Đảng Bộ Huyện Quảng Xương (Thanh Hóa)
lãnh đạo, tổ chức xây dựng đời sống văn hóa
cơ sở từ năm 1991 đến năm 2010
Bùi Thị Thu
Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Luận văn Thạc sĩ ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; Mã số: 60 22 56
Người hướng dẫn: PGS. TS. Trần Kim Bình
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, truyền thống lịch sử - văn hóa,
kinh tế xã hội của huyện Quảng Xương, phác họa diện mạo các mặt của đời sống văn
hóa ở Quảng Xương trước năm 1991. Nghiên cứu quá trình lãnh đạo xây dựng làng
văn hóa của Đảng bộ huyện Quảng Xương trong 20 năm đổi mới (1991-2010). Tổng
kết thực trạng, những thành tựu và hạn chế khó khăn trong quá trình xây dựng, từ đó
đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, tổ chức xây
dựng các mặt của đời sống văn hóa cơ sở trong thời gian tới.
Keywords: Lịch sử Đảng; Đường lối lãnh đạo; Đảng bộ huyện; Đời sống văn hóa;
Quảng Xương; Giai đoạn 1991-2010
Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc, hội nhập với các nền văn hóa thế giới, việc đổi mới nâng cao chất lượng đời
sống văn hóa ở cơ sở được Nhà nước ta hết sức quan tâm - Đây là vấn đề mang tính chiến
lược của sự nghiệp văn hóa cả nước nói chung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng.
Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà
sáng tạo và hưởng thụ.
Huyện Quảng Xương (tỉnh Thanh Hóa) là một huyện đồng bằng ven biển, được xem là
“vệ tinh” của toàn tỉnh, do đó mọi hoạt động kinh tế - xã hội, văn hóa của huyện có tác động
rất lớn đến các vùng lân cận. Là huyện có bề dày truyền thống cách mạng, nhiều phong tục
tập quán tốt đẹp được lưu giữ thông qua lễ hội truyền thống, các gia phả dòng họ, gia đình.
Đặc biệt được thể hiện trong quy ước, hương ước của làng, xã văn hóa. Thấm nhuần Nghị
quyết đại toàn quốc của Đảng khóa VII, khóa VIII, thực hiện chủ trương của UBND tỉnh
Thanh Hóa, trực tiếp là Sở Văn hóa - Thông tin, huyện ủy, UBND huyện Quảng Xương đã
tiến hành công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở nhằm tạo ra môi trường văn hóa lành
mạnh, đời sống kinh tế phát triển, trật tự an ninh quốc phòng được đảm bảo. Quảng Xương là
một trong những huyện đi đầu trong việc xây dựng làng văn hóa của tỉnh Thanh Hóa.
Từ năm 1991 đến nay, công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở của huyện Quảng
Xương đã có những thành tích to lớn, góp phần tích cực vào việc hoàn thành thắng lợi các
mục tiêu chính trị, kinh tế- xã hội của huyện nhà. Với những thành tựu đạt được, ngành Văn
hóa thông tin huyện Quảng Xương luôn là một trong những đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua
toàn tỉnh.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, những đóng góp của công tác xây dựng đời sống văn
hóa đối với đời sống kinh tế xã hội, công tác xây dựng đời sống văn hóa còn bộc lộ một số
khó khăn, đặc biệt là việc nâng cao chất lượng hoạt động của các phong trào văn hóa trong
thời kỳ đổi mới.
Vì vậy, việc tìm hiểu “Đảng bộ huyện Quảng Xương (tỉnh Thanh Hóa) lãnh đạo xây dựng
đời sống văn hóa cơ sở từ năm 1991 đến năm 2010” có ý nghĩa về mặt khoa học, thực tiễn và
giáo dục.
