Đảng bộ tỉnh phú thọ lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ nam 1997 den nam 2010 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUYỆN THỊ THU HƢNG

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO
DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội- 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUYỆN THỊ THU HƢNG

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO
DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 0315

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Trần Kim Đỉnh

Hà Nội- 2013


LỜI CAM ĐOAN

7. Kết cấu luận văn.......................................................................................... 10
NỘI DUNG .................................................................................................... 11
Chƣơng 1: ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005 ................... 11
1.1. Vài nét chung về tỉnh Phú Thọ ................................................................ 11
1.1.1.Địa giới hành chính và kinh tế- xã hội................................................... 11
1.1.2. Truyền thống lịch sử- văn hoá .............................................................. 14
1.1.3. Giáo dục phổ thông tỉnh Vĩnh Phú trước khi tái lập tỉnh Phú Thọ
1997 ................................................................................................................. 16
1.2. Giáo dục phổ thông Phú Thọ từ khi tái lập tỉnh năm 1997 đến năm
2005 ................................................................................................................. 18
1.2.1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục phổ thông ....... 18
1.2.2. Đảng bộ tỉnh Phú Thọ chú trọng phát triển giáo dục phổ thông đáp ứng
yêu cầu mới ..................................................................................................... 24
1.2.3. Quá trình tổ chức chỉ đạo và kết quả thực hiện.................................... 29
1


Chƣơng 2: GIÁO DỤC PHỔ THÔNG PHÚ THỌ TỪ NĂM 2006 ĐẾN
NĂM 2010 ...................................................................................................... 49
2.1. Chủ trương của Đảng về phát triển giáo dục phổ thông trong những năm
2006- 2010 ...................................................................................................... 49
2.1.1. Quan điểm của Đảng về phát triển giáo dục phổ thông trong tình
hình mới .......................................................................................................... 49
2.1.2. Chủ trương và biện pháp phát triển giáo dục phổ thông của Đảng bộ
tỉnh Phú Thọ .................................................................................................... 55
2.2. Đảng bộ tỉnh Phú Thọ chỉ đạo đẩy mạnh phát triển giáo dục phổ thông từ
năm 2006 đến 2010 ......................................................................................... 61
2.2.1. Tiếp tục mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện .... 61
2.2.2. Nâng cao chất lượng, chuẩn hoá đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý

: Giáo dục thường xuyên

HĐND

: Hội đồng nhân dân

THCN

:Trung học chuyên nghiệp

THCS

: Trung học cơ sở

THPT

: Trung học phổ thông

UBND

: Ủy ban nhân dân

XHH

: Xã hội hoá

3


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

sở ban đầu rất quan trọng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của các lứa
tuổi nhi đồng, thiếu niên và thanh niên, giúp các em phát triển toàn diện về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách
con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, nhu
cầu của nhân dân và đòi hỏi của cuộc đấu tranh chống nguy cơ tụt hậu của đất
nước, Đảng không ngừng đổi mới nội dung giáo dục và đào tạo, trong đó có
giáo dục phổ thông.

5


Hoà trong tình hình chung của đất nước, đặc biệt là sau khi tái lập tỉnh
(1997), Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã lãnh đạo nhân dân vượt qua bao khó khăn,
thách thức và đã đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực,
trong đó có lĩnh vực giáo dục. Nhận thức sâu sắc vai trò của giáo dục phổ
thông, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ thường xuyên quan tâm, chăm lo tạo điều kiện để
giáo dục nói chung, giáo dục phổ thông nói riêng từng bước đổi mới và phát
triển vững chắc. Thực tế cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ,
sự nghiệp giáo dục phổ thông của tỉnh đã đạt được những kết quả to lớn. Quy
mô giáo dục đào tạo được mở rộng và phát triển một cách hợp lý, chất lượng
giáo dục toàn diện có bước chuyển biến tích cực, chất lượng học sinh giỏi ổn
định và phát triển, việc triển khai thực hiện dạy và học theo chương trình sách
giáo khoa mới đạt kết quả tốt. Hệ thống trường chuẩn quốc gia ngày một tăng
và phát huy hiệu quả. Kết quả phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi và phổ
cập Trung học sơ sở được duy trì, nâng cao chất lượng. Công tác nghiên cứu
khoa học và chăm lo các điều kiện đội ngũ, cơ sở vật chất trường có nhiều tiến
bộ, công tác quản lý giáo dục tiếp tục được đổi mới.
Tuy nhiên, với điều kiện kinh tế xã hội của các tỉnh miền núi nói chung,
Phú Thọ nói riêng còn nghèo nàn nên cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học
chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng tăng quy mô và chất lượng nguồn nhân

