Tìm hiểu tình hình sử dụng các phương pháp dạy học tích cực ở trường THCS Phạm Hữu Lầu - Pdf 26


MỤC LỤC
Trang
A.PHẦN MỞ ĐẦU
I.Lý do chọn đề tài............................................................................................................2
II.Mục đích nghiên cứu....................................................................................................3
III.Nhiệm vụ nghiên cứu..................................................................................................3
IV.Đối tượng nghiên cứu.................................................................................................4
V.Phương pháp nghiên cứu.............................................................................................4
B.PHẦN NỘI DUNG
Chương I. Cơ sở lý luận của dạy học tích cực trong hoá học
I. Định nghĩa phương pháp dạy học tích cực ............................................................5-6
II Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực...............................6-9
III.Áp dụng phương pháp dạy học tích cực...............................................................9-10
IV. Các phương pháp dạy học tích cực trong hoá học............................................10-15
Chương II. Thực trạng và giải pháp ...............................................................................16

C.PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận.....................................................................................................................27
II. kiến nghị..................................................................................................................28
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I.Lý do chọn đề tài
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học, truyền thống đó đã tạo nên những nét đẹp
của nền văn hóa Việt Nam, và được nhân lên trong thời đại mới với sự ra đời của nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa (1945). Những thành tựu của nền giáo dục Việt Nam trong thế kỉ qua
là hết sức to lớn, là cơ sở, là điều kiện để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước.
Xã hội Viêt Nam ngày càng phát triển, thì người ta cũng càng quan tâm và đòi hỏi nhiều ở
Giáo dục. Ngày nay khi mà Giáo dục được xem là “quốc sách hàng đầu” và Giáo dục trở
thàng 1 lực lượng sản xuất trực tiếp, tham gia một cách quyết định vào việc cung ứng những

Những “kỹ sư tâm hồn” như chúng ta không thể tự bằng lòng với những hiểu biết ít ỏi về một
thế giới mà ta đang tìm cách tác động để rồi dừng lại ở những biện pháp đơn giản trong buổi
đầu phát triển Giáo dục: “người biết hai chữ dạy cho người biết một chữ”. Người biết kiến
thức vững chưa đủ để dạy học, mà cần tìm ra phương pháp tác động đúng quy luật và phù hợp
với từng đối tượng.
Hóa học là một bộ môn khoa học có ý nghĩa quan trọng và có nhiều ứng dụng trong thực tiễn.
Vì thế mà hóa học đã được đưa vào chương trình Giáo dục phổ thông ở lớp 8. Việc dạy và học
tập Hóa học không dễ nhưng cũng không quá khó mà đòi hỏi ở giáo viên và học sinh phải có
phương pháp dạy và học như thế nào để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.
Và để đáp ứng yêu cầu ấy, không riêng vì học sinh, mà bản thân mỗi giáo viên phải không
ngừng học hỏi nâng cao trình độ tìm ra phương pháp dạy học sao cho có thể phát huy được
tính tích cực cử học sinh. Vậy tính tích cực là gì? Và phương pháp dạy học tích cực trong Hóa
học là như thế nào? Đó là vấn đề hiện nay mọi người đang hướng đến để tìm ra một pháp dạy
học hợp lí. Và không riêng vì mọi người mà bản thân tôi cũng muốn đi tìm hiêu rõ phương
pháp dạy học tích cực này để giúp ích cho việc giảng dạy của tôi sau này.
II.Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu tình hình sử dụng các phương pháp dạy học tích cực ở trường THCS Phạm Hữu
Lầu.
III.Nhiêm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu bản chất của các phương pháp dạy học theo hướng tích cực
3
- Vận dụng các phương pháp dạy học trong tình huống cụ thể.
IV. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng: các phương pháp dạy học tích cực
- Khách thể: giáo viên và học sinh trường THCS Phạm Hữu Lầu
V. Phương pháp nghiên cứu
Có nhiều phương pháp nghiên cứu trong đó tôi sử dụng phổ biến ba phương pháp sau:
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháo trò chuyện

- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm những cách giải quyết khác nhau về
vấn đề…
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu…
2.Phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước, để chỉ những
phương pháp giáo dục/ dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
người học.
“Tích cực” trong phương pháp dạy học được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động,trái
nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với nghĩa tiêu cực.
Phương pháp tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức
của người học, nghĩa là tập trung vào việc phát huy tính tích cực của người học chứ không
phải tập trung vào việc phát huy tính tích cực của người dạy, đành rằng để dạy học theo
phương pháp tích cực thì giáo viên phải nổ lực nhiều hơn so với kiểu dạy theo kiểu thụ động.
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Rõ ràng là cách dạy chỉ đạo cách học
nhưng ngược lại, thói quen học tập của trò có ảnh hưởng tới cách dạy của giáo viên. Có
trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động của giáo viên nhưng giáo viên chưa
đáp ứng được. Cũng có trường hợp giáo viên hăng háu áp dụng phương pháp dạy học tích cực
nhưng thất bại vì học sinh chưa nắm vững, vẫn quen lối học tập thụ động. Vì vậy giáo viên
phải kiên trì dùng cách hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ
động một cách vừa sức từ thấp lên cao. Trong đổi mới phương pháp phải có sự hợp tác giữa
thầy và trò, sự phối hợp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công. Theo tinh thần
đó, người ta còn dùng thuật ngữ “Dạy học tích cực” phân biệt với “Dạy và học thụ động”.
Thuật ngữ rút gọn “phương pháp tích cực” hàm chứa cả phương pháp dạy và học.
II. Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp tích cực
a.Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh.
Trong phương pháp tích cực, người học – đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là
chue thể của “hoạt động học”- được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức
và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động
tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt. Được đặt vào những tình huống thực tế,
6

7
trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập.
Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay
bác bỏ, qua đó người học nâng minh len một trình độ mới. Bài học vận dụng được vốn hiểu
biết và kinh nghiệm của mỗi học sinh và của cả lớp chứ không phải chỉ dựa trên vốn hiểu biết
và kinh nghiệm của giáo viên.
Trong nhà trường, phương pháp học tập theo nhóm được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp
hoặc trường. Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4-6
người. Học tập theo nhóm làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc giải quyết những vấn đề gây
cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung.
Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của
mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ.
Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên
quan tâm dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia, năng
lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh.
d . Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong hoạt động học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực
trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều khiện nhận định thực
trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
Trước đây quan niệm giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh. Trong phương pháp
tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá tự điều chỉnh cách
học. Liên quan điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tự đánh giá
lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là một năng lực rất cần cho sự
thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh.
Theo hướng phát triển của phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động,
sớm thích nghi với đời sống xã hội thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái
hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học, phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo
trong việc giải quyết những tình huống thực tế.
8

9
- Rèn cho học sinh khả năng nghiên cứu lời giải: nghiên cứu – khai thác – phân tích và tìm
tòi lời giải khoa học nhất bài tập sẽ giúp học sinh có thói quen tập dượt nghiên cứu khoa
học, nắm được bản chất cách giải quyết vấn đề trong giải bài tập. Việc làm trên đây rất
quan trọng để rèn luyện tư duy giải bài tập cho học sinh.
- Đặc biệt cần hướng dẫn cho học sinh các bài tập có liên quan và sáng tao các bài tập mới.
Học sinh phải phân tích bài tập để nắm vững đặc điểm và bản chất, các yếu tố thuộc bài
tập, thấy được mối quan hệ giữa các bài tập khác nhau. Có thể thay đổi điều kiện hoặc
các yếu tố đã cho để đi đến một bài tập mới.
IV. Các phương pháp dạy học tích cực trong Hóa học.
1. Dạy học đặt và giải quyết vấn đề.
Đây không phải là phương pháp hoàn toàn mới với giáo viên. Từ những năm 1960
chúng ta đã làm quen với một thuật ngữ “phương pháp nêu vấn đề”, quan tâm đến việc cải
tạo tình huống có vấn đề để thu hút học sinh vào qua trình nhận thức tích cực. Cho đến nay
đa số giáo viên chưa vận dụng thành thạo và chỉ ở trình độ thấp.
Để đáp ứng yêu cầu tăng cường rèn luyện năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn
đề cho học sinh và sự đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực là tạo điều
kiện cho học sinh hoạt động nhiều hơn trong giờ học, ta cần xây dựng kế hoạch (Giáo án)
theo hướng dạy học trong hoạt động. Vậy cấu trúc và quá trình thiết kế giờ học theo hướng
này như thế nào ta hãy xem xét nội dung cụ thể của nó:
Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo dạy học Đặt – giải quyết vấn đề như
sau:
 Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
• Tạo tình huống có vấn đề
• Phát hiện nhận dạng vấn đề nảy sinh
• Phát biểu vấn đề cần giải quyết
 Giải quyết vấn đề đặt ra
• Đề xuất cách giải quyết
• Lập kế hoạch giải quyết
• Thực hiện kế hoạch giải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status