đảng bộ tỉnh thanh hóa lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm 1996 đến năm 2010 - Pdf 22

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
Lấ THỊ YẾN
ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HểA LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 602256
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. NGUYỄN TRỌNG PHÚC
HÀ NỘI - 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của
PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc.
Các số liệu trong luận văn là trung thực, chính
xác, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có
nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Tác giả luận văn
LÊ THỊ YẾN
MỤC LỤC
HÀ NỘI - 2012 1
LỜI CAM ĐOAN 2
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học
của PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc 2
Các số liệu trong luận văn là trung thực, chính xác, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có
nguồn gốc xuất xứ rõ ràng 2
Hà Nội, ngày tháng năm 2012 2
Tác giả luận văn 2
LÊ THỊ YẾN 2
MỞ ĐẦU 4
1. Lí do chọn đề tài 4

Nam cũng đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh
tế tri thức. Thực tế trên, đòi hỏi phải có một sự đổi mới thực sự trong tư duy
về giáo dục nhằm đào taọ ra một thế hệ công dân đáp ứng những yêu cầu của
đất nước và thời đại mới.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm xác định: Giáo dục là quốc sách hàng
đầu và là động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu.Tại Hội nghị lần
4
thứ hai Ban Chấp hành Trung ương VIII (1996), Đảng đã đưa ra định hướng
Chiến lược phát triển giáo dục đào tạo nói chung và GDPT nói riêng trong
thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Thực sự coi giáo dục là
quốc sách hàng đầu. Đến Đại hội IX (2001), Đại hội X (2006), Đảng tiếp tục
nhấn mạnh: Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; thực hiện đổi mới
chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra
theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Đại hội XI của
Đảng (1/2011), tiếp tục hoàn thiện: Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo
dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa
và hội nhập quốc tế”.
Thanh Hóa là mảnh đất giàu truyền thống hiếu học và chăm lo đào tạo
con người. Trên cơ sở nhận thức đúng đắn về đường lối đổi mới, đẩy mạnh
phát triển GDPT thời kì CNH, HĐH đất nước, Đảng bộ tỉnh Thanh Húa đó
kịp thời đề ra những chủ trương, chính sách nhằm hiện thực húa cỏc chủ
trương của Đảng. Nhờ vậy, trong những năm qua GDPT ở Thanh Húa đó cú
những bước phát triển đáng kể, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế
- xã hội của địa phương. Tuy nhiên, GDPT ở Thanh Hóa còn tồn tại không ít
khó khăn, yếu kém. Đẩy mạnh công cuộc đổi mới GDPT ở Thanh Hóa càng có ý
nghĩa chiến lược khi:
Thanh Hóa là một tỉnh lớn với đủ các loại địa hình: miền núi, đồng
bằng, ven biển, dân số đông, nhiều dân tộc, trình độ dân trí không đều. Tỉnh
có đường Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh chạy qua và vì thế tỉnh có vai
trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành khu vực kinh tế miền Trung và

được Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản 1999. Một lần nữa vai trò của
giáo dục và đào tạo được tiếp tục khẳng định và để sự nghiệp giáo dục phát
6
triển mạnh mẽ cần có sự nhận thức đúng đắn, sâu sắc của toàn Đảng, toàn dân
và có được những chính sách hữu hiệu nhất.
Bài viết "Phát triển mạnh mẽ giáo dục - đào tạo phục vụ đắc lực sự
nghiệp công nghiệp hóa đất nước" của đồng chí Đỗ Mười - đăng trên tạp chí
nghiên cứu giáo dục (tháng 1/1996) cũng đã khẳng định: muốn đưa sự nghiệp
công nghiệp hóa đất nước nhanh chóng đến thắng lợi thì dứt khoát phải phát
triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Bài phát biểu với Bộ Giáo dục và đào tạo về "chuẩn bị nguồn lực con
người" của Đồng chí Lê Khả Phiêu. Nội dung bài viết khẳng định: Sẽ không thể
xây dựng được một đất nước văn minh giàu mạnh nếu mọi người dân không
được trang bị về trình độ văn hóa và khoa học kỹ thuật tiên tiến, Tất cả các bài
viết đó đều thể hiện được vai trò vô cùng quan trọng và cần thiết của việc đẩy
mạnh sự nghiệp giáo dục và đào tạo; đồng thời cũng từ sự phát triển của giáo
dục đào tạo sẽ là động lực để thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Cuốn “Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam” của tác
giả Lê Văn Giạng do Nxb. Chính trị Quốc gia phát hành năm 2003, trong đó có
dành một phần nhỏ mô tả hoạt động nền giáo dục của nước Việt Nam thống nhất
và chủ nghĩa xã hội (từ năm 1975 đến năm 2000). Tuy nhiên tác giả cũng mới
chỉ trình bày một cách khái quát nhất có thể của nền giáo dục Việt Nam nói
chung, GDPT nói riêng giai đoạn này được đề cập đến một cách sơ sài.
Cuốn “Lịch sử giáo dục Việt Nam” do Bùi Minh Hiền biên soạn được
Nxb Đại học sư phạm phát hành năm 2004. Đây là giáo trình viết sơ lược về
lịch sử giáo dục Việt Nam, trong đó có dành hai chương viết về giáo dục Việt
Nam hai giai đoạn 1975 - 1986 và 1986 đến nay (năm 2004). Cuốn sách
không dành viết riêng về GDPT, nhưng qua việc trình bày những chính sách,
những tổng kết tình hình giáo dục Việt Nam nói chung, ta có thể chọn lọc ra
những phần liên quan đến GDPT.

giáo dục phổ trong thời kì kháng chiến chống Mỹ 1954 - 1975.
Nhìn một cách tổng quát các công trình trên giúp ích rất lớn cho việc
nghiên cứu và tìm hiểu về giáo dục và GDPT. Tuy nhiên, cho đến nay chưa
có công trình nào nghiên cứu về quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh
đạo phát triển GDPT trong những năm tiến hành đẩy mạnh CNH, HĐH. Vì
vậy tác giả tập trung nghiên cứu đề tài như đã xác định nhằm góp phần bổ
sung vào khoảng trống đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
- Nghiên cứu và làm sáng tỏ những chủ trương, chính sách và sự lãnh
đạo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về phát triển GDPT thời kì từ năm 1996 đến
năm 2010, làm nổi bật những thành công, hạn chế và rút ra những kinh
nghiệm để phục vụ cho quá trình tiếp tục phát triển sự nghiệp GDPT của tỉnh.
- Nhiệm vụ:
- Phõn tớch các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã
hội, những thuận lợi và khó khăn tác động đến việc thực hiện đường lối đổi
mới sự nghiệp GDPT ở tỉnh Thanh Hóa.
- Trình bày một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
vận dụng quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục đào
tạo, GDPT và đề ra các chủ trương, chính sách cũng như chỉ đạo thực hiện
phát triển GDPT trên địa bàn tỉnh từ năm 1996 đến năm 2010.
- Làm nổi bật những thành tựu cơ bản và những hạn chế trong quá trình
Đảng bộ Thanh Hóa lãnh đạo phát triển GDPT từ năm 1996 đến năm 2010.
- Rút ra những kinh nghiệm thực tiễn trong lãnh đạo phát triển GDPT ở địa
phương.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
9
- Đối tượng nghiên cứu là những chủ trương, chính sách phát triển
GDPT của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa từ năm 1996 đến năm 2010.
- Phạm vi ngiờn cứu:

(1996 – 2000)
1.1. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH THANH HểA VÀ TÌNH HÌNH
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TRƯỚC NĂM 1996
1.1.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội
Thanh Hoá là tỉnh nằm ở cực Bắc miền Trung, cách Thủ đô Hà Nội 150
km về phía Nam. Phía Bắc giáp với ba tỉnh Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình;
phía Nam giáp tỉnh Nghệ An; phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn - nước Cộng hoà
dân chủ nhân dân Lào với 192 km đường biên giới; phía Đông là Vịnh Bắc
Bộ. Địa hình của Thanh Hóa đa dạng, thấp dần từ Tây sang Đông, chia làm 3
vùng rõ rệt: vùng núi trung du, vùng đồng bằng và vùng ven biển.
Thanh Hoá nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động từ vùng
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế
Trung Bộ. Tỉnh nằm ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ, có hệ
thống giao thông thuận lợi như: đường sắt xuyên Việt, đường Hồ Chí Minh,
các quốc lộ 1A, 10, 45, 47, 217; có cảng biển nước sâu Nghi Sơn, có hệ thống
sông ngòi thuận tiện cho lưu thông Bắc Nam và đi quốc tế. Hiện tại, Thanh
Húa cú sân bay Sao Vàng và đang dự kiến mở thêm sân bay quốc tế sát biển
phục vụ cho Khu kinh tế Nghi Sơn và khách du lịch.
11
Thanh Hoá thuộc vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với 4 mùa rõ rệt.
Tài nguyên thiên nhiên của Thanh Hóa đa dạng, phong phú: là một
trong những tỉnh có tài nguyên rừng lớn với diện tích có rừng là 484.246
ha.Tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng có 296 mỏ và điểm khoáng
sản với 42 loại khác nhau. Sông suối Thanh Hoá chảy qua nhiều vùng địa
hình phức tạp, là tiềm năng lớn cho nhiều lĩnh vực nhất là cho phát triển thủy
điện. Nước ngầm ở Thanh Hoá cũng rất phong phú về trữ lượng và chủng loại
bởi vì có đầy đủ các loại đất đá trầm tích, mắc ma và phun trào. Tỉnh có 102
km bờ biển và vùng lãnh hải rộng 17.000 km2, với nhiều bãi cá, bói tụm cú
trữ lượng lớn.
Thanh Hóa là một tỉnh có nhiều tiềm năng du lịch. Ở đây có nhiều danh

năm 2005 đến 2010: tỉ trọng nông nghiệp đã giảm từ 32,3% xuống còn 21,5%; tỉ
trọng ngành công nghiệp - xây dựng đã tăng từ 34,6% lên 44,1%; tỉ trọng các
ngành dịch vụ tăng từ 33,1% lên 34,4%. Chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ từng
ngành kinh tế cũng có sự tiến bộ ngày càng phù hợp với tiềm năng kinh tế địa
phương. Nhưng nhìn chung Thanh Hóa vẫn là một tỉnh nghèo. Năm 2008, cả
nước có 62 huyện nghốo thỡ Thanh Hoỏ cú 7 huyện, bình quân thu nhập
GDP/người năm so với cả nước vẫn còn rất thấp (năm 2009 là: 720
USD/1.200 USD) [1, tr.10]
1.1.2. Truyền thống văn hóa - lịch sử
Trước thời Hán, Thanh Hoá thuộc quận Cửu Chân sau thuộc Giao Chỉ rồi
thành Ái Châu. Thời Lý, vùng đất này đổi thành phủ Thanh Hoá. Sau này, trải
qua các triều đại, cú lỳc Thanh Hoá được gọi là phủ, trấn, lộ, trại, thừa tuyên. Cái
tên Thanh Húa cú từ thời Lý cũng cú lỳc đổi thành Thanh Đụ, Tõy Đụ, Thanh
13
Hoa. Năm Thiệu Trị thứ nhất, chính thức đổi tên thành tỉnh Thanh Hoá và tồn tại
tới ngày nay.
Thanh Hoá là một vùng đất lịch sử lâu đời. Có lẽ hiếm có vùng đất nào
lại có đầy đủ những mốc nổi tiếng đánh dấu các giai đoạn lớn của lịch sử, từ
tối cổ đến ngày nay như Thanh Hóa. Di chỉ Núi Đọ phát hiện năm 1960 ở
huyện Thiệu Hoá, là cái mốc tối cổ, nơi tìm được dấu tích con người thuộc
thời đại sơ kỳ đá cũ đã khẳng định Thanh Hóa là nơi sinh sống của người
nguyên thuỷ. Di chỉ hang Con Moong phát hiện ở Thạch Thành, chứa đựng
các dấu vết khảo cổ học từ văn hoá Sơn Vi (hậu kỳ đá cũ) ở lớp dưới, trên đó
là các lớp văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn cho thấy con người đã tiếp tục sinh
sống ở đây suốt từ hậu kỳ đá cũ qua sơ kỳ và trung kỳ đá mới. Văn hoá khảo
cổ Đa Bút ở lưu vực sông Mã là một phát hiện quan trọng của giới khảo cổ
học, vì Đa Bút là sự phát triển nối tiếp của văn hoá Hòa Bình - Bắc Sơn trong
quá trình chinh phục đồng bằng ven biển Thanh Hoá thời đá mới, cách ngày
nay khoảng trên dưới 6000 năm. Văn hóa Hoa Lộc là văn hoá khảo cổ thuộc
sơ kỳ thời đại kim khí, phát hiện ở huyện Hậu Lộc, phân bố chủ yếu ở vùng

