ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------
NGUYỄN THỊ DIỆU HIỀN
ĐẢNG BỘ HUYỆN QUẢNG XƯƠNG (THANH HÓA)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------
NGUYỄN THỊ DIỆU HIỀN
ĐẢNG BỘ HUYỆN QUẢNG XƯƠNG (THANH HÓA)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60220315
11
6. Đóng góp dự kiến của đề tài…………………………………………….
12
7. Kết cấu của luận văn…………………………………………………….
12
Chương 1. CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO
13
DỤC PHỔ THÔNG CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN QUẢNG XƯƠNG
(THANH HÓA) TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000……………………...
1.1. Các yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ huyện Quảng
13
Xương đối với giáo dục phổ thông (1996-2000)
1.1.1. Các yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Quảng
Xương...........................................................................................................
13
1.1.2. Chủ trương phát triển giáo dục phổ thông của Đảng bộ huyện
23
36
Chương 2. ĐẢNG BỘ HUYỆN QUẢNG XƯƠNG (THANH HÓA)
38
LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010…………………………………………
2.1. Chủ trương của Đảng bộ huyện Quảng Xương về phát triển giáo
38
dục phổ thông trong 10 năm (2001 - 2010)……………………………...
2.1.1. Các yếu tố mới tác động đến chủ trương của Đảng bộ huyện Quảng
38
Xương về GDPT…………………………………………………………...
2.1.2. Chủ trương mới về GDPT của Đảng bộ huyện Quảng Xương
43
(2001-2010)………………………………………………………………..
2.2. Quá trình chỉ đạo phát triển GDPT của Đảng bộ huyện Quảng
46
Xương (2001 - 2010)……………………………………………………...
2.2.1. Tiếp tục mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục………..
73
3.1.1. Về ưu điểm………………………………………………………….
73
3.1.2. Về hạn chế…………………………………………………………..
79
3.2. Một số kinh nghiệm……………………………………………......
83
3.2.1. Cần bám sát vào đặc điểm của từng xã trong huyện Quảng Xương
83
để có giải pháp phù hợp, đạt hiệu quả cao trong phát triển GDPT
3.2.2. Cần có các chính sách thu hút, ưu đãi, khuyến khích hơn nữa đối
84
với học sinh và cán bộ giáo viên phổ thông trong huyện Quảng Xương để
nâng cao tính cạnh tranh đối với Thành phố và các huyện khác trong tỉnh
Thanh Hóa
3.2.3. Cần phát huy hơn nữa truyền thống hiếu học của nhân dân huyện
87
Nguyễn Thị Diệu Hiền
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Phạm Thị Lương Diệu, cô
giáo hướng dẫn, người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
thực hiện và hoàn thành luận văn của mình.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Sở Giáo dục và đào tạo Thanh Hóa, Huyện
ủy, Ủy ban nhân dân huyện Quảng Xương, Phòng Giáo dục huyện Quảng
Xương, Hội Khuyến học Quảng Xương…đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong
quá trình tìm tài liệu và hoàn thiện luận văn.
Tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, đồng nghiệp, bạn bè
đã quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
.
1.
CBGV
: Cán bộ giáo viên
2.
CBQL
: Giáo dục phổ thông
8.
HS
9.
THPT
: Học sinh
: Trung học phổ thông
10.
THCS
: Trung học cơ sở
11.
TH
: Tiểu học
12. XHH
: Xã hội hóa
2010
4
2.2. Số liệu học sinh phổ thông huyện Quảng Xương từ
năm học 2000- 2001 đến năm học 2009- 2010
5
49
2.3. Thống kế kết quả thi học sinh giỏi cấp tỉnh các môn
văn hóa khối THPT huyện Quảng Xương từ năm 2000 đến
năm 2010
54
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN QUẢNG XƯƠNG (THANH HÓA)
Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wik/quangxuong
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo là một lĩnh vực mà bất cứ quốc gia, dân tộc nào
muốn phát triển đều phải quan tâm. Phát triển giáo dục đào tạo được xem là
quốc sách hàng đầu, là yêu cầu khách quan đối với sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Đặc biệt, trong thời đại cách mạng khoa
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội IV năm 1976 của Đảng đã khẳng định:
"Giáo dục phổ thông là nền tảng văn hóa của một nước, là sức mạnh tương lai
của một dân tộc, nó đặt những cơ sở ban đầu rất trọng yếu cho sự phát triển
toàn diện con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa". Tuy nhiên, trước những đòi
hỏi của thời đại mới, nền giáo dục phổ thông nước ta vẫn còn nhiều hạn chế,
bất cập như: chương trình chưa phù hợp, nặng về kiến thức, ít thực hành, chất
lượng đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất thiếu thốn…Do đó, sự nghiệp giáo
dục phổ thông chưa đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao cho
sự phát triển của đất nước.
Huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa là một huyện đồng bằng với
nhiều tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội. Đây cũng là vùng đất có truyền
thống hiếu học từ lâu đời, là một trong những lá cờ đầu của phong trào giáo
dục tỉnh Thanh Hóa. Thực hiện các chủ trương của Ủy ban nhân dân tỉnh, trực
tiếp là Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa, Đảng bộ huyện Quảng Xương đã
có nhiều biện pháp chỉ đạo đồng bộ và hiệu quả để phát triển giáo dục trong
thời kì mới. Mặc dù vậy, trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới
đất nước, sự nghiệp giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục phổ thông nói
riêng của huyện vẫn đòi hỏi những thay đổi lớn hơn nữa. Sự phát triển của
kinh tế - xã hội của huyện cần phải có một nguồn nhân lực có chất lượng tốt,
trong đó giáo dục phổ thông đóng vai trò quan trọng.
Vì vậy, nhận thức đúng đắn đường lối giáo dục đào tạo của Đảng và
vận dụng phù hợp với điều kiện địa phương là vấn đề cần quan tâm của Đảng
bộ huyện Quảng Xương. Từ đó, việc tìm hiểu quá trình lãnh đạo phát triển
2
giáo dục phổ thông của Đảng bộ huyện Quảng Xương từ năm 1996 đến năm
2010 để đánh giá đúng những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và rút ra
những bài học kinh nghiệm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Nguyễn Ái Quốc trong đấu tranh chống nền giáo dục thực dân. Tìm hiểu nền
giáo dục phổ thông trong những năm đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa (1945-1946) bao gồm: chủ trương mới về giáo dục của Hồ Chí
Minh và cải tổ, xây dựng bước đầu hệ thống giáo dục phổ thông mới. Trình
bày quá trình giáo dục phổ thông đồng hành với kháng chiến thông qua: chủ
trường giáo dục phổ thông phục vụ kháng chiến, kiến quốc; sự phát triển của
giáo dục phổ thông những năm 1946-1950. Trên cơ sở chủ trương cải cách
giáo dục, củng cố và phát triển giáo dục phổ thông phục vụ kháng chiến đã
phản ánh được giáo dục phổ thông theo tinh thần cải cách giáo dục (19501954). Qua đó rút ra một số nhận xét và bài học kinh nghiệm để góp phần
phục vụ công cuộc xây dựng nền giáo dục hiện nay.
Tác giả Lê Xuân Trường với "Một số biện pháp sử dụng nguồn lực tài
chính nhằm phát triển giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay", luận án
Tiến sĩ Giáo dục học, Viện Chiến lược và chương trình giáo dục năm 2004.
Công trình đã nêu cơ sở lí luận của việc sử dụng hợp lí nguồn lực tài chính để
phát triển GDPT, phân tích thực trạng việc sử dụng nguồn lực tài chính cho
GDPT ở Việt Nam thời gian qua và xu thế trong thời gian tới.
Tác giả Vương Thanh Hương với "Một số biện pháp nâng cao hiệu quả
hoạt động của hệ thống thông tin quản lí GDPT", luận án Tiến sĩ Giáo dục
học, Viện Chiến lược và chương trình giáo dục năm 2004. Công trình đã nêu
cơ sở lí luận về nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin quản lí
giáo dục và thực trạng hoạt động của hệ thống thông tin quản lí giáo dục và
các biện pháp nâng cao hiệu quả của nó.
Một số công trình nghiên cứu về giáo dục giáo dục phổ thông như:
"Nhà trường phổ thông Việt Nam qua các thời kì lịch sử" của Viện Khoa học
giáo dục, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội năm 2001 đã khái quát bức tranh
phát triển của giáo dục phổ thông Việt Nam qua các thời kì. Tác giả Đặng Vũ
4
6
triển sự nghiệp giáo dục phổ thông thời kì 1975 - 1985", khóa luận tốt nghiệp
năm 2006 của Nguyễn Ngọc Diệp. "Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo phát
triển sự nghiệp giáo dục phổ thông năm 1975 đến 2006", khóa luận tốt nghiệp
năm 2007 của Trần Thị Mai Dung. "Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo hoạt
động giáo dục phổ thông từ năm 1996 đến năm 2005", khóa luận tốt nghiệp
năm 2007 của Võ Thị Tú Anh. "Đảng bộ huyện Nghĩa Hưng lãnh đạo hoạt
động giáo dục, đào tạo giai đoạn 1991 2001", khóa luận tốt nghiệp năm 2005
của Nguyễn Thị Hằng. "Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo phát triển
giáo dục phổ thông thời kì 1986 đến 2003", luận văn thạc sĩ năm 2005 của Vũ
Thị Kim Yến. "Đảng bộ Thái Bình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ
năm 1986 đến năm 2005", luận văn thạc sĩ năm 2007 của Nguyễn Thị Quế
Liên. "Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm
2000 đến năm 2010", luận văn thạc sĩ Lịch sử năm 2014 của Bùi Thị Thu
Hoài.
