LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua tình hình thế giới có nhiều biến động và gây
ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Song với đường lối
đúng đắn của Đảng và sự chỉ đạo của chính phủ nền kinh tế nước ta đã đạt
được nhiều kết quả đáng khích lệ, với tốc độ tăng trưởng xấp xỉ 7,5% trong
giai đoạn 2001-2005 và xếp thứ hai trên thế giới về tốc độ tăng trưởng kinh
tế. Đây là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, các Công ty mở rộng
sản xuất kinh doanh.
Nắm bắt được xu thế này trong những năm qua Bộ Quốc Phòng cũng
như Tổng Cục Công Nghiệp Quốc Phòng đã không ngừng đầu tư cho các
đơn vị thành viên mở rộng sản xuất kinh doanh. Nhận được sự giúp đỡ của
Tổng Cục Công Nghiệp Quốc Phòng cùng với sự nổ lực của bản thân
Tổng Tổng công ty Sông Thu đã không ngừng mở rộng sản xuất kinh
doanh và đạt được những thành tựu to lớn.
Sau thời gian đi thực tập tôi đã quyết định chọn đề tài: “Thực trạng
và các biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải biển tại Tổng công
ty Sông Thu”. Một lĩnh vực mà Công ty đang có nhu cầu mở rộng trong
thời gian tới.
Trong quá trình thực tập được sự hướng dẫn, chỉ đạo rất tận tình của
các anh chị trong phòng KH-KD và của thầy Trần Văn Nghiệp. Song do sự
hiểu biết của bản thân về Công ty chưa được sâu sắc và toàn diện, với kinh
nghiệm thực tế chưa nhiều do vậy trong báo cáo thực tập không thể tránh
khỏi thiếu sót. Vì vậy, rất mong các Anh, Chị trong phòng, thầy cô và độc
giả quan tâm đến đề tài này thông cảm.
PHẦN I.
DỊCH VỤ VẬN TẢI BIỂN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG
PHÁT TRIỂN KINH TẾ.
Vận tải đường biển ra đời khá sớm so với các phương thức vận tải khác. Ngay
từ thế kỷ thứ VI trước công nguyên con người đã biết lợi dụng biển làm các
tuyến đường giao thông để giao lưu các vùng, các miền, các quốc gia khác nhau
trên thế giới. Cho đến nay vận tải đường biển được phát triển mạnh mẽ và trở
hơn nhiều so với các phương tiện khác.Nguyên nhân chủ yếu là trọng tải tàu biển
lớn, cự ly chuyên chở trung bình dài, năng suất lao động cao. Với tiến bộ khoa
học kỹ thuật và hoàn thiện cơ chế quản lý trong ngành vận tải đường biển, hiệu
quả kinh tế chắc chắn ngày một tăng lên.
Từ những đặc điểm trên của vận tải đường biển ta có thể rút ra kết luận một cách
tổng quát về phạm vi áp dụng như sau:
- Vận tải đường biển thích hợp với chuyên chở hàng hoá trong buôn bán quốc
tế.
- Vận tải đường biển thích hợp với chuyên chở hàng hoá có khối lượng lớn,
chuyên chở cự ly dài nhưng không đòi hỏi thời gian giao hàng nhanh chóng.
3. Tác dụng của vận tải đường biển.
3.1. Vận tải đường biển là yếu tố không tách rời thương mại quốc tế.
Thương mại quốc tế và vận tải nói chung, vận tải đường biển nói riêng có mối
quan hệ chặt chẽ và hữu cơ với nhau. Vận tải được phát triển trên cơ sở sản xuất
và trao đổi hàng hoá. Ngược lại vận tải phát triển sẽ làm giảm giá thành chuyên
chở, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng thị trường tiêu thụ quốc tế, tự do
hoá thương mại, thúc đẩy sản xuất phát triển. Thực tiễn trong thương mại cho
thấy, hợp đồng mua bán hàng hoá có vai trò quan trọng và liên quan chặt chẽ đến
hợp đồng vận tải thậm chí bao gồm cả hợp đồng vận tải bởi vì hợp đồng mua bán
hàng hoá là cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ giữa người bán và người mua còn
hợp đồng vận tải điều chỉnh quan hệ giữa người thuê chở và người chuyên chở
mà người thuê chở là người bán hoặc người mua lại phụ thuộc vào quy định của
hợp đồng mua bán.