trương, đường lối, chính sách giáo dục đã và đang tiến hành ở nước ta.
Cuốn “Nhà trường phổ thông Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử” của Viện
Khoa học giáo dục (2001), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, trong đó có trình
bày tình hình, những đánh giá tổng hợp về giáo dục phổ thông giai đoạn 19751995. Tuy nhiên, đó mới chỉ là sự khái quát sơ lược về giáo dục và nhà trường
phổ thông Việt Nam giai đoạn này, giới hạn đến năm 1995.
Cuốn “Lịch sử giáo dục Việt Nam” do Bùi Minh Hiền soạn thảo được
Nxb Đại học sư phạm phát hành năm 2004. Đây là giáo trình dùng cho sinh
viên các trường đại học và cao đẳng sư phạm, trong đó có dành hai chương viết

7


về giáo dục Việt Nam giai đoạn 1975- 1986 và 1986- 2004. Cuốn sách không
dành viết riêng về giáo dục phổ thông, nhưng qua việc trình bày những chính
sách, những tổng kết tình hình giáo dục Việt Nam nói chung, ta có thể chọn lọc
ra những phần liên quan đến giáo dục phổ thông.
Các nghiên cứu của GS. TS Phạm Minh Hạc: Cuốn “Giáo dục Việt Nam
trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI” (1999), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Cuốn
sách này trình bày tính chất của nền giáo dục, nguyên lý, nội dung, hệ thống
giáo dục nước ta qua các giai đoạn lịch sử, phân tích quan hệ giữa giáo dục với
phát triển nguồn lực, các nguồn lực phát triển giáo dục và phương hướng phát
triển giáo dục trong thời gian tới; Cuốn “Nhân tố mới về giáo dục đào tạo trong
thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” (2002), Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, nêu bật được những chuyển biến tích cực về chất lượng dạy và
học, có được những kết quả này là do sự cải tiến về phương pháp của cả thầy
lẫn trò, phong trào học tập trong nhân dân được đẩy mạnh. Từ đó xuất hiện
những nhân tố mới, những kinh nghiệm hay để góp phần thực hiện thắng lợi
đường lối giáo dục và đào tạo của Đảng.
Nghiên cứu về sự lãnh đạo của các Đảng bộ địa phương đối với giáo dục
phổ thông có một số luận văn Thạc sĩ của khoa Lịch sử Trường Đại học Khoa

Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo sự nghiệp giáo dục từ năm 1997 đến
2010.
4.2. Phạm vi
- Về không gian: Nghiên cứu về tình hình giáo dục phổ thông ở địa bàn
tỉnh Phú Thọ.
- Về thời gian: Từ năm 1997 đến năm 2010 (từ khi tái lập tỉnh đến khi
tỉnh Phú Thọ tổng kết nhiệm kỳ 2005- 2010).
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
5.1. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu là:

9


phương pháp lịch sử, phương pháp logic. Ngoài ra còn kết hợp các phương
pháp khác như: thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tiến….
5.2. Nguồn tài liệu
- Các văn kiện, Nghị quyết của Đại hội Đảng; các văn bản, chỉ thị của
Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục.
- Các tài liệu văn kiện của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, các tài liệu, văn kiện
của HĐND, UBND và các Ban, Ngành của tỉnh Phú Thọ; Một số công trình
nghiên cứu của các cá nhân, tập thể về vấn đề giáo dục.
6. Đóng góp của luận văn
- Về mặt khoa học: Hệ thống được những chủ trương, chính sách của
Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về việc thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông từ 19972010. Từ những thành công và hạn chế tồn tại rút ra kinh nghiệm và chỉ ra
phương hướng để vận dụng cho giai đoạn sau.
- Về mặt tư liệu: Bổ sung thêm nguồn tư liệu về lịch sử địa phương.
- Về phương pháp nghiên cứu: Góp phần vào việc tổng kết quá trình vận
dụng đường lối, quan điểm của Đảng về phát triển giáo dục phổ thông.

vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Việc hợp nhất tỉnh Phú Thọ với Vĩnh
Phúc, cũng như việc tái lập tỉnh cũ là do yêu cầu khách quan của lịch sử và
chủ trương chung của Đảng và Chính phủ trong phạm vi toàn quốc.

11


Đến năm 2010, Phú Thọ có 13 đơn vị hành chính gồm thành phố Việt
Trì, thị xã Phú Thọ, huyện Đoan Hùng, Hạ Hoà, Thanh Ba, Cẩm Khê, Phù
Ninh, Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Thanh Sơn, Tân Sơn và Yên Lập.
Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của tỉnh; 274 đơn
vị hành chính cấp xã gồm 14 phường, 10 thị trấn và 250 xã, trong đó có 214
xã miền núi, 7 xã vùng cao và 50 xã đặc biệt khó khăn.
Địa hình của tỉnh bị chia cắt, có thể chia thành hai tiểu vùng chủ yếu:
Tiểu vùng núi cao phía Tây và phía Nam: chủ yếu thuộc các huyện
Thanh Sơn, Yên Lập, phía Tây Cẩm Khê. Đây là vùng khó khăn trong việc đi
lại, giao lưu với các nơi khác. Song, ở đây còn có nhiều tiềm năng phát triển,
nhất là ngành lâm nghiệp, khai thác khoáng sản.
Tiểu vùng gò, đồi chia cắt nhiều xen kẽ đồng bằng ven các triền sông
Hồng, Hữu Lô, Tả Đáy và các vùng đồng bằng tương đối tập trung phía nam
huyện Lâm Thao và Phù Ninh. Đây là vùng được khai thác lâu đời, đồi bị sói
mòn, rửa trôi nhiều, đồng ruộng lầy lụt, chua úng. Vùng này thuận lợi cho
việc trồng các loại nguyên liệu giấy, cây công nghiệp dài ngày như: chè, cây
ăn quả, cây lương thực, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản.
Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có một mùa đông
lạnh. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 230C, lượng mưa trung bình trong năm
khoảng 1.600- 1.800 mm. Độ ẩm trung bình trong năm tương đối lớn, khoảng
85 – 87%. Nhìn chung khí hậu của Phú Thọ thuận lợi cho việc phát triển cây
trồng, vật nuôi đa dạng.
Tổng diện tích tự nhiên của Phú Thọ là 3.519,56 km2, trong đó vùng núi

lên. Mạng lưới bưu chính- viễn thông được đầu tư xây dựng rộng khắp, xã
nào cũng có những điểm bưu điện văn hoá, đảm bảo sự thông suốt của thông
tin giữa các vùng miền trong tỉnh với các miền trong cả nước và quốc tế, phục
vụ công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế của tỉnh.