Nguyễn Ánh khi đánh bại Tây Sơn, khôi phục vương triều dòng họ Nguyễn
thì vẫn coi Thanh Hoá là đất tổ của mình.
Mảnh đất này cũng là quê hương của những danh nhân tiêu biểu như
Khương Công Phụ, Lê Văn Hưu, Lờ Thỏnh Tụng,
Khi Thực dân Pháp xâm lược nước ta (1858), nhân dân Thanh Húa đó
hưởng ứng phong trào Cần Vương làm lên khởi nghĩa Ba Đình. Tuy thất bại
và phải tiếp tục chịu ách đô hộ nhưng với tinh thần quật cường, người dân
Thanh Húa đó đứng lên dưới lá cờ vinh quang của Đảng, đấu tranh giành
chính quyền góp phần làm nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
15
Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhân dân địa
phương lại tiếp tục phát huy tinh thần yêu nước và truyền thống cách mạng.
Nhiều nơi ở Thanh Hóa trở thành căn cứ kháng chiến. Biết bao thế hệ người
dân xứ Thanh đã anh dũng ra chiến trường chiến đấu để bảo vệ đất nước. Tại
địa phương, nhân dân Thanh Hóa không kể già trẻ gái trai đã kiên cường
chiến đấu bảo vệ cây cầu Hàm Rồng - huyết mạch giao thông bảo đảm cho sự
chi viện của hậu phương miền Bắc tới tiền tuyến miền Nam. Ngày nay, người
dân Thanh Hóa tiếp tục hăng say xây dựng quê hương, phấn đấu đưa Thanh
Hóa trở thành tỉnh kiểu mẫu như Bác Hồ hằng mong đợi.
Tính đến nay, cả tỉnh có 1.535 di tích lịch sử, trong đó có 134 di tích
được xếp hạng quốc gia, 412 di tích đã xếp hạng cấp tỉnh với các di tích nổi
tiếng như Núi Đọ, Đông Sơn, khu di tích Bà Triệu, Lê Hoàn, thành Nhà Hồ,
Lam Kinh, Ba Đình, Hàm Rồng, Trong đó thành nhà Hồ đã được UNESCO
công nhận là Di sản văn hoá thế giới. Cùng với những danh lam, thắng cảnh
tự nhiên đây là những địa điểm thu hút khách du lịch.
Thanh Hóa nổi tiếng hiếu học từ xưa. Đây là quê hương của hàng ngàn
tiến sĩ, bảng nhãn, thám hoa. Suốt hai triều Lê, Nguyễn, Thanh Húa cú 1690
cử nhân, 3 Trạng nguyên, 7 Bảng nhãn, 6 Thám hoa, 7 nhất giáp chế khoa
[81,tr.12].
Từ rất sớm, một số địa phương ở Thanh Húa đó cú truyền thống dựng