3.2. Vận tải đường biển thúc đẩy buôn bán quốc tế phát triển.
Khối lượng hàng hoá lưu chuyển giữa hai nước phụ thuộc vào nhiều điều kiện:
tiềm năng kinh tế của hai nước, sự chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất của
mỗi nước trong phân công lao động quốc tế, tình hình chính trị, điều kiện và khả
năng vận tải giữa hai nước đó.
Do tiến bộ khoa học kỹ thuật và tăng năng suất lao động trong ngành vận tải mà
tăng lên. Năm 1980 cự ly chuyển chở trung bình trong vận tải đường biển quốc tế
là 3.601 hải lý, năm 1985 là 3.967 và năm 1990 là 4.285 hảo lý( 1 hải lý =
1,85km).
3.4. Vận tải đường biển tác động đến cán cân thanh toán quốc tế.
Vận tải đường biển có tác dụng ảnh hưởng tích cực hoặc làm xấu đi cán cân
thanh toán, chức năng phục vụ thể hiện ở chỗ vận tải quốc tể đảm bảo nhu cầu
chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu của mỗi nước. Chức năng kinh doanh thể
hiện trong việc thực hiện xuất khẩu sản phẩm vận tải đường biển. Xuất khẩu sản
phẩm vận tải là một hình thức xuất nhập khẩu vô hình rất quan trọng. Thu chi
ngoại tệ về vận tải đường biển và các dịch vụ liên quan đến vận tải đường biển là
một bộ phận quan trọng trong cán cân thanh toán quốc tế. Phát triển vận tải đặc
biệt là phát triển đội tàu buôn có tác dụng tăng thêm nguồn thu ngoại tệ bằng
cách hạn chế nhập khẩu sản phẩm vận tải. Do đó vận tải ảnh hưởng tích cực đến
cán cân thanh toán quốc tế. Nếu vận tải đường biển của một nước không đáp ứng
được nhu cầu chuyên chở hàng hóa ngoại thương thì phải chi ra một lượng ngoại
tệ nhất định để nhập khẩu sản phẩm vận tải. Sự thiếu hụt trong cán cân xuất nhập
khẩu sản phẩm vận tải ảnh hưởng đến cán cấn thanh toán quốc tế. Trái lại dư
thừa cán cân thanh toán về vận tải có thể bù đắp một phần thiếu hụt trong cán cân
mậu dịch nói riêng và cán cân thanh toán quốc tế nói chung.
II.DỊCH VỤ VẬN TẢI.
1. Khái niệm.
Dịch vụ là một hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các
mối quan hệ giữa khách hàng hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu với người cung
cấp mà không có sự chuyển giao quyền sỡ hữu.
Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm thay đổi vị trí
của hàng hoá và bản thân con người từ nơi này đến nơi khác bằng các phương
tiện vận tải.
Dịch vụ vận tải là dịch vụ mà trong đó người vận tải thực hiện yêu cầu của
khách hàng theo sự thoả thuận để vận chuyển hàng hoá và bản thân con người từ
nơi này đến nơi khác nhằm thu được lợi nhuận kinh tế.
thấp hơn so với các phương tiện khác. Năng lực chuyên chở của vận tải đường
biển là rất lớn. Nói chung năng lực chuyên chở vận tải đường biển không hạn chế
như các vận tải khác. Tuy nhiên đường biển luôn bị ảnh hưởng bởi các điều kiện
tự nhiên: Những rủi ro thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển thường gây ra những
tổn thất rất lớn cho tàu, hàng hoá và sinh mạng con người. Những rủi ro, tổn thất
trong vận tải đường biển đang được khắc phục dần bằng những phương tiện kỹ
thuật hiện đại.
