LUẬN VĂN: Giải pháp hỗ trợ giải quyết việc làm cho thanh niên ngoại thành Hà Nội - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Giải pháp hỗ trợ giải quyết việc làm
cho thanh niên ngoại thành Hà Nội
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mọi quốc gia,
đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam. Giải
quyết việc làm cho người lao động trong sự phát triển của thị trường lao động là tiền đề
quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình thành
thể chế kinh tế thị trường, đồng thời tận dụng lợi thế để phát triển, tiếp kịp khu vực và thế
giới.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề giải quyết việc làm, Đảng và Nhà nước ta đã đề
ra nhiều chủ chương, đường lối, chính sách thiết thực, hiệu quả nhằm phát huy tối đa nội lực,
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu của quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo nhiều việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở

- Đề tài cấp nhà nước 70 A.02.02 “Sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở
nước ta khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần”, của Bộ Lao động-
Thương binh và Xã hội, Hà Nội, 1994.
- Đề tài cấp nhà nước KX-07-05-05: “Những đặc trưng và xu hướng biến đổi của cơ
cấi xã hội nghề nghiệp nước ta trong giai đoạn hiện nay, dự báo và kiến nghị”, do tiến sĩ
Nguyễn Đình Tấn-Giám đốc Trung tâm Xã hội học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh làm chủ nhiệm, 1995.
- Đề tài “Quản lý nhà nước về việc làm ở Hà Nội”, luận án Tiến sĩ Kinh tế Trần Văn
Tuấn, Hà Nội, 1995.
- “Thị trường sức lao động thực trạng và giải pháp” của Phó Tiến sĩ Nguyễn Quang
Hiền, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 1995.
- “Chiến lược việc làm và đào tạo nghề thời kỳ 2001-2010” của tiến sĩ Nguyễn Hữu
Dũng, Tạp chí Lao động Xã hội, 2001.
- Đề tài “Phát triển thị trường sức lao động, giải quyết việc làm qua thực tế ở Hà Nội”,
luận án Tiến sĩ Kinh tế Đỗ Thị Xuân Phương, Hà Nội, 2005.
- Đề tài “Phát triển nguồn nhân lực và giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Vĩnh
Phúc”, luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội, 2002 bảo vệ tại Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh.
Ngoài ra còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí về vấn đề này với những cách
tiếp cận khác nhau.
Có thể thấy rằng, cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào đã công bố, tập
trung nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Tuy vậy, nghiên cứu các công trình đã công bố, tôi cũng tham khảo được nhiều vấn đề lý
luận và thực tiễn rất có giá trị đối với đề tài của mình. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc
những vấn đề được nghiên cứu trong các công trình khoa học đó, kết hợp với khảo sát thực
tế ở địa bàn thành phố Hà Nội, tôi có thể rút ra và kiến nghị những giải pháp giải quyết
việc làm cho thanh niên trên địa bàn thành phố Hà Nội

cứu khoa học xã hội, nghiên cứu lý thuyết và tổng kết thực tiễn, phân pháp phân tích tổng
hợp, diễn dịch, quy nạp, phương pháp hệ thống, so sánh, thống kê
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần phân tích và làm rõ những vấn đề cơ bản về lao động, việc làm,
giải quyết việc làm cho thanh niên, đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho thanh niên
ở thành phố Hà Nội, đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết tốt
hơn việc làm cho thanh niên trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế của
thành phố Hà Nội.
Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý, nghiên cứu hoạch định
chính sách và chỉ đạo thực tiễn của thành phố Hà Nội đối với vấn đề giải quyết việc làm
cho thanh niên ngoại thành.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3
chương, 7 tiết.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỖ TRỢ
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN Ở CÁC VÙNG
NGOẠI THÀNH TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY

1.1. VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN KHU
VỰC NGOẠI THÀNH
1.1.1. Khái niệm và phân loại việc làm
1.1.1.1. Khái niệm việc làm
Ngày nay, việc làm, thiếu việc làm, thất nghiệp là một trong những vấn đề có tính
chất toàn cầu, là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự
phát triển của một đất nước. Tăng việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp là một trong những biện
pháp quan trọng để từng bước ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo phát triển
bền vững. Đặc biệt đối với Việt Nam, tốc độ tăng dân số, nguồn lao động cao, trong khi
Các nhà khoa học kinh tế Anh thì lại cho rằng “việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ
các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩ là tất cả những gì quan hệ đến cách kiếm sống
của một con người, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ
của quá trình kinh tế” 4, tr.315. Theo quan điểm này thì tất cả những việc làm tạo ra thu nhập
mà không cần phân biệt có được pháp luật thừa nhận hay ngăn cấm đều được gọi là việc làm.
Các nhà kinh tế Sônhin và Grincốp của Liên xô lại cho rằng, “việc làm là sự tham
gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội có ích trong khu vực xã hội
hoá của sản xuất, trong học tập, trong công việc nội trợ, trong kinh tế phụ của các nông
trang viên” 4, tr.315. Theo khái niệm này thì những người đang đi học, đang tham gia
hoạt động trong các lực lượng vũ trang, những người nội trợ đều coi là người có việc làm.
Ngày nay, ở Liên Bang Nga khái niệm này được quy định rõ trong Bộ Luật Việc làm của
dân cư Liên bang Nga như sau: “việc làm là hoạt động của công dân nhằm thoả mãn
những nhu cầu xã hội và của cá nhân, đem đến cho họ thu nhập và không bị pháp luật Liên
bang ngăn cấm” 4, tr.315.
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khái niệm việc làm chỉ đề cập đến trong mối
quan hệ với lực lượng lao động. Khi đó, việc làm được phân thành hai loại: Có trả công
(những người làm thuê, học việc ) và không được trả công nhưng vẫn có thu nhập (những
người như giới chủ làm kinh tế gia đình ). Vì vậy, “việc làm có thể được định nghĩa như
một tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có một sự tham gia tích
cực, có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” 4, tr.314. Theo khái niệm này,
người có việc làm là người làm việc gì đó để được trả công, lợi nhuận được thanh toán
bằng tiền hoặc hiện vật, hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì
lợi ích hay vì thu nhập của gia đình (không được nhận tiền công hay hiện vật). Khái niệm
này đã được chính thức nêu tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 của nhà thống kê lao động
(ILO.1993) và đã được áp dụng ở nhiều nước. Tuy nhiên, quan niệm này mang nghĩa rất
rộng, bao trùm mọi hoạt động lao động của con người. Trong thời đại ngày nay, với quan
niệm trên, có rất nhiều người sẽ thuộc diện có việc làm, bao gồm: những hoạt động mang

- Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình
thức tiền lương, tiền công cho công việc đó.
Theo quan niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai tiêu thức:
Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các
thành viên trong gia đình. Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu
nhập của việc làm.
Thứ hai, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm. Điều này chỏ rõ tính pháp lý
của việc làm, quan niệm đã rõ ràng hơn so với quan niệm của tổ chức ILO. Hoạt động có
ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị
trường lao động ở Việt Nam trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Người
lao động hợp pháp ngày nay được đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do hành nghề, tư do
liên kết kinh doanh, tự do tìm kiếm việc là, tự do thuê mướn lao động trong khuôn khổ của
pháp luật, không bị phân biệt đối xử dù làm việc trong hay ngoài khu vực Nhà nước. Điều
này khẳng định tính chấp pháp lý trong hoạt động của người lao động thuộc khu vực ngoài
Nhà nước và các khu vực phi chính thức.
Hai điều kiện đó có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ để một hoạt
động lao động được thừa nhận là việc làm. Nếu một hoạt động tạo ra thu nhập, nhưng vi
phạm pháp luật như trộm cắp, buôn bán ma tuý, mại dâm thì không được thừa nhận là
việc làm. Mặt khác một hoạt động là hợp pháp và có ích, nhưng không tạo ra thu nhập
cũng không được thừa nhận là việc làm.
Nhận thức về việc làm và tạo việc làm đã có sự chuyển biến căn bản. Nếu như trước
đây, quan niệm phổ biến là Nhà nước chịu trách nhiệm tạo việc làm và bố trí việc làm cho
người lao động thì nay đã chuyển sang quan niệm tạo việc làm là trách nhiệm của Nhà
nước, doanh nghiệp, xã hội và của chính bản thân người lao động. Sự thay đổi quan niệm
về việc làm của Nhà nước phù hợp với nền kinh tế thị trường, coi hoạt động lao động tao
ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm, có vai trò quan
trọng trong giải phóng sức lao động, thúc đẩy tạo mở việc làm và phát triển thị trường lao