Các công trình nghiên cứu trên đã trình bày quá trình lãnh đạo giáo dục
phổ thông của Đảng bộ các địa phương qua các thời kì. Từ đó, đánh giá công
tác lãnh đọa của Đảng bộ và rút ra những kinh nghiệm cho giai đoạn tiếp
theo.
Nhóm thứ ba: Những công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến
GDPT ở Thanh Hóa và huyện Quảng Xương
Tác giả Lê Thị Yến với "Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát triển
giáo dục phổ thông từ năm 1996 đến năm 2010", luận văn Thạc sĩ, Trung tâm
đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị năm 2012. Luận văn đã phân
tích các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội, những
thuận lợi và khó khăn trong đường lối đổi mới sự nghiệp GDPT ở tỉnh Thanh
Hóa. Luận văn trình bày một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh
Những công trình trên đã góp phần nghiên cứu và tìm hiểu về giáo dục
và giáo dục phổ thông dưới nhiều góc độ khác nhau. Đồng thời, nghiên cứu
quá trình Đảng bộ các địa phương lãnh đạo phát triển giáo dục qua các thời và
8
những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo. Từ đó, tác giả luận văn có thể kế
thừa.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu nghiên cứu
một cách sâu sắc, toàn diện về quá trình Đảng bộ Huyện Quảng Xương
(Thanh Hóa) lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông trong thời kì đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì vậy, tác giả tập trung nghiên cứu
đề tài để hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo phát triển giáo dục phổ thông
của Đảng bộ huyện Quảng Xương (Thanh Hóa) từ năm 1996 đến năm 2010,
góp phần tổng kết quá trình lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông của Đảng
bộ Quảng Xương từ năm 1996 đến năm 2010. Từ đó, rút ra kinh nghiệm và
phương hướng vận dụng cho giai đoạn sau.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của luận văn: làm sáng tỏ những chủ trương,
chính sách và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Quảng Xương (Thanh Hóa) về
phát triển giáo dục phổ thông từ năm 2006 đến năm 2010. Từ đó, làm rõ
những ưu điểm, hạn chế cùng nguyên nhân của chúng; đồng thời, rút ra kinh
nghiệm lịch sử để tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ
thông của Đảng bộ huyện Quảng Xương.
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Làm rõ những điều kiện, cơ sở để hình thành đường lối phát triển
giáo dục phổ thông của Đảng bộ huyện Quảng Xương (Thanh Hóa).
+ Trình bày chủ trương, đường lối, quan điểm phát triển GDPT của
Đảng Cộng sản Việt Nam, của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa và sự quán triệt, vận
Xương đã có 15 năm quát triệt quan điểm, chủ trương của Đảng về GDĐT
qua 2 kì đại hội Đại hội Đảng bộ huyện khóa XXII (2001 - 2005) và khóa
XXIII (2005 - 2010) để tổng kết, đánh giá trên các lĩnh vực, trong đó có
GDPT.
+ Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Quảng Xương (Thanh
Hóa)
10
5. Cơ sở lí luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lí luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sỏ lý luận của chủ
nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về giáo dục đào tạo và GDPT.
- Nguồn tài liệu:
+ Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt
Nam và các nghị quyết của Trung ương Đảng về vấn đề giáo dục đào tạo và
giáo dục phổ thông (từ 1996 - 2000).
+ Các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa và Nghị quyết của
Đảng bộ huyện Quảng Xương về phát triển giáo dục phổ thông từ năm 1996
đến năm 2010.
+ Các Nghị quyết của Tỉnh ủy, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân tỉnh, các
báo cáo của Huyện ủy, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân huyện Quảng Xương về
phát triển giáo dục phổ thông.
+ Các công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí về giáo dục đào tạo và
các luận văn về phát triển giáo dục phổ thông…
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp
lịch sử, phương pháp logic và kết hợp cả hai phương pháp đó. Đồng thời, có
sử dụng các phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh…
6. Đóng góp dự kiến của luận văn
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000
1.1. Các yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ huyện Quảng
Xương đối với giáo dục phổ thông (1996-2000)
1.1.1. Các yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện
Quảng Xương
1.1.1.1. Điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội – văn hóa
của huyện Quảng Xương
Điều kiện tự nhiên: Quảng Xương là huyện đồng bằng ven biển về phía
Đông Nam của tỉnh Thanh Hoá, nằm trong toạ độ từ 19034' đến 19047' vĩ độ
Bắc và từ 105046' đến 105053' kinh độ Đông. Phía Bắc giáp thành phố Thanh
Hoá và huyện Hoằng Hoá, lấy sông Mã làm ranh giới. Phía Nam giáp huyện
Tĩnh Gia, Nông Cống, lấy sông Yên làm ranh giới. Phía Đông giáp biển Đông
và thị xã du lịch Sầm Sơn, phía Tây giáp huyện Đông Sơn.
Huyện Quảng Xương có đường quốc lộ 1A chạy theo hướng Bắc Nam từ cầu Quán Am (Quảng Thịnh) đến Cầu Ghép (Quảng Trung) dài 18
km thuận lợi cho việc lưu thông. Trên địa bàn huyện có 3 tuyến đường 4A,
4B, 4C chạy song song dọc bờ biển. Ngoài ra còn có quốc lộ 47 từ thanh phố
Thanh Hoá đi Sầm Sơn ở phía Bắc và quốc lộ 48 từ ngã ba Voi đi Nông
Cống.
Đặc biệt, Quảng Xương giáp thị xã du lịch Sầm Sơn và Vịnh Bắc Bộ,
chiều dài đường bờ biển là 18,2 km, gần cửa Lạch Hới phía Bắc và cửa Lạch
Ghép phía Nam là các cửa lạch lớn thông ra biển Đông, tạo thế mạnh cho
nghề đánh bắt hải sản ngoài khơi và phát triển du lịch biển. Phía Bắc giáp khu
công nghiệp Lễ Môn của thành phố Thanh Hoá và phía Nam gần khu công
13
nghiệp động lực Tĩnh Gia – Nghi Sơn có tác động lớn đến sự phát triển kinh
tế - xã hội của huyện.
Quảng Nham, Quảng Thái ngư dân chỉ đi biển khi trời lặng, những ngày biển
động lại làm nông nghiệp.
Với lợi thế về vị trí địa lý đã tạo thuận lợi cho việc tiếp thu tiến bộ khoa
học - kĩ thuật để phát triển kinh tế: “Cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch
đúng hướng: Tăng tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng, giảm tỷ trọng
nông nghiệp. Tổng GDP năm 2000 của huyện đạt 628,4 tỷ đồng, bằng 8,1%
GDP toàn tỉnh; năm 2005 đạt 943,5 tỷ đồng, bằng 7,9% GDP toàn tỉnh. Thu
nhập bình quân theo đầu người ngày càng tăng, năm 2000 đạt 2,79 triệu đồng,
năm 2005 đạt 4,73 triệu đồng” [31, 10].
Truyền thống lịch sử, văn hóa: Quảng Xương là một huyện có bề dày
truyền thống cách mạng. Sau thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945, mặt
trận Việt Minh cùng Ủy ban cách mạng lâm thời huyện Quảng Xương tiến
hành xóa bỏ chính quyền thực dân phong kiến, thành lập chính quyền cách
mạng, nhanh chóng ổn định tình hình và xây dựng đời sống mới. Hòa mình
trong làn sóng cách mạng của dân tộc, Quảng Xương đã góp phần cùng nhân
dân cả nước làm nên Cách mạng tháng Tám thần kì. Với 9 năm của cuộc
kháng chiến chống Pháp, thành quả độc lập dân tộc, dân chủ được Đảng bộ và
nhân dân Quảng Xương bảo vệ, phát huy.
Quảng Xương có nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh, di tích
kiến trúc nghệ thuật, phong tục tập quán tốt đẹp được lưu giữ qua các lễ hội
truyền thống, các gia phả của gia đình, dòng họ và được thể hiện rõ nét trong
các hương ước, quy ước xây dựng làng xã.
Truyền thống hiếu học: Là một huyện nghèo, còn lưu lại câu ca: “nhất
Xương nhì Gia" nên ngành giáo dục Quảng Xương từ xưa tới nay cũng bị ảnh
hưởng nghiêm trọng. Tuy nhiên, suốt 1000 năm của chế độ thi cử phong kiến
(1075- 1919) huyện Quảng Xương cũng có 10 người đỗ đại khoa, trong đó có
một Trạng nguyên, 1 Bảng nhãn và 8 Tiến sĩ. Thời xưa ở Quảng Xương còn
truyền các câu ca “ Phật giáng hạ Yên Đông, Trạng nguyên sinh ở Bất Quần”.
15