3.2. Cảng biển.
Cảng biển gắn liền với sự phát triển của ngành hàng hải. Trước đây cảng biển
chỉ được coi là nơi tránh gió to bão lớn của các loại tàu bè. Trang thiết bị của
cảng lúc bấy giờ rất đơn giản và thô sơ. Ngày nay, cảng biển không chỉ là nơi
bảo vệ an toàn cho tàu biển trước các hiện tượng thiên nhiên bất lợi mag trươc
hết cảng biển là một đầu mối giao thông, một mắc xích quan trọng của quá trình
vận tải. Cảng biển thực hiện các chức năng và nhiệm vụ khác nhau. Do đó, kỹ
thuật xây dựng trang thiết bị, cơ cấu tổ chức của cảng cũng khác nhau và ngày
càng được hiện đại hóa.
Cảng là nơi ra vào, neo đậu của tàu thuyền, là nơi phục vụ tàu và hàng hoá
chuyên chở trên tàu, là đầu mối giao thông chuyên chở trong hệ thống vận tải.
Dọc bờ biển Việt Nam hiện nay đã hình thành gần 80 hải cảng lớn, nhỏ với tổng
năng lực thông qua cảng trên 50 triệu tấn/năm.
Cảng biển có hai chức năng chủ yếu:
- Cảng phục vụ các công cụ vận tải đường biển, trước hết là tàu biển. Với chức
năng cảng phải đảm bảo cho tàu bè ra vào và neo đậu an toàn, từ đó cảng có
nhiệm vụ phục vụ các công việc cụ thể: Đưa đón tàu bè ra vào, bố trí nơi neo
đậu, làm vệ sinh tàu, sữa chữa tàu, cung ứng các nhu cầu cần thiết cho tàu. Vì
vậy hoạt động của cảng thường vượt ra ngoài phạm vi địa giới của cảng tức là
trên phạm vi thành phố cảng. Ví dụ thành phố cảng Hải Phòng, thành phố cảng
trở thành một trong những trung tâm công nghiệp thương mại dịch vụ và trung
tâm dân cư đông đúc.
- Cảng có chức năng phục vụ hàng hóa, tại cảng biển quá trình chuyên chở hàng
Thông thường trong một cảng có hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thuỷ và
công cụvận chuyển hàng từ vào hậu phương và ngược lại.
Các thiết bị nổi trên phần mặt nước của cảng như: phao nổi, cầu nổi, cần cầu nổi,
tàu hoa tiêu
Các thiết bị kỹ thuật phục vụ cho công tác liên lạc, ánh sáng, cung cấp nước, nhà
làm việc, câu lạc bộ thuỷ thủ khi tổ chức chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu
và thuê tàu, bắt buộc chúng ta phải nguyên cứu kỹ các đặt điểm của trang thiết bị
cảng.
3.4. Phương tiện vận chuyển.
Phương tiện vận chuyển bằng đường biển là tàu biển.
Tàu buôn là tàu biển được dùng vào mục đích kinh doanh trong hàng hải. Tàu
buôn gồm: tàu vận tải hàng hoá, tàu vận tải hành khách, tàu đánh cá, tàu hoa tiêu,
tàu nghiên cứu khoa học
Trên thế giới trong những năm gần đây, đội tàu buôn tăng lên không ngừng về số
lượng, trọng tải và thay đổi nhiều về chất lượng.
Xu hướng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong đội tàu buôn thế giới được thể hiện
trong việc thay đổi về động cơ và nhiên liệu dùng trong hàng hải. Tăng tỷ trọng
tàu chạy bằng động cơ diêzen và giảm tỷ trọng tàu chạy bằng động cơ hơi nước.
Đội tàu buôn thường được chuyên môn hoá và kết hợp với tổng hợp hoá. Sự ổn
định nguồn hàng trong các tuyến chuyên chở đã tạo điều kiện cho việc chuyên
môn hoá các loại tàu buôn như: Tàu chở dầu, tàu chở hơi đốt dạng lỏng, tàu
container, tàu chở ôtô bên cạnh đó, trong hàng hải thế giới vẫn phát triển xu
hướng đóng và khai thác các loại tàu có tính chất tổng hợp, tức là tàu có đặc
điểm thích ứng với chuyên chở một số các mặt hàng. Hai xu hướng này không
loại trừ nhau mà bổ sung cho nhau góp phần làm cho đội tàu buôn ngày càng
thích hợp với nhu cầu phong phú, đa dạng trong buôn bán quốc tế.