dục nhỏ giọt, phát triển theo chiều nằm chứ không theo chiều đứng. Ước tính
trung bình 29.329 người dân mới có 1 trường. Thanh Hóa cũng phải chịu tiếp
nhận chính sách ấy một cách cụ thể nhất như tình hình chung cả nước. Nhưng
theo số liệu điều tra của bác sĩ Paul Chesneau năm 1983 ở một vài nơi thuộc
17
tỉnh Thanh Húa thỡ ụng cho rằng giáo dục như làng quê của tỉnh này là rất ít
ỏi và điển hình cho Trung kỳ [81, tr.2-3].
Từ đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống văn hóa nêu trên
có thể thấy: Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực đáp ứng sự phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh là rất cao. Sự phát triển kinh tế ngày càng cao cộng với thế
mạnh truyền thống hiếu học là một trong những điều kiện hết sức thuận lợi
trong việc thực hiện chính sách phát triển giáo dục của Đảng nhằm phát triển
kinh tế - xã hội ở địa phương. Tuy vậy, sự đa dạng về điều kiện tự nhiên dẫn
đến sự chênh lệch trình độ phát triển kinh tế của cỏc vựng miền, diện tích
rộng, dân số đông, nhu cầu đầu tư cho giáo dục cao trong khi ngân sách được
cấp không cao hơn các tỉnh khác. Vì vậy, đây cũng là một khó khăn không
nhỏ trong quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo thực hiện chính sách
phát triển GDPT.
1.1.3. Thực trạng giáo dục phổ thông ở Thanh Hóa trước 1996
Kể từ Cách mạng thỏng Tám 1945, nền giỏo dục và đào tạo Thanh Hóa
thực sự trở thành nền giáo dục do dõn, vỡ dõn. Tháng 9/1945, Thanh Hóa
thành lập Ty thanh tra tiểu học, thành lập Nha Bình dân học vụ. Các quận,
huyện, xã, thôn, đều lập Ban Bình dân học vụ. Đến cuối tháng 9/1945, các
trường tiểu học trong toàn tỉnh đã đi vào ổn định và phát lệnh chiêu sinh trở
lại để chuẩn bị cho năm học mới. Ngày 20/02/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh
lần đầu tiên vào thăm Thanh Hóa. Người đã thay mặt Chính phủ trao tặng
Thanh Hóa 10 vạn đồng để làm quỹ phát triển Bình dân học vụ [8, tr.623].
Nhờ sự quyết tâm, nỗ lực, giáo dục Thanh Húa đó cú những tiến bộ
đáng kể. Xã Vĩnh Khang - Vĩnh Lộc của tỉnh dẫn đầu phong trào thanh toán
nạn mù chữ toàn miền Bắc được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Lao

chắc hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng đạt hiệu quả thiết thực, mở rộng
19
quy mô hợp lí, thật sự gắn với các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội
và chỉ rõ: “Khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là động lực đưa đất
nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến trên thế giới”.
[31, tr.79] Chính vì vậy mục tiêu của giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri
thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ và sáng tạo, có đạo đức
cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.
Đối với GDPT, trong giai đoạn từ 1991 đến 1995 cần phải: “Tập trung
thực hiện chương trình phổ cập giáo dục cấp I và chống mù chữ, phát triển
cấp II và cấp III phù hợp với yêu cầu và điều kiện của nền kinh tế. Củng cố và
phát triển trường phổ thông cho trẻ khuyết tật” [31, tr.79].
Công tác đào tạo cho giáo dục miền núi cũng được Đại hội chú trọng:
Tăng cường đầu tư giáo dục miền núi và vùng dân tộc thiểu số, mở rộng các
trường dân tộc nội trú, quy hoạch đào tạo cán bộ và tri thức người dân tộc.
Quán triệt quan điểm trên, Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung
ương Khóa VII (1993) đã ban hành Nghị quyết 04 - NQ/HNTW về: “Tiếp
tục đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo”.Nghị quyết đã nêu lên những
thành tựu hết sức cơ bản, đồng thời chỉ rõ những yếu kém của hệ thống
giáo dục. Từ đó, bổ sung những quan điểm của Đại hội VII về giáo dục đào
tạo bao gồm cả GDPT:
Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách
hàng đầu. Đó là một động lực thúc đẩy và là một điều kiện cơ bản bảo đảm
việc thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước.
Phải coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát
triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực sự phát triển kinh
tế - xã hội. Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân
dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước.

