yếu tố quan trọng của người lao động và là mối quan tâm hàng đầu của các
tổ chức kinh doanh. Yêu cầu đối với người lao động không chỉ đơn thuần là kiến thức mà
còn là năng lực giải quyết các vấn đề. Cách giải quyết vấn đề linh hoạt, sáng tạo trước các
tình huống khó khăn phức tạp của cuộc sống và sự dám chịu trách nhiệm không phải là
những phẩm chất sẵn có ở mỗi con người mà nó được hình thành và phát triển trong quá
trình giáo dục. Vì vậy đổi mới giáo dục là đổi mới toàn diện từ mục đích, nội dung, phương
pháp giáo dục, kiểm tra và đánh giá chất lượng giáo dục. Trong đó đổi mới phương pháp
dạy học – giáo dục phải được xem là khâu đột phá. Ngành giáo dục phải không ngừng đổi
mới trong đó cần quan tâm đến đổi mới phương pháp dạy học để đào tạo nguồn nhân lực
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội [4].
* Những đặc điểm tâm – sinh lí của người học
Học sinh ngày nay thu lượm thông tin rất nhanh và chia sẻ thông tin trong xã hội với
tốc độ chóng mặt, mỗi học sinh có khả năng tìm kiếm thông tin theo các cách khác nhau.
Việc sử dụng công nghệ mới khiến học sinh có khả năng giải quyết vấn đề và xử lí nhiều
thông tin cùng một lúc. Đây là điểm khác biệt giữa học sinh Việt nam ngày nay với học sinh
Việt Nam cách đây vài thập kỉ. Những nghiên cứu được thực hiện ở nhiều quốc gia trong
một phần tư thế kỉ qua chứng minh rằng mỗi học sinh đều có một cách học theo sở thích
riêng hay còn gọi là phong cách học. Có học sinh thích học qua trải nghiệm, khám phá, làm
thử, có học sinh thích học qua thực hành áp dụng, có học sinh thích học qua quan sát… Nếu
như dạy học không quan tâm đến đặc điểm của người học, giáo viên truyền thụ một chiều,
dạy kiến thức mang tính thông báo đồng loạt thì sẽ hạn chế khả năng tiếp thu của người học,
người học hoàn toàn thụ động trước những thách thức khó khăn của cuộc sống. Vậy làm thế
nào để thay đổi từ dạy học thụ động sang dạy học tích cực? Một trong những yếu tố quan
trọng là cần quan tâm đến đặc điểm của người học hay nói cách khác là phong cách học của
Với những đặc điểm của hoạt động dạy học nêu trên, đòi hỏi và cho phép đổi mới
hoạt động dạy học theo ba hướng, đó là:
- Tích cực hoá hoạt động dạy học.
- Cá biệt hoá hoạt động dạy học.
- Công nghệ hoá hoạt động dạy học.
49B1.3.1.2. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT
Luật Giáo dục năm 2005 nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy và
học theo hướng tích cực. Trong việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực thì
đổi mới phương pháp học tập của học sinh là mối quan tâm hàng đầu. Những định hướng
đổi mới PPDH ở các trường THPT bao gồm:
- Phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc
điểm từng lớp học, môn học.
- Bồi dưỡng phương pháp tự học
- Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
- Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, húng thú học tập cho học sinh.
Bốn định hướng này có liên quan chặt chẽ, trong đó định hướng đầu tiên là căn bản
nhất.
Như vậy, giáo viêc cần quan tâm đến quá trình học tập, đến việc xây dựng kiến thức
của người học. Khi lấy người học làm trung tâm, giáo viên cần xác định thế nào là quá trình
học tập hiệu quả nhất. Trên cơ sở đó, giáo viên điều chỉnh các hoạt động dạy học sao cho
phù hợp với năng lực, sở thích và nhu cầu của người học. Điều này đòi hỏi giáo viên có một
cách nhìn nhận mới, cách suy nghĩ mới về công việc, về mối quan hệ của giáo viên với học
sinh và những vấn đề liên quan.