Vai trò của vận tải đường biển trong nền kinh tế quốc dân được thể hiện rõ ở
những lợi ích chính trị, kinh tế, quân sự do đội tàu buôn mang lại. Kinh nghiệm
lịch sử của các nước có ngành hàng hải phát triển đã chứng minh rằng: xây dựng
và phát triển đội tàu buôn mang lại những lợi ích to lớn. Vì vậy phát triển đội tàu
hãng tàu sễ nhận hàng và gửi hàng cho tàu.
Khi nhận hàng đồng thời hãng tàu sẽ cung cấp đầy đủ chứng từ liên quan
đến việc giao nhận cho người gửi hang, tiếp theo đó hang tàu gửi hàng lên tàu và
nhận chứng từ từ người chuyên chở.
Việc vận chuyển hàng hoá bằng đường biến sẽ chịu tác động và điều chỉnh
bởi các công ước quốc tế
Các công ước quốc tế.
Hague: Công ước đầu tiên về vận chuyển hàng hoá bằng đường biển gọi là
quy tắc Hague được chuẩn y năm 1924. Mục đích của nó là thống nhất luật pháp
hiện hành thời bấy gìơ của một số nước nhằm bảo vệ quyền lợi của hàng hoá
bằng cách ngăn cấm các điều khoản miễn trách về sai sót của người chuyên chở
trong việc bảo quản và trông coi hàng hoá.
Hague- Visby: mục đích của quy tắc này là sửa đổi quy tắc Hague với mức
độ hạn chế đáp ứng sự phê phán của nhiều phía. Nói riêng quy tắc về giới hạn
trách nhiệm bồi thường đối với một kiện hàng hoặc một đơn vị tươngd tự đã bị
phê phán, một mặt là vì số tiền giới hạn bồi thường thấp( trước hết là do lạm
phát) và mặt khác vì sự phát triển kỹ thuật( container hoá, sử dụng palet ) đã nói
lên các quy tắc hiện hành không phù hợp.
Hamburg: việc sửa đổi theo quy tắc Hague- Visby không làm thoả mãn lợi
ích của người chuyên chở. sự cần thiết phải sửa đổi hoàn toàn quy tắc Hague dẫn
tới việc chấp nhận một công ước mới gọi là công ước của liên hợp quốc về vận
chuyển hàng hoá bằng đường biển, 1978 tại Hamburg tháng 3/1978, do đó có tên
là quy tắc Hamburg.
4.5 Thanh toán cước phí và dịch vụ.
Với sự thoả thuận như trong hợp đồng vận tải, người sử dụng dịch vụ vận
tải có nghĩa vụ phải thanh toán tiền cước.
Việc thanh toán có thể sử dụng các phương thức thanh toán.
- Phương thức chuyển tiền:
- Phương thức thanh toán bằng cách ghi sổ.
- Phương thức nhờ thu .
thiệu
Giai đoạn phát
triển
Đặc điểm
Doanh số Thấp Tăng nhanh
Chi phí trên KH Cao Trung bình
Lợi nhuận Âm Tăng
Khách hàng Khai phá Tiên phong
Đối thủ cạnh tranh Ít Nhiều lên
Mục tiêu Marketing
Tạo ra sự hiểu biết
và dung thử
Tăng tối đa thị phần
Chiến lược
Dịch vụ Chào bán dịch vụ cơ
bản
Chào bán dịch vụ
phát triển
Giá cả Chi phí cộng lãi Định giá để thâm
nhập thị trường
Phân phối Phân phối có chọn
lọc
Phân phối ồ ạt
Quảng cáo Tạo ra sự biết đến dịch vụ
trong khách hang tiên
phong và đại lý
Tạo ra sự biết đến và
quam tâm trong thị trường
đại chúng
Kích thích tiêu
rất chặt chẽ, do vậy khi đánh giá phải xem xét đến các chính sách khác như chính
sách dịch vụ, chính sách phân phối, chính sách cổ động.