13


Do đặc điểm địa hình, mật độ dân cư giữa các khu vực trong tỉnh, nhất
là các đồng bào các dân tộc ít người, trình độ dân trí giữa các địa phương còn
chênh lệch khá lớn, CSVC hạ tầng của các địa phương nhất là các trường học
còn nghèo.
Những đặc điểm trên đây khiến cho Phú Thọ gặp phải những khó khăn
trong việc quy hoạch mạng lưới trường lớp, thực hiện mục tiêu phát triển giáo
dục nói chung và phổ cập giáo dục, chống mù chữ nói riêng.
Tuy nhiên, Phú Thọ lại có những thuận lợi cơ bản như: các cấp uỷ Đảng
và chính quyền từ tỉnh đến xã, phường luôn luôn quan tâm, chỉ đạo ngày càng
cụ thể sâu sắc và hiệu quả hơn đối với ngành GD&ĐT, nhất là với GDPT;
truyền thống hiếu học của các địa phương đã trở thành động lực thúc đẩy phát
triển giáo dục; kinh tế phát triển không ngừng, môi trường xã hội ổn định, đời
sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, tạo ra các nguồn lực cơ bản đảm bảo giáo
dục phát triển lành mạnh.
1.1.2. Truyền thống lịch sử- văn hoá
Phú Thọ có vinh dự và trách nhiệm lớn là vùng Đất Tổ, trung tâm của
quốc gia Văn Lang cổ, cội nguồn của dân tộc Việt Nam, nơi có đền thờ Hùng
Vương, một động lực tinh thần sâu xa của Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh.
Đồng bào các dân tộc ở Phú Thọ có truyền thống yêu nước và cách mạng, lao
động cần cù, sáng tạo, có tinh thần đoàn kết, vượt mọi khó khăn, một lòng tin
tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt và đường lối đúng đắn của Đảng Cộng sản
Việt Nam.

xây dựng quê hương, duy trì các truyền thống văn hoá tốt đẹp đã hun đúc nên
những truyền thống quý báu cho các thế hệ hôm nay và mai sau học tập và
phát huy.

15


1.1.3. Giáo dục phổ thông tỉnh Vĩnh Phú trước khi tái lập tỉnh Phú Thọ 1997
Năm 1968, Phú Thọ hợp nhất với Vĩnh Phúc thành tỉnhVĩnh Phú. Từ
năm 1986, Vĩnh Phú cùng cả nước bước vào thời kỳ đổi mới. Bên cạnh những
chuyển biến kinh tế- xã hội, GD&ĐT của Vĩnh Phú đã có những bước chuyển
đáng kể trong thực hiện đường lối đổi mới giáo dục của Đảng.
Trong những năm 1987- 1990, ngành giáo dục tập trung vào nhiệm vụ
củng cố và từng bước phát triển sự nghiệp GDPT của tỉnh. Sở GD&ĐT từng
bước tiến hành đổi mới công tác giáo dục, quy hoạch mạng lưới trường lớp,
mở rộng GDPT, đa dạng hoá các loại hình đào tạo. “Năm 1990, toàn tỉnh có
492 trường phổ thông cơ sở, bao gồm 10.237 lớp, 357.925 học sinh; 136
trường PTTH với 461 lớp và 16.684 học sinh” [4, tr.523].
Trên cơ sở Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Đảng và Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII, 1993) xác
định GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, Ban thường vụ Tỉnh uỷ ra Nghị quyết
số 12- NQ/TW “Về phát triển sự nghiệp giáo dục của tỉnh đến năm 2000”.
Sau quá trình triển khai thực hiện, ngành GD&ĐT của tỉnh có bước phát triển
mới. Quy mô các ngành học, cấp học từ giáo dục mầm non cho đến giáo dục
chuyên nghiệp đều tăng so với trước. Về GDPT, “so với kế hoạch của tỉnh
giao, số học sinh đã vượt trên 100%. Ngành học phổ thông được tỉnh cho mở
4 trường bán công THPT, 2 trường THCS và 2 trường phổ thông dân lập nội
trú, duy trì và mở thêm các lớp hệ B, bán công”. [4, tr.543]. Cùng với việc sắp
xếp lại mạng lưới, đa dạng hoá các loại hình trường lớp, hình thức học tập ở
các cấp học, ngành học đã đáp ứng một phần nhu cầu học tập của nhân dân.

định 1123/QĐ- UB, ngày 22/ 9/ 1993 của UBND tỉnh, từ ngày 01/01/1994
các Trung tâm GDTX và các trường phổ thông dân tộc nội trú thuộc các
huỵên, thị, thành chuyển về Sở GD&ĐT tỉnh Vĩnh Phú.
GDPT Vĩnh Phú từng bước thay đổi, nhất là sau 10 năm đổi mới (19861996). Vào thời điểm tái lập tỉnh (1997), GDPT Phú Thọ có những thuận lợi

17


là được kế thừa các thành quả đạt được trong thời kỳ hai tỉnh hợp nhất. Tuy
nhiên vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém trong GDPT như: chất lượng giáo dục
chính trị, đạo đức, các môn khoa học xã hội nhân văn còn thấp; giáo dục
hướng nghiệp, dạy nghề còn hạn chế; đội ngũ giáo viên, nhất là giáo viên
THPT còn thiếu, chưa đồng bộ; trang thiết bị trường học còn thiếu, lạc hậu….
Từ những hạn chế trong GDPT đặt ra yêu cầu khách quan là cần có
nhận thức đúng để tìm ra giải pháp, bước đi phù hợp trong phát triển GDPT
của tỉnh. Đây là cơ sở cho Phú Thọ cùng với cả nước đẩy mạnh công cuộc đổi
mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
1.2. Giáo dục phổ thông Phú Thọ từ khi tái lập tỉnh năm 1997 đến năm 2005
1.2.1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục phổ thông
Luật Giáo dục năm 2005 quy định về GDPT: “Điều 26. Giáo dục phổ
thông bao gồm:
a) Giáo dục Tiểu học thực hiện trong 5 năm học, từ lớp 1 đến lớp 5.
Tuổi của học sinh vào lớp 1 là 6 tuổi;
b) Giáo dục Trung học cơ sở được thực hiện trong 4 năm, từ lớp 6 đến
lớp 9. Học sinh vào học lớp 6 phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi
là 11 tuổi;
c) Giáo dục Trung học phổ thông được thực hiện trong 3 năm học, từ lớp
10 đến lớp 12. Học sinh vào học lớp 10 phải có bằng tốt nghiệp Trung học cơ
sở, có tuổi là 15 tuổi” [75, tr.74].
“Điều 27. Mục tiêu của giáo dục phổ thông

quyết nêu bật những thành tựu và những mặt còn hạn chế, yếu kém của nền
giáo dục Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám đến hiện tại. Từ đó, Hội nghị
đã đưa ra chiến lược phát triển GD&ĐT với những nội dung:
Những tư tưởng chỉ đạo phát triển Giáo dục- Đào tạo trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

19


Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những
con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội, có đạo đức, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; CNH,
HĐH đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh
hoa văn hoá của nhân loại. Phải giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội
dung, phương pháp giáo dục và đào tạo.
Thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Nhận thức sâu sắc
GD&ĐT cùng với KH&CN là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát
triển xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Có giải pháp mạnh
mẽ để phát triển giáo dục.
Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, Nhà nước và của toàn
dân. Mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời. Kết hợp giáo dục nhà
trường- gia đình- xã hội, tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh.
Phát triển giáo dục và đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội,
những tiến bộ khoa học công nghệ và củng cố quốc phòng an ninh. Coi trọng
cả ba mặt: quy mô, chất lượng và hiệu quả. Thực hiện giáo dục kết hợp với
lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học, lý luận gắn với những tiến bộ
KH&CN, học đi đôi với hành, gắn liền nhà trường- gia đình- xã hội.
Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục. Tạo điều kiện để ai cũng
được học hành. Người nghèo được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để học
tập. Bảo đảm điều kiện cho những người học giỏi phát triển tài năng.

các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá”. Đối với GDPT, Nghị quyết nhấn
mạnh: XHH giáo dục gắn liền với cộng đồng trách nhiệm của tất cả các lực
lượng xã hội, thông qua tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế- xã hội lành
mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục. Ở mỗi địa phương phải quy
trách nhiệm về Đảng bộ, HĐND, UBND, các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể
quần chúng, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp tại địa phương và mỗi cá

21


Trích đoạn Ưu điểm và nguyên nhân Hạn chế và nguyên nhân Kinh nghiệm chủ yếu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status