lao động, có nhu cầu làm việc đều có việc làm. Nếu chỉ xem xét trên phương diện sử dụng hết
thời gian lao động có nghĩa là việc làm đầy đủ. Trong trường hợp sự phù hợp của mối quan hệ
này cho phép sử dụng triệt để tiềm năng về vốn, tư liệu sản xuất và sức lao động ta có khái
niệm việc làm hợp lý.
- Sự không phù hợp giữa chi phí ban đầu và sức lao động sẽ dẫn đến thiếu nguồn
nhân lực tức thiếu việc làm và thất nghiệp.
Trong luận văn này, từ những phân tích trên, tác giả đồng tình với khái niệm việc
làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết
(vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ ) để sử dụng sức lao động đó. Trên cơ sở này sẽ hình
thành các dạng việc làm cũng như phân tích các nhân tố ảnh hướng đến hỗ trợ giải quyết
việc làm.
1.1.1.2. Các dạng việc làm
Trong lý thuyết và cả trong thực tế việc làm được chia làm nhiều hình thức khác
nhau. Những hình thức việc làm là các phương pháp tổ chức pháp lý và những điều kiện sử
dụng lao động. Trong khuôn khổ của thị trường lao động quốc gia hoạt động lao động của
con người được tổ chức với sự trợ giúp của những hình thức tổ chức pháp lý khác nhau,
được phân biệt bởi định mức điều tiết pháp lý thời gian và chế độ ngày làm việc, sự đều
đặn của hoạt động lao động, vị trí thực hiện công việc
- Việc làm đầy đủ: khái niệm việc làm đầy đủ không thể chỉ giải thích theo một
nghĩa, nó phụ thuộc vào tiêu chí và tính chất của vấn đề. Đầy đủ ở đây không có nghĩa là
việc làm chung cho tất cả mọi người, đảm bảo chỗ làm việc cho tất cả dân số có khả năng
lao động. Xã hội luôn có khuyng hướng đạt được cân đối nguồn lao động trong mức tối đa,
dự đoán dòng chuyển động nguồn lao động được dựa trên cơ sở dự báo và lên kế hoạch tạo
chỗ làm việc.
Trong tư duy và thực tế ở phương Tây, việc làm đầy đủ là tình hình nền kinh tế, mà ở
đó tất cả những người mong muốn làm việc có việc làm với mức lương thực tế khống chế.
Trong ngữ cảnh này nó được sử dụng đồng nhất như khái niệm “toàn dụng nhân lực”.

những tỉ lệ cần thiết.
+ Cấu trúc phân bố người lao động hợp lý theo ngành và theo khu vực kinh tế. Chỉ
tiêu này, thường được gọi là chỉ tiêu hợp lý, tỉ lệ phân chia tiềm năng lao động theo dạng
việc làm, ngành, khu vực kinh tế
+ Chỉ tiêu gắn với việc tối ưu hoá cấu trúc chuyên môn nghề nghiệp củ người lao
động, cho phép làm rõ ràng sự phù hợp cấu trúc chuyên môn nghiệp vụ của dân số lao
động với cấu trúc chỗ làm việc, đồng thời cũng xác định hệ thống đào tạo cán bộ là phù
hợp với đòi hỏi của nền kinh tế.
Về hiệu quả việc làm có thể theo chỉ tiêu định mức thất nghiệp. Hiện nay, ở phương
Tây, việc làm đầy đủ và có hiệu quả đạt được khi có sẵn định mức thất nghiệp tự nhiên.
Định mức thất nghiệp tự nhiên là mức độ của nó mà kiềm chế mức lương thực tế và giá cả
không thay đổi với mức tăng trưởng năng suất lao động bằng không. Trong thực tế định
mức thất nghiệp được tính bằng cách tính tổng thất nghiệp tạm thời và thất nghiệp cấu
trúc. Phương pháp đơn giản nhất để tính định mức thất nghiệp tự nhiên là tính theo mức độ
của nó trong điều kiện lạm phát ở mức vừa phải. Vì vậy, không nên đánh giá việc làm đầy
đủ và có hiệu quả chỉ theo một phương pháp, mà để nhận được thông tin chính xác thì nên
sử dụng hệ thống các chỉ tiêu đã nêu trên.
- Việc làm hợp lý: là sự thoả mãn nhu cầu làm việc cho bất cứ ai có khả năng lao
động trong nền kinh tế quốc dân và phù hợp với trình độ, nguyện vọng của họ.
Việc làm hợp lý không những hàm chứa nội dung việc làm đầy đủ mà còn nói rõ
việc làm đó phải phù hợp với khả năng và nguyện vọng của người lao động. Việc làm hợp
lý, do vậy có năng suất lao động và hiệu quả kinh tế-xã hội cao hơn so với việc làm đầy
đủ. Trong quá trình thực hiện việc làm đầy đủ, cần từng bước, từng bộ phận thực hiện việc
làm hợp lý. Việc làm hợp lý phản ánh sự phù hợp về mặt số lượng và chất lượng của các
yếu tố con người với điều kiện vật chất của sản xuất và xã hội, hợp lý giữa lợi ích cá nhân
người lao động với lợi ích của xã hội.
Khái niệm việc làm đầy đủ và việc làm hợp lý cũng chỉ mang ý nghĩa tương đối. Vì