Thị trường và nhu cầu. Chi phí tạo nên cơ sở cho việc định giá, còn thị
trường và nhu cầu tạo ra mức trần giới hạn cho sự vận động của giá cả, những
người tiêu dung đều xem xét giá cả của một dịch vụ dựa trên những lợi ích mà
dịch vụ đó mang lại cho họ khi tiêu dùng. Vì vậy trước khi định giá, người làm
Marketing phải hiểu được mối quan hệ giữa giá cả và mức cầu đối với dịch vụ
của mình.
Chi phí. Chi phí là cơ sở cho việc đánh giá. Tuy nhiên việc xác định chi phí
cho dịch vụ rất khó khăn, đôi khi là điều không thể vì nó bao gồm nhiều yếu tố
vô hình, mức độ chính xác trong viếc xác định chi phídịch vụ chỉ đạt tỷ lệ %
tương đối.
Tình trạng cạnh tranh. yếu tố này cũng ảnh hưởng đến việc quyết định giá,
giá không thể cao khi thị trường đang cạnh tranh gay gắt, ngược lại khi thị trường
không cạnh tranh gay gắt cho phép công ty định giá cao để thu lợi.
Những yếu tố khác của môi trường Marketing. Khi định giá công ty cũng
cần xem xét những yếu tố của môi trường vĩ mô như tình hình phát triển kinh tế
đang trên đà tăng trưởng hay suy thoái, tỷ lệ lạm phát, lãi suất, nhữg quy định
của nhà nước và cả những cảm nhận cảu người tiêu dùng tất vả đều ảnh hưởng
đến chiến dịch định giá của công ty.
5.3. Các chính sách khác.
5.3.1. Chính sách quan hệ.
Xây dựng mối quan hệ hợp tác với các trung gian.
Cho dù chọn phương thức đại lý độc quyền, phân phối chọn lọc hay phân
phối rộng rãi thì viếc xác định các mối quan hệ hợp tác làm ăn với các trung gian
là điều cần thiết, các mối quan hệ về trách nhiệm và quyền lợi sẽ là căn cứ quan
trọng để công ty và các nhà trung gian cùng nhau thực hiện những nhiệm vụ đã
để ra. Các chính sách hổ trợ thường được các công ty áp dụng trong kênh phân
phối dịch vụ.
5.3.2. Chính sách con người.
đầu tư bao giờ cũng chứa đựng những yếu tố rủi ro và yếu tố sinh lợi. Trong đầu
tư ngoài việc quyết định qui mô, các công ty còn quan tâm đến tính hiện đại của
công nghệ. Phục vụ cho hoạt động dịch vụ có nhiều loại công nghệ khác nhau,
các công ty luôn luôn cân nhắc khi lựa chọn công nghệ.
PHẦN II
ĐẶC ĐIỂM CÔNG TY VÀ THỰC TRẠNG DỊCH VỤ VẬN TẢI
ĐƯỜNG BIỂN TẠI TỔNG TỔNG CÔNG TY SÔNG THU.
A. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA TỔNG TỔNG CÔNG TY SÔNG THU.
I. Quá trình hình thành và phát triển.
Tổng Tổng công ty Sông Thu là một doanh nghiệp nhà nước Sông Thu do
tổng Cục Công nghiệp Quốc phòng quản lý. Tên cũ là xí nghịêp sửa chữa và
đóng mới tàu biển. Công ty được thành lập theo quy định số 483/QD-QP ngày
4/8/1993 do Bộ Trưởng quốc phòng ký. Ngày 18/4/1996 Bộ Trưởng Quốc Phòng
đã ký quyết định số 484/QD-QP đổi tên thành Tổng Tổng công ty Sông Thu và
có bổ sung thêm một số ngành mới.