3
Xuất phát từ lý do trên tôi đã chọn đề tài “Đảng bộ huyện Quảng Xương (Thanh Hóa)
lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa cơ sở từ năm 1991 đến năm 2010” làm luận văn thạc sĩ
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Văn hoá và công tác xây dựng nền văn hoá là một vấn đề được nhiều tác giả, cơ quan của
vấn đề này. Những năm 90 trở lại đây, có các công trình nghiên cứu về làng văn hóa Thanh
Hóa được công bố rộng rãi như: Văn hóa làng và làng văn hóa Xứ Thanh (1995); Những làng
văn hóa tiêu biểu tỉnh Thanh (1998); Xây dựng làng văn hóa Thanh Hóa (2003) do Sở Văn
hóa Thông tin Thanh Hóa xuất bản, đã giới thiệu khái quát về truyền thống văn hóa tiêu biểu
ở một số làng điển hình ở Thanh Hóa. Luận văn Thạc sĩ khoa học lịch sử của Bùi Thị Oanh
với nội dung “Cuộc vận động xây dựng làng văn hóa ở huyện Nga Sơn, Tỉnh Thanh Hóa”
(2006).
4
Những công trình nghiên cứu trên bước đầu đưa ra những kết quả, giải pháp trong việc
xây dựng môi trường văn hoá ở cơ sở (làng văn hoá). Tuy nhiên cho đến nay có rất ít công
trình nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện về sự lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa của
Đảng bộ cơ sở, cũng như đánh giá vai trò của đời sống văn hóa ở cơ sở đối với sự phát triển
của kinh tế, chính trị ở địa phương. Đây cũng là một trong những lý do tôi chọn vấn đề này
làm nội dung nghiên cứu về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở cho luận văn của mình.
Tuy nhiên, các công trình trên là những tài liệu quý mà tôi có thể tham khảo để thực hiện
luận văn.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khái quát những vấn đề tư duy lý luận về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở,
luận văn làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Quảng Xương lãnh đạo trong xây dựng đời sống
văn hóa của huyện và những tác động của nó đối với đời sống kinh tế - xã hội của huyện.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, truyền thống lịch sử- văn hóa, kinh tế - xã
hội của huyện Quảng Xương; phác họa diện mạo các mặt của đời sống văn hóa ở Quảng
Xương trước năm 1991.
- Phác họa quá trình lành đạo xây dựng làng văn hóa của Đảng bộ huyên Quảng Xương
trong 20 năm đổi mới (1991-2010).
- Tổng kết thực trạng, những thành tựu và hạn chế khó khăn trong quá trình xây dựng. Từ
đó đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, tổ chức xây dựng
Từ thực tiễn nghiên cứu, nêu lên những điểm nổi bật, những điểm mạnh, những hạn chế,
những khó khăn trong quá trình đảng bộ huyện lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.
Trên cơ sở đó, đưa ra một số nhận xét và bài học kinh nghiệm, mong góp phần nào việc nâng
cao chất lượng hoạt động của các phong trào văn hóa, hoàn thiện những bước đi trong quá
trình xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.
Luận văn cung cấp thêm tư liệu phục vụ cho công tác tuyên truyền vận động xây dựng
nếp sống mới văn hóa ở cơ sở địa phương, cho việc nghiên cứu giảng dạy, học tập lịch sử địa
phương.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo. Luận văn gồm 3 chương, 7 tiết:
Chƣơng 1: Đảng bộ huyện Quảng Xương lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở từ
năm 1991 đến năm 2000.
Chƣơng 2: Đảng bộ huyện Quảng Xương lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở từ
năm 2001 đến năm 2010.
Chƣơng 3: Thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm.