Hai yếu tố cốt lõi của định hướng đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích
cực là cảm giác thoải mái và sự tham gia: “Sự tham gia” nói đến cường độ hoạt động, sự tập
trung, sự say mê với mọi vật xung quanh để học sinh trở nên hăng hái, yêu thích khám phá
và vượt qua những giới hạn của khả năng mỗi người. Sự tham gia cho thấy học sinh tận
dụng và khai thác môi trường học tập và kiến thức như thế nào.
Dạy và học tích cực thực sự có hiệu quả khi giáo viên thực hiện tốt 5 yếu tố tăng
cường sự tham gia của học sinh:
Để thu hút sự chú ý của người học và tích cực hóa phương pháp thuyết trình ngay khi
mở đầu bài học giáo viên có thể thông báo vấn đề dưới hình thức những câu hỏi có tính chất
định hướng, hoặc có tính chất "xuyên tâm".
Phương pháp thuyết trình nêu vấn đề có những ưu điểm và hạn chế sau:
- Cho phép trình bày nội dung lí thuyết týõng ðối khó, phức tạp, chức ðựng nhiều
thông tin mà học sinh không tự tìm hiểu được.
- Cho phép trình bày mô hình mẫu của tư duy logic, của cách trình bày và lí giải một
vấn đề khoa học.
- Tạo điều kiện phát triển năng lực chú ý, tư duy bằng khái niệm ở học sinh.
- Dễ làm người học thụ động, mệt mỏi vì kích thích đơn điệu.
- Ít phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và kĩ năng.
- Thông tin ngược không được đảm bảo tốt.
Khi sử dụng phương pháp thuyết trình nêu vấn đề cần đảm bảo các yêu cầu: -
Bài thuyết trình phải đảm bảo tính hệ thống, tính logic và được giáo viên nắm vững.
- Chuẩn bị những ví dụ, liên hệ thực tế cho bài giảng thêm tính thuyết phục.
- Giáo viên phải làm chủ ngôn ngữ trong thuyết trình: ngôn ngữ của giáo viên phải
chính xác, đủ độ to đến từng học sinh trong lớp, có cường độ, tốc độ, khoảng dừng. Ngôn
ngữ phải trong sáng, giản dị, dễ hiểu, gọn gàng, cụ thể nhằm tạo ra và duy trì sự tập trung
chú ý, hứng thú ở học sinh.
51B1.3.2.2. Phương pháp đàm thoại nêu vấn đề
Phương pháp này giúp học sinh làm việc tích cực độc lập và tiếp thu tốt bài giảng:
học sinh không những lĩnh hội được cả nội dung kiến thức mà còn học được cả phương
pháp nhận thức và cách diễn đạt tư tưởng bằng ngôn ngữ nói. Hệ thống câu hỏi của thầy là
kim chỉ nam hướng dẫn tư duy của trò. Nó kích thích cả tính tích cực tìm tòi, sự tò mò khoa
học và cả sự ham muốn giải đáp. Do đó, câu hỏi của giáo viên có tính chất quyết định đối
với sự lĩnh hội kiến thức của học sinh. Thầy hỏi, trò đáp và nên tạo điều kiện cho trò có thể
hỏi ngược lại thầy, như vậy thông tin sẽ được tiếp nhận hai chiều. Khi trả lời câu hỏi của
giáo viên, học sinh tự mình tìm ra vấn đề cần giải quyết và chính điều này tạo cho học sinh
niềm sung sướng nhận thức. Sau đó giáo viên khéo léo kết luận dựa vào ngôn ngữ, ý kiến và
quá trình học tập. Đồng thời phương tiện trực quan phải đạt tiêu chuẩn kĩ thuật, dễ sử dụng,
sao cho người học có điều kiện tiếp xúc với phương tiện bằng càng nhiều giác quan càng
tốt.
- Sử dụng phương tiện trực quan phải đúng lúc, nếu sử dụng nhiều phương tiện trực
quan thì đưa ra lần lượt theo tiến trình bài giảng. Sử dụng phương tiện trực quan đúng chỗ,
vị trí để cả lớp đều quan sát được. Thời gian sử dụng phương tiện trực quan vừa đủ, nếu sử
dụng quá mức cần thiết dẫn đến quá tải thông tin.
- Phương pháp dạy học trực quan nên sử dụng phối hợp với phương pháp thuyết trình
hoặc vấn đáp sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc và vận dụng tri thức một cách có hiệu quả.