Khi mới thành lập công ty chỉ là một xí nghiệp nhỏ và hoạt động trong hai
lĩnh vực chính là sửa chữa và đóng mới tàu biển phục vụ cho Bộ Quốc Phòng với
tổng số vốn gần 20 tỷ đồng. Công ty không ngùng lớn mạnh theo thời gian và
đến nay công ty đã trở thành một Công ty lớn kinh doanh đa ngành nghề. Đến
nay Công ty không chỉ hoạt động trong lĩnh vực Quốc Phòng mà còn cả trong
lĩnh vực kinh tế với tổng số vốn lên đến 119 tỷ đồng.
Tên và địa chỉ của công ty.
+ Tên giao dịch trong nước: Tổng Tổng công ty Sông Thu .
+ Tên giao dịch ngoài nươc: Sông Thu company.
+ Tên viết tắt: STC.
+ Điện thoại: 0511625666.
+ Fax: 0511621964.
+ Email: Sô
+ Tài khoản giao dịnh: 7301.02.01E tại ngân hàng Đầu Tư Và Phát Triển
Đà Nẵng.
Chính Trị
Phòng
C.Trị
Phòng:
TCHC
Phòng:
KCS
Phòng:
Tài chính
kế toán
Phòng:
Vật tư
Phòng: Kế
hoạch kinh
doanh
TTQG Ứng
phó SCTD
XN Cảng
&LSTDầu
XN
TMại
PX Điện
máy
PX Cơ
Khí
Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
Quan hệ trực tuyến :
+ Giám đốc công ty là người lãnh đạo cao nhất, có những quyền hạn cần
thiết để điều hành công ty, giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình hoạt
Nợ phải trả 23.316.467.164 24.566.127.398 42.745.431.388
Vốn chủ sở hữu 47.806.307.103 55.484.489.016 76.626.642.999
( Nguồn phòng KH-KD)
Qua bảng số liệu ta thấy tổng tài sản và nguồn vốn của Công ty luôn tăng qua
các năm. Điều này chứng tỏ trong những năm qua Công ty luôn chú trọng đến
việc trạng bị máy móc thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng phụ vụ cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty.
2. Tình hình nhân lực.
Công ty là một công ty lớn hoạt động đa ngành vì vậy mà số lượng công
nhân viên của công ty tương đối đông hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau
với các trình độ tay nghề khác nhau và nó đựơc thể hiện trong bảng sau:
ĐVT: người
Chỉ tiêu
Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006
SL % SL % SL %
Tổng số lao động 525 100 512 100 556 100
Theo năng lực
Lao động trực tiếp
Lao động gián tiếp
405
120
71.1
22.9
392
120
76.6
23.4
427
129
70
348
273
131
13,7
7,4
53,3
25,6
76
51
298
131
13,2
9,2
53,5
23,5
(Nguồn phòng KH-KD)
Qua bảng số liệu ta thấy nguồn lao động của công ty trong 3 năm từ năm
2004 đến 2006 có nhiều sự biến động. Năm 2005 so với năm 2004 tổng số lao
động trong công ty giảm 13 người tương ứng với 2,47%. Nhưng đến năm 2006
số lao động của công ty lại tăng lên 8,7% so với năm 2005.
Số lao động giảm này chủ yếu là lao động trực tiếp còn lao động gián tiếp của
công ty không đổi qua các năm. Nguyên nhân của tình trạng này là do năm 2005
kế hoạch đóng tàu của công ty bị cắt giảm từ 40 tỷ đồng xuống còn 10 tỷ đồng,
do vậy nên công ty đã cắt giảm lao động mùa vụ, vì vậy mà số lao động trực tiếp
của công ty năm 2005 giảm. Năm 2006 để mở rộng sản xuất kinh doanh công ty
đã mở rộng chi nhánh tại Vũng Tàu, đồng thời ngành đóng tàu của công ty trong
năm đã nhận được hợp đồng với trị giá 55 tỷ đồng nên công ty đã tuyển thêm lao
động. Do vậy, số lao động của công ty trong năm qua tăng mạnh. Năm 2006 so
với năm 2005, số lao động gián tiếp tăng 7% còn số lao động trực tiếp tăng 9%.