6
Chƣơng 1
ĐẢNG BỘ HUYỆN QUẢNG XƢƠNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2000
1.1. Cơ sở của việc xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn huyện Quảng Xƣơng
1.1.1. Khái niệm văn hóa và đời sống văn hóa
1.1.1.1. Khái niệm văn hóa
* Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về văn hóa
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
1.1.1.2. Quan niệm về đời sống văn hóa
* Khái niệm
* Vai trò của công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
* Các hoạt động của văn hóa ở cơ sở
7
1.1.3.2. Hạn chế
1.2. Chủ trƣơng và quá trình lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa của đảng bộ huyện
Quảng Xƣơng từ năm 1991 đến năm 2000
1.2.1. Quan điểm của Đảng về vấn đề xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở nước ta giai
đoạn 1991 - 2000
Công tác tổ chức, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là một trong những chủ trương lớn,
được Đảng và Nhà nước ta đặt ra từ rất sớm. Ngay từ năm 1943 Đảng đã có “Đề cương văn
hóa” do đồng chí Trường Chinh soạn thảo, nhằm khẳng định văn hóa là một trong ba mật trận
(kinh tế, chính trị, văn hóa) và định hướng cho hoạt động văn hóa ở nước ta theo tinh thần
“Dân tộc, khoa học, đại chúng”. “Đề cương văn hóa” được đánh giá như một bản tuyên ngôn,
cương lĩnh về văn hóa của Đảng, là phương hướng chỉ đạo mọi hoạt động văn hóa của cả
nước trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và tiến hành xây dựng CNXH ở miền Bắc.
Chỉ thị số 27/CT-TW ngày 12-1-1998, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc vận động sâu
rộng trong toàn Đảng, toàn dân đẩy mạnh xây dựng nếp sống văn minh - gia đình văn hoá,
trong đó có việc thiết lập nếp sống lành mạnh trong việc cưới, việc tang, lễ hội theo những
định hướng:
“Bảo tồn có chọn lọc, cải tiến, đổi mới những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc;
loại bỏ dần trong cuộc sống những hình thức lỗi thời, lạc hậu; nghiên cứu xây dựng và hình
thành dần những hình thức vừa văn minh, vừa giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
trong việc cưới, việc tang, lễ hội.
- Lành mạnh, tiết kiệm, tránh xa hoa lãng phí, phiền nhiễu.
- Chống khuynh hướng kinh doanh, vụ lợi.
- Xoá bỏ hủ tục, bài trừ mê tín dị đoan” [71, tr.11].
Để thực hiện chủ trương trên, cần làm tốt một số công việc sau đây:
1. Cấp uỷ đảng và chính quyền các cấp phải thực sự quan tâm, có kế hoạch cụ thể chỉ đạo
xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, coi đó là một trong những
nhiệm vụ quan trọng của địa phương ngay trong dịp tết và Xuân Mậu Dần này.
2. Phát động phong trào quần chúng rộng rãi, nêu cao vai trò làm chủ, ý thức tự giác của
nhân dân, xây dựng và thực hiện các tiêu chuẩn về nếp sống văn minh - gia đình văn hoá.
bàn huyện Quảng Xương nhân dân vẫn còn mang nặng tư tưởng ỷ lại, chậm tiến của thời kỳ
bao cấp, những tác động của nền kinh tế thị trường cùng với mặt trái của nó đã làm xói mòn
quan hệ thân tộc, láng giềng, làm thay đổi mục tiêu, lý tưởng của một bộ phận thanh niên, ảnh
hưởng không nhỏ đến truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo… Thực tế này đã dẫn đến sự sa
sút về đạo đức, ảnh hưởng tới trật tự xã hội, làm mất đi những nét đẹp truyền thống của làng
xã. Trong khi đó, yêu cầu đặt ra của thời kỳ đổi mới đất nước nói chung và huyện Quảng
Xương nói riêng đòi hỏi phải có những con người văn hóa, môi trường văn hóa, tạo động lực
để thực hiện thắng lợi những mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra. Trong bối cảnh đó, đòi hỏi Đảng
bộ, chính quyền huyện Quảng Xương phải thực sự bình đẳng và bản lĩnh cách mạng để lãnh
đạo huyện phát triển theo kịp sự phát triển chung của cả tỉnh Thanh Hóa.