nối đặc biệt” đảm bảo thay thế chỗ làm việc mới trong tương lai mà không phải trải qua
thời kỳ thất nghiệp. Hiện nay, việc làm thêm tuỳ tiện ở một số ngành (như giáo dục, y tế),
sự khác biệt quá lớn giữa tiền lương và thu nhập của một bộ phận công chức dưới danh
nghĩa việc làm thêm của khu vực nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay lại ảnh
hưởng rất tiêu cực đến tình hình kinh tế - xã hội nói chung và sự phát triển đồng bộ thị
trường lao động nói riêng.
Cùng với chính sách mới cho người lao động được tự do lựa chọn công việc và nghề
nghiệp thì việc làm phụ là một biểu hiện hợp lý. Tuy nhiên, ở Việt Nam, biểu hiện này về cơ
bản nó gắn với những xuất hiện tiêu cực như: việc làm không đầy đủ, thu nhập của người lao
động thấp, tăng trưởng kinh tế chưa bền vững. Xét từ góc độ này thì phát triển việc làm phụ
rộng rãi chỉ là biểu hiện tạm thời và nó sẽ giảm khi nền kinh tế - xã hội của đất nước phát triển
ổn định.
- Việc làm không trọn ngày hay việc làm dở dang có đặc điểm công việc trong chế độ
thời gian làm việc không trọn ngày làm việc hoặc tuần làm việc không đầy đủ, nghỉ phép
bắt buộc không hưởng lương theo chủ động của lãnh đạo công sở (doanh nghiệp), có thể
được ấn định từ phía công ty, người thuê lao động và thậm chí có thể từ sự thoả thuận
đồng ý của người lao động, đó là việc làm không trọn ngày tự nguyện. Thời gian gần đây,
cả chế độ này hay chế độ kia đều được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế thị
trường phát triển.
Đối với người lao động, việc làm không trọn ngày hoàn toàn có thể chấp nhận được
trong hàng loạt các trường hợp: phụ nữ có con nhỏ, những lao động lớn tuổi, những người
tàn tật, thanh niên vừa đi học, vừa đi làm đều có lợi thế với loại hình việc làm này.
- Việc làm độc lập: là công việc độc lập theo chủ động cá nhân không thu nhận lao
động làm thuê khi sản xuất những hàng hoá tiêu dùng và các dịch vụ khác nhau. Đồng thời
người lao động làm chủ những phương tiện sản xuất nhất định và tự tổ chức công việc cho
mình. Trong giới hạn nhất định việc làm độc lập là tình thế phải chọn của người lao động
thất nghiệp (có thể do doanh nghiệp không đủ năng lực đảm bảo khả năng với mức lương
đầy đủ), nhưng điều đó không thể phủ nhận vai trò tích cực chủ động của nó.
- Việc làm tổng thể: là việc làm trong tất cả các lĩnh vực hoạt động lao động, cả trong
nền kinh tế của đất nước, cả trong các hệ thống giáo dục và đào tạo chuyên nghiệp, trong

được tổ chức bởi các dịch vụ việc làm và chính quyền địa phương dành riêng cho những người
thất nghiệp. Đó là những công việc tạm thời ít cần đến chuyên môn như: thu dọn địa hạt, tham
gia vào xây dựng đường giao thông
1.1.2. Đặc điểm và ý nghĩa của giải quyết việc làm cho thanh niên
1.1.2.1. Khái niệm giải quyết việc làm
Theo khái niệm việc làm nêu ở phần trên, việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù
hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ ) để
sử dụng sức lao động đó. Rõ ràng tạo được việc làm cho người lao động hoặc tạo nhiều
việc làm luôn gắn với quá trình phát triển kinh tế xã hội, phát huy sức mạnh tiềm năng của
con người, phát huy trí tuệ người lao động để tạo ra nhiều của cải cho xã hội. Chính vì vậy,
Văn kiện Đại hội X của Đảng đã nêu rõ “Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát
huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng
nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân” 17. Vấn đề giải quyết việc
làm cho người lao động là cần thiết, không những mang tầm quốc gia mà vượt ra bên
ngoài khu vực và thế giới. Tuỳ thuộc vào các cách thức tiếp cận và mục đích nghiên cứu
khác nhau mà người ta đưa ra khái niệm về giải quyết việc làm:
Giải quyết việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ làm việc
và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các việc làm chất lượng, đảm
bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động, đồng thời đáp ứng được
mục tiêu phát triển đất nước.
Với khái niệm trên, việc giải quyết việc làm không chỉ có nhiệm vụ chức năng của
Nhà nước mà còn là trách nhiệm của xã hội, của các cơ quan doanh nghiệp và ngay bản thân
người lao động. Hiện nay, các chính sách của Nhà nước luôn quan tâm chú trọng đến tạo
công ăn việc làm cho người lao động thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các
chương trình, chính sách hỗ trợ tới tận hộ gia đình, các cá nhân sẵn sàng làm việc. Chính
vì vậy, chính sách nhà nước là một trong những tác động quan trọng rất mạnh đến việc làm
của người lao động như khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất như giảm thuế

một chính sách, cơ chế đúng đắn về giải quyết việc làm thì bản thân các quan hoạch định
chính sách rất cần biết về các thông tin dự báo về nguồn lao động như chất lượng lao động,
số lượng lao động có sự khác nhau hay nói cách khác có một khoảng cách quá xa hay
không tại cùng một thời điểm của các khu vực, đơn vị khác nhau , ở các địa phương có
những điều kiện văn hoá, xã hội, tự nhiên khác nhau thì sẽ tác động tới chất lượng, số
lượng lao động và ý thức của người lao động như thế nào Chính vì tính chất tổng hợp
này đã xác định việc lựa chọn được phương pháp dự báo và cũng như đưa ra được chính
sách chính xác.
Tuỳ thuộc vào mục đích của việc xây dựng, hoạch định chính sách người ta đưa ra
cách tính dự báo. Nếu theo tính chất dự báo nguồn lao động thì có thể dự báo theo thời
gian (ngắn hạn 5 năm, trung hạn 10 năm hay dài dạn trên 10 năm ) hay dự báo theo phạm
vi lãnh thổ (quốc gia, vùng, miền, địa phương ). Có thể dự báo nguồn lao động theo tính
chất nghề nghiệp, theo chất lượng lao động hay theo từng lĩnh vực.
Các kết quả dự báo được ứng dụng nhiều cho xây dựng, hoạch định chính sách phát
triển kinh tế xã hội, là một bộ phận của kế hoạch dài hạn và trung hạn cho mỗi đơn vị, địa
phương. Mức độ chính xác của kết quả dự báo phụ thuộc vào nguồn lực liên quan tới
nguồn lao dộng. Hay nói cách khác, các giả thiết đưa ra phụ thuộc vào khả năng làm thay
đổi các xu hướng tăng, giảm của tỉ lệ sinh, chết, di dân, xu hướng chất lượng sao cho phù
hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội.
Hai là, phân tích thực trạng nguồn lao động. Thực chất phân tích nguồn lao động
thường được gắn liền với quá trình dự báo nguồn lao động. Bản thân của quá trình dự báo
nguồn lao động thì các số liệu cũng phản ánh theo một xu hướng nhất định nào đó. Tuy
nhiên, hiện nay để có được số liệu chính xác cũng như cần thiết cho quá trình nghiên cứu
và thực thi ban hành chính sách giải quyết việc làm thì cần một con số chính xác, phù hợp
với tiêu chí, tính chất của sự việc.
Việc phân tích thực trạng nguồn lao động thường được xem xét trên hai khía cạnh cơ
bản đó là: phân tích tổng quát chung và phân tích theo từng lĩnh vực, khía cạnh khác nhau.

Tuy nhiên, theo các nhà kinh tế học, không thể giảm hết tỉ lệ thất nghiệp, tuy rằng đó
là lý tưởng nhưng cần tính đến khả năng thúc đẩy cũng như tạo động lực cho mọi người
lao động có ý thức vươn lên, tự giác trao đổi học tập và phấn đấu bồi dưỡng bản thân.
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, hiện tượng thất nghiệp vẫn xảy ra, theo nghiên cứu
cho thấy, để kích thích sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội thì cần duy trì mức tỉ lệ thất
nghiệp từ 3-5%. Đây cũng là điều khó khăn cho việc xây dựng và hoạch định chính sách, tính
toán sao cho vẫn đạt mục tiêu gia tăng năng suất lao động cao nhưng vẫn phải đảm bảo tình
hình xã hội trong nước có công ăn, việc làm cho người lao động. Điều đó đòi hỏi có sự phối
hợp giữa các chính sách của chính phủ, chính quyền địa phương có sự linh hoạt áp dụng cho
từng thời điểm sao cho phù hợp.
Ba là, ban hành chính sách việc làm. Chính sách việc làm là tổng thể các quan điểm,
tư tưởng, các mục tiêu, giải pháp và công cụ nhằm sử dụng lực lượng lao động và tạo việc
làm cho lực lượng lao động đó. Hay nói cách khác, chính sách việc làm là sự thể chế hoá
pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực lao động và việc làm, là hệ thống các quan điểm,
phương hướng mục tiêu và các giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động.
Chính sách việc làm thực chất là một hệ thống các chính sách chung có quan hệ và
tác động đến việc mở rộng và phát triển việc làm cho lực lượng lao động của toàn xã hội, như
các chính sách: Khuyến khích phát triển các lĩnh vực, những ngành nghề có khả năng thu hút
nhiu lao ng, chớnh sỏch to vic lm cho nhng i tng c bit (lao ng n, ngi tn
tt, i tng t nn xó hi ); chớnh sỏch hp tỏc v xut khu lao ng i nc ngoi
1.1.2.3. c im gii quyt vic lm cho thanh niờn ngoi thnh
c im ca lao ng thanh niờn
Theo N. OHiggins, thanh niờn l la tui ang trong thi gian chuyn tip gia thi
thiu niờn v trng thnh 8. Tuy nhiờn, theo c cu la tui ca dõn s cỏc nc trờn
th gii cú nhng quy nh khỏc nhau v tui thanh niờn, thụng thng t 15 n 24,
25, 29 hoc 34 tui. Theo Liờn hp quc la tui 15-34 l thuc c cu lao ng tr.
Thanh niờn thng tớnh trong tui 15-24 hm ý tui ny thanh niờn gm nhng


Điều kiện sống và
làm

việc

Những nhân tố bên ngoài
Những nhân tố bên trong
Yu t trỡnh ngh nghip ca thanh niờn rt quan trng khi tham gia th trng lao
ng, thm chớ quyt nh nng lc cnh tranh ca h v phi thụng qua o to, tớch lu
kinh nghim trong cuc sng v lm vic, th hin hỡnh sau:


-
Sức
khoẻ
-
Hình
thể

-
Giới
tính
-

Lứa
-
Trí
tuệ
-

Tinh
Trình độ
nghề
nghiệp
- Điều kiện
ăn ở
- Điều kiện
làm việc
- Khí hậu,
thời tiết
- Đối với những người được đào tạo, cũng gặp phải vấn đề chưa ăn khớp, hoặc bất
cập của hệ thống đào tạo với yêu cầu của thị trường lao động, nên khả năng hội nhập thị
trường lao động của thanh niên cũng gặp khó khăn.
- Thanh niên chưa đủ thời gian để tích luỹ kinh nghiệm, khi vào thị trường lao động
họ phải cạnh tranh quyết liệt với lao động ở độ tuổi trưởng thành, có nhiều kinh nghiệm
hơn trong nghề nghiệp.
Do áp lực của kinh tế thị trường, người sử dụng lao động yêu cầu lao động thanh niên
phải có trình độ nghề nghiệp, kinh nghiệm làm việc, trong khi đáp ứng của lao động thanh
niên đối với yêu cầu này còn hạn chế, mặt khác khi tuyển lao động thanh niên, người sử
dụng lao động cũng phải cân nhắc tính hiệu quả, vì phải tăng chi phí đào tạo lại, đào tạo bổ
sung kỹ năng mới cho họ phù hợp với công nghệ đang áp dụng.
1.1.2.4. Ý nghĩa của giải quyết việc làm cho thanh niên
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản của mọi quốc gia
nhằm góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Chính sách việc làm
vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa có ý nghĩa về mặt chính trị xã hội cũng như giáo dục
con người. Việc hoạch định và thực thi không tốt chính sách việc làm sẽ dẫn đến những
hậu quả, những thiệt hại trực tiếp cả về kinh tế, chính trị và xã hội cho đất nước.
Trước hết, giải quyết việc làm đảm bảo việc làm cho thanh niên tham gia hoạt động
kinh tế, kết nối họ vào các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, tạo khả năng cho họ nhận được
những khoản thu nhập thiết yếu để tái sản xuất sức lao động của chính bản thân mình,
cũng như nuôi sống gia mình. Tạo nhiều việc làm tạo điều kiện cho thanh niên dễ dàng lựa
chọn công việc phù hợp, tạo năng suất cao hơn và có cơ hội nhận được thu nhập cao hơn.
Thông qua giải quyết việc làm cho thanh niên, các doanh nghiệp, công ty, người sử
dụng lao động được lựa chọn sức lao động trẻ cần thiết theo khối lương và chất lượng đòi
hỏi của doanh nghiệp. Nhưng không phải lúc nào cũng sẵn có lực lượng thanh niên cần
thiết trong một khu vực, chính vì vậy nhờ việc giải quyết việc làm sẽ cung cấp đầy đủ các
thông tin về ngành nghề, nơi nào đang dư thừa lao động thanh niên và nơi nào thì khan

Nếu thanh niên ngoại thành không được giải quyết tạo nhiều việc làm, sẽ gây mất ổn định
an ninh, trật tư xã hội, người ảnh hưởng đến đời sống của họ và gia đình họ do không có
thu nhập, từ đó ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế khu vực ngoại thành nói chung.
Sự chuyển dịch cơ cấu lao động TNNT sang làm các ngành phi nông nghiệp (công
nghiệp, xây dựng và dịch vụ) do sự tác động của đô thị hoá. Mặc dù xu hướng tăng lao
động thanh niên phi nông nghiệp trong khu vực nông thôn còn chậm, nhưng tỉ lệ TNNT
hàng năm bước vào tuổi lao động cao, do giai đoạn trước tỉ lệ tăng dân số nông thôn cao.
Ở khu vực ngoại thành chậm chuyển sang sản xuất hàng hoá, các loại thị trường ít phát
triển, tăng trưởng kinh tế chậm, ảnh hưởng đến cơ cấu lao động TNNT. Tỷ lệ TNNT qua
đào tạo tập huấn thấp hạn chế khả năng phát triển các loại hình doanh nghiệp ở nông thôn.
Thu hút được ít đầu tư của các cấp chính quyền, tư nhân và các công ty nước ngoài cho
phát triển ở các vùng nông thôn, đặc biệt là vùng khó khăn về cơ sở hạ tầng và điều kiện tư
nhiên, đầu tư ít có khả năng sinh lãi. Những vấn đề này sẽ tạo thành vòng luẩn quẩn thiếu
việc làm và nghèo đói.
Sự xuất hiện nhiều ngành nghề mới đòi hỏi TNNT phải có sự đổi mới, nâng cao chất
lượng để thích ứng, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Thêm vào đó, lực lượng
TNNT chủ yếu là sản xuất nông nghiệp trong điều kiện lạc hậu, trình độ sản xuất hàng hoá
thấp, năng suất lao động thấp nên chất lượng lao động của TNNT nhìn chung là thấp. Bộ
phận lớn hộ nông dân chưa có khả năng đầu tư cho giáo dục, đào tạo, cho nên lao động được
đào tạo ít, trình độ văn hoá thấp nên thanh niên ngoại thành ít có cơ hội tham gia hiệu quả vào
thị trường lao động.
Sự di chuyển lao động TNNT ra thành thị là xu thế không thể đảo ngược. Nó có tác
dụng giảm sức ép về việc làm tại các vùng nông thôn và cung ứng lao động cho các công
nghiệp, khu chế xuất tập trung Sự di chuyển lao động TNNT dẫn đến hiện tượng giảm
bớt một bộ phận lao động nông thôn, mà trong đó, đa số là lao động vừa tốt nghiệp các cấp
phổ thông chưa qua đào tạo. Lao động TNNT nhập cư vào khu vực ngoại thành là nguồn
lực quan trọng đảm bảo cho sự phát triển quy mô các ngành nghề, sự hoạt động sôi nổi của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status