Tỉnh ủy và Sở giáo dục đã ban hành nhiều Nghị quyết và Chỉ thị về
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp
hành Trung ương khóa VII, tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tạo với
nội dung: Tiếp tục đổi mới cơ cấu và hệ thống giáo dục. Từng bước tách cấp I
ra khỏi phổ thông cơ sở, hình thành các trường tiểu học, trung học cơ sở và
phải được tiến hành vững chắc, phù hợp với điều kiện, tình hình của từng địa
bàn; đưa các lớp cấp I về tận bản làng, tạo điều kiện gắn với cộng đồng, liên
thông với mẫu giáo 5 tuổi. Phát triển các lớp ghép miền núi, vùng thưa dân,
lớp linh hoạt ở vùng ven biển đông dân và nhiều trẻ em bỏ học.
Ở trung học, tách cấp II thành lập trường trung học cơ sở khi có đủ số
lớp tối thiểu và các điều kiện cơ sở vật chất hoặc mở trường cấp II liên xã nếu
thuận lợi về địa lí hoặc mở trường cấp II - III ở những nơi có trường cấp III
nhưng quy mô nhỏ. Các mô hình này chỉ có tớnh chất tình thế, tạo thuận lợi
cho con em nhân dân đến trường học tập chuẩn bị cho bước phát triển mới.
Bắt đầu cho thí điểm thành lập các trường ngoài công lập.
Tăng cường hợp tác, mở rộng quan hệ với các tỉnh, thành phố trong cả
nước và các tổ chức quốc tế để tập trung mọi nguồn lực cho giáo dục.
Thực hiện xã hội hóa giáo dục, tạo điều kiện cho đông đảo nhân dân
trong tỉnh được tiếp nhận giáo dục cũng như được đóng góp vật chất, tài
chính cho giáo dục và đào tạo.
Mặc dù, Thanh Hóa là tỉnh có kinh tế còn kém phát triển, lại luôn bị
thiên nhiên gây thiệt hại lớn nhưng do nhận thức được tầm quan trọng của
giáo dục nên sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng bộ, ngành giáo
dục và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã phấn đấu đưa sự nghiệp giáo dục -
đào tạo của tỉnh đạt những thành tựu quan trọng, quy mô giáo dục tăng nhanh.
Riêng GDPT có những bước chuyển đáng ghi nhận.
Các huyện đã tiến hành tách cấp I ra khỏi phổ thông cơ sở và thành lập
trường tiểu học, THCS. Ở trung học tách cấp II thành lập trường THCS và đã
22
mở thêm nhiều trường cấp II liên xã. Quá trình này được tiến hành vững chắc.

1995-1996 54923 22982 43220 100268
Nguồn: Sở giáo dục và đào tạo Thanh Hóa
Việc xây dựng và phát triển giáo dục miền núi đã được tiến hành theo
phương châm phù hợp với điều kiện, tình hình từng địa bàn. Hệ thống các
trường phổ thông phát triển đều khắp. Mỗi huyện đó cú trường Dân tộc nội
trú ở bậc THCS và ở tỉnh cũng đó cú một trường Dân tộc nội trú ở bậc PTTH.
Tất cả các dân tộc đều có học sinh nội trú. Sau khi tốt nghiệp PTTH, phần lớn
các em lại được tuyển vào các trường đại học dự bị để đi học cao đẳng, đại
học và trung học chuyên nghiệp.
Bên cạnh việc mở rộng quy mô, GDPT Thanh Húa đó cú sự phấn đấu
nhằm phát triển nội dung và chất lượng dạy, chất lượng học theo xu hướng
ngày càng hiện đại.
Ở bậc tiểu học đã ngăn chặn được tình trạng bỏ học, số lượng học sinh
các cấp học hàng năm đều tăng. Bên cạnh đó giáo dục tiểu học cũng có sự
tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện nội dung giáo dục toàn diện, giảng dạy đủ
các môn học. Học sinh giỏi phải thi cả hai mụn: Toỏn và Tiếng Việt. Nhiều
trường đã tổ chức được lớp học bán trú cho các em học sinh.
Nhiệm vụ phổ cập giáo dục và chống mù chữ đã đạt được kế hoạch đề ra.
Đối với công tác này, các trường tiểu học phải xây dựng được một nền tiểu học
phát triển mà mấu chốt là phải huy động được 100% trẻ em đến trường đúng độ
tuổi, đảm bảo chất lượng, khắc phục bỏ học và lưu ban nhiều. Tỉnh đã quán triệt
đến tận cơ sở, trước hết là các cấp chính quyền về nội dung, biện pháp phổ cập
giáo dục, trong đó quan trọng là phải xây dựng vững mạnh các trường tiểu học.
Vì vậy mà số lượng và chất lượng phổ cập tiểu học đều thay đổi nhanh chóng.
Năm 1990 mới có 267/626 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về phổ cập
giáo dục tiểu học và chống mù chữ. Đến cuối 1995 con số này đã tăng lên
456/630. Cũng trong năm này, Thanh Húa cú 18/23 huyện, thị xã, thành phố đạt
chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ .
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status