53B1.3.2.4. Phương pháp dạy học thực hành
Các phương pháp dạy học thực hành có ý nghĩa đặc biệt trong quá trình dạy học, các
phương pháp dạy học thực hành bao gồm:
* Phương pháp luyện tập
Phương pháp luyện tập trong dạy học là phương pháp trong đó dưới sự chỉ dẫn của
giáo viên, học sinh lặp đi lặp lại nhiều lần những hành động nhất định trong những hoàn
cảnh khác nhau, nhằm hình thành và phát triển kĩ năng, kĩ xảo sau khi lĩnh hội kiến thức.
Khi sử dụng phương pháp luyện tập cần chú ý: luyện tập phải nhằm mục đích, yêu cầu nhất
định và được tiến hành theo trình tự chặt chẽ. Cần phải nắm vững lí thuyết rồi mới luyện
tập, đảm bảo vừa sức đối với học sinh.
* Phương pháp thực hành thí nghiệm
Phương pháp thực hành thí nghiệm là phương pháp giáo viên tổ chức cho học sinh
làm thí nghiệm trên lớp, trong phòng thí nghiệm hoặc vườn trường… qua đó giúp học sinh
lĩnh hội được kiến thức mới hoặc củng cố, vận dụng kiến thức đã học.
38B1.3.3. Một số phương pháp dạy học hiện đại phát huy cao tính tích cực học tập của
học sinh
Việc học tập của học sinh chỉ có hiệu quả khi chính họ ý thức được nhiệm vụ học tập
của mình. Vì vậy để giáo dục ý thức học tập, hình thành phương pháp tư duy tích cực, giúp
học sinh tự mình khám phá tri thức, người thầy cần có phương pháp giảng dạy thích hợp.
Sau đây là một số phương pháp dạy học hiện đại phát huy cao tính tích cực học tập của học
sinh.
mọi người cùng quan tâm, cùng tham gia và suy nghĩ một cách sáng tạo. Cơ sở của phương
pháp là giữa các ý tưởng khác nhau đều có mối liên kết với nhau. Khi một ý tưởng này được
đưa ra thì sẽ có một hay nhiều ý tưởng khác gắn với nó, cùng chiều hay ngược chiều. Toàn
bộ những ý tưởng đó sẽ cho ta cái nhìn tổng thể, để từ đó có thể chọn ra ý tưởng hay giải
pháp tốt nhất. Phương pháp này hay được dùng trước khi lập kế hoạch hay ra một quyết
định.
Phương pháp động não có những ưu điểm và hạn chế là:
- Động não là cách tốt nhất để giờ học trở nên cuốn hút.
- Động não lôi cuốn học sinh tham gia sôi nổi vào quá trình suy nghĩ tích cực và sáng
tạo.
- Động não không chỉ sử dụng trong lớp học mà còn được sử dụng trong cuộc sống mỗi
khi gặp vấn đề gì vướng mắc.
- Động não giúp tìm ra giải pháp cho nhiều vấn đề trước đây chưa giải quyết được bằng
phương pháp thông thường.
- Tốn thời gian.
- Dễ xảy ra tranh cãi.
- Nhiều ý tưởng xa rời thực tế, lắm khi chẳng có giá trị gì.
Khi sử dụng phương pháp động não cần đảm bảo các yêu cầu:
- Động não áp dụng có hiệu quả nhất với các nhóm từ 10 – 20 người. Nếu nhiều hơn hãy
chia thành các nhóm nhỏ.
- Động não thích hợp với nhóm học sinh đã có kiến thức và kinh nghiệm liên quan đến
vấn đề hay ý tưởng muốn hình thành.
- Cần có một nhóm trưởng điều khiển, thư kí, bảng để ghi các ý kiến.
56B1.3.3.3. Dạy học theo dự án
Dạy học theo dự án là một kiểu dạy học trong đó dưới sự hướng dẫn của giáo viên,
học sinh tiếp thu kiến thức và hình thành kỹ năng thông qua quá trình giải quyết một bài tập
tình huống (dự án) có thật trong đời sống, theo sát chương trình học và có phạm vi kiến thức