Khu sổớ lờ cỷn
dỏửu
Sỏn baợi
Khu thổồng
maỷi
Dióỷn tờch khaùc
Dióỷn tờch coỡn
85800
8479
15804
8000
6239
12099
6049
5929
5000
3500
1680
10244
2478
2907
740
500
600
0
40.79
19.8
64.81
30.97
46.59
Theo lĩnh
vực
Qphòng
Kinh tế
Triệu
triệu
33.352.945
50.029.417
28.139.734
59.411.696
57.527.43
39.792.670
theo ngành
Đóng mới
Sửa chữa
Vệ sinh TD
Dịch vụ cảng
Vận tải biển
chiếc
chiếc
chiếc
Tấn
Tấn
1
29
9
674.215
25.535
30.000
24.006
trong cả lĩnh vực kinh tế. Hiện nay trong lĩnh vực Quốc Phòng Công ty chỉ phụ
trách hai ngành là đóng mới và sửa chữa tàu biển. Trong lĩnh vực này Công ty
sản xuất cũng như là tiêu thụ chủ yếu theo chỉ tiêu được giao của Tổng Cục Công
Nghiệp Quốc Phòng và chỉ tiêu này thường thay đổi theo từng năm nên nó không
theo chủ quan của công ty. Vì vậy mà doanh thu trong lĩnh vực Quốc Phòng liên
tục biến động qua các năm. Năm 2004 tổng doanh thu của lĩnh vực quốc phòng
là 33,352 tỷ đồng nhưng đến năm 2005 chỉ còn 28,139 tỷ đồng giảm 15,6% so
với năm 2004. Nhưng đến năm 2006 lại tăng vọt và đạt 57,527 tỷ đồng, tăng
104,4% so với năm 2005.
Trong lĩnh vực kinh tế thì công ty hoạt động trong tất cả các ngành nhưng
trong mấy năm gần đây ngành đóng tàu của công ty chỉ hoạt động trong lĩnh vực
quốc phòng . Do phải hoạt động trong cả hai lĩnh vực nên nguồn lực của công ty
bị phân tán do vậy mà cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty. Lĩnh vực kinh tế là lĩnh vực phụ thuộc vào chủ quan của công
ty không phụ thuộc vào chi tiêu của Tổng Cục Công Nghiệp Quốc Phòng. Mặc
dù vậy song nó vẫn chịu ảnh hưởng lớn của lĩnh vực Quốc Phòng bởi vì công ty
luôn phải dựa vào các chỉ tiêu được giao của Tổng Cục Công Nghiệp Quốc
Phòng để bố trí các nguồn lực cho lĩnh vực kinh tế như thế nào cho hợp lý, chủ
yếu trong ngành sửa chữa tàu biển. Vì vậy mà doanh thu lĩnh vực kinh tế cũng
luôn biến động và ngược chiều với sự biến động của lĩnh vực quốc phòng tức là
khi chỉ tiêu lĩnh vực Quốc Phòng được giao lớn thì lĩnh vực kinh tế lại giảm bởi
ngành sửa chữa tàu biển là ngành đem lại cho doanh thu rất lớn cho công ty.
Năm 2005 so với năm 2004 lĩnh vực Quốc Phòng giảm 15,6% thì lĩnh vực kinh
tế lại tăng 18,8% nhưng sang năm 2006 lĩnh vực Quốc Phòng tăng thì lĩnh vực
kinh tế lại giản 33,1%.
Ngành đóng mới: Đóng mới tàu biển là một ngành đòi hỏi thời gian dài và chi
phí lớn, để đóng một con tàu thì thời gian không phải là một năm mà có thường
kéo dài qua nhiều năm. Vì vậy mà giá trị sản xuất và tiêu thụ của ngành được
tính là số lượng công việc được hoàn thành trong năm đó. Năm 2003 Công ty
được giao đóng một tàu cứu hộ trị giá 30 tỷ đồng. Đến năm 2005 công ty cũng
2. Phân tích kết quả kinh doanh của công ty.
ĐVT: đồng