Trong hoạt động văn hóa thông tin tuyên truyền, cổ động có nhiều tiến bộ rõ nét, góp
phần quan trọng đua đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân, hướng
dẫn tổ chức nhân dân tham gia các hoạt động về chính trị, kinh tế, xã hội; từ đó đã nêu được
những điển hình tiên tiến góp phần khởi sắc bộ mặt quê hương. Đến năm 1991, huyện đã tập
trung xây dựng được 15 đài truyền thanh xã, đầu tư nhiều cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự
nghiệp văn hóa - xã hội với số lượng vốn lên tới hàng trăm triệu đồng.
Về hoạt động phong trào văn nghệ quần chúng nhân dân, từ khi Nghị quyết 4 của
BCHTW Đảng khóa VII (1/1993) đề ra nhiệm vụ trung tâm của văn hóa, văn nghệ là góp
phần bồi dưỡng con người Việt Nam có trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, có nhân
cách cao đẹp, có bản lĩnh ngang tầm sự nghiệp đổi mới đất nước, mau chóng bắt kịp xu thế
phát triển của thời đại. Để góp phần vào việc đó, các hoạt động văn hóa, văn nghệ phải được
phát triển lành mạnh, phong phú, đa dạng cả về số lượng lẫn chất lượng.
Hoạt động giáo dục truyền thống và bảo vệ di tích lịch sử cũng được quan tâm. Là huyện
có nhiều đối tượng chính sách, do vậy việc thực hiện chính sách “Đền ơn đáp nghĩa người có
công với nước”, “phụng dưỡng ông bà, cha mẹ”, “Giúp đỡ những người cô đơn, tàn tật”, “Trả
lại nụ cười cho trẻ thơ bị tật nguyền”, “Ủng hộ nhân dân Cu Ba”… là nhiệm vụ lớn và được
Huyện ủy chỉ đạo các cấp, các ngành trong huyện thực hiện.
Hoạt động xây dựng gia đình văn hóa, làng, đơn vị văn hóa và nếp sống văn hóa. Trong
những năm 1991 -1995 phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa trong toàn huyện
kinh nghiệm tốt về phát triển văn hóa của các nước, giới thiệu các tác phẩm văn học, nghệ
thuật đặc sắc của nước ngoài với công chúng Việt Nam. Ngăn chặn, đẩy lùi, vô hiệu hóa sự
xâm nhập và tác hại của các sản phẩm đồi trụy, phản động từ nước ngoài vào nước ta; bồi
dưỡng và nâng cao sức đề kháng của công chúng nhất là thế hệ trẻ.
2.2. Đảng bộ huyện Quảng Xƣơng lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa từ năm 2001
đến năm 2010
Trong mười năm (2001-2010) của sự nghiệp đổi mới, đất nước có bước phát triển vượt
bậc trên tất cả các lĩnh vực, sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước được đẩy
mạnh. Hòa nhịp cùng sự phát triển của đất nước, tỉnh Thanh nói chung và huyện Quảng
Xương nói riêng cũng đạt được những thành tựu về kinh tế và văn hóa - xã hội: tốc độ kinh tế
bình quân hàng năm thời kỳ 2001 - 2005 là 11% cao hơn thời kỳ 1996 - 2000 là 3,04%, thu
nhập bình quân đầu người đạt 5.6000.000 đồng (350 USD). Đây là điều kiện tiền đề vật chất
cần thiết nâng cao hơn một bước về chất lượng và số lượng trong công tác xây dựng đời sống
văn hóa của huyện Quảng Xương.
Đại hội Đảng bộ huyện Quảng Xương khóa XXII (11/2000) - đại hội đầu tiên của thế kỷ
XXI, bên cạnh những hoạch định chiến lược trong giai đoạn 2001 -2005 về phát triển kinh tế -
xã hội, quốc phòng an ninh, Đảng bộ cũng chủ trương quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật
chất phục vụ các hoạt động văn hóa - thể thao, nâng cao sức khỏe của nhân dân, phấn đấu đến
11
năm 2005 có 13% đến 15% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao, đồng thời lựa chọn những
vận động viên đi bồi dưỡng, đào tạo làm hạt nhân cho phong trào thể thao ở cơ sở.
12
Chƣơng 3
THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
3.1. Những thành tựu đạt đƣợc và hạn chế
3.1.1. Thành tựu
3.1.1.1. Hoạt động thông tin tuyên truyền, cổ động
sống tinh thần của nhân dân cũng ngày càng được nâng lên.
Bốn là: Huyện Quảng Xương đã tranh thủ được sự ủng hộ của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các
ngành, các đoàn thể. Đồng thời đã động viên tích cực sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ
và nhân dân trong huyện.
3.1.3.2. Nguyên nhân của hạn chế
Một là: Nguyên nhân khách quan
13
Hai là: Nguyên nhân chủ quan
3.2. Bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa của Đảng
bộ huyện Quảng Xƣơng từ năm 1991 đến năm 2010
Trên cơ sở những kết quả đạt được cũng như những mặt còn hạn chế trong công tác xây
dựng đời sống văn hóa ở huyện Quảng Xương - tỉnh Thanh Hóa từ năm 1991 đến năm 2010.
Từ tình hình yêu cầu thực tế, so sánh với các địa phương khác trong tỉnh Thanh Hóa và trên
cả nước, tác giả luận văn bước đầu rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
3.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo và nâng cao hiệu quả quản lý của các cấp ủy Đảng về
xây dựng đời sống văn hóa, phù hợp với tình hình cụ thể của huyện Quảng Xương
Thông qua các kỳ Đại hội (từ năm 1991 đến 2010) Đảng bộ huyện Quảng Xương đã quán
triệt sâu sắc đường lối xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc của Đảng. Triển
khai và đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng làng,
khu phố văn hóa Qua đó đã xuất hiện những tấm gương điển hình như: Làng Quyết Thắng -
xã Quảng Thịnh, Làng Hòa Trinh - xã Quảng Hòa, khu phố Tân Phong - Thị trấn Quảng
Xương… đây là mô hình kiểu mẫu để nhân rộng phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở
huyện Quảng Xương.
3.2.2. Cần phải kết hợp đồng bộ quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng bộ
huyện về văn hóa với nghị quyết về kinh tế - xã hội, phát triển sự nghiệp giáo dục và đào
tạo, khoa học và công nghệ
Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là một hoạt động mang tính xã hội hóa cao, liên quan
đến tất cả các tầng lớp, lứa tuổi, tác động đến các ngành, lĩnh vực của đời sống vật chất lẫn
đời sống tinh thần.
nhân dân toàn huyện có truyền thống đồng thuận, đồng lòng, chính vì thế mà đã làm nên
những kết quả quan trọng.
Các đại biểu cũng cho rằng, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hóa ở cơ sở” đã tạo được những kết quả quan trọng trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
và xây dựng môi trường sống lành mạnh. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống được giữ gìn,
phát huy tốt những mặt tích cực, hạn chế, loại bỏ dần những hủ tục, từng bước xây dựng nếp
sống văn minh đối với cá nhân, gia đình, cộng đồng dân cư, đơn vị làm việc, sinh hoạt. Sự
tham gia rộng khắp, tự giác của đông đảo nhân dân tạo nên những nét đẹp mới trong chuẩn
mực văn hóa và trong nhân cách con người Việt Nam.
Trong những năm qua là cách làm sáng tạo khi các ngành, đoàn thể đã lồng ghép các nội
dung tiêu chí thi đua, nhân rộng các điển hình tiên tiến, gương “Người tốt, việc tốt” vào
phong trào xây dựng nếp sống văn hóa. Cụ thể như: phong trào “Gia đình nông dân văn hóa”
của Hội Nông dân, phong trào “Xây dựng khu dân cư 5 không” do Ủy ban MTTQ phát động,
phong trào “Toàn dân tham gia phòng chống tội phạm” của Công an, phong trào “Xây dựng
gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” của Hội Phụ nữ, phong trào “Xây dựng làng
văn hóa sức khỏe” của ngành Y tế. Trong 10 năm qua, toàn huyện có 8.936 người tốt, việc tốt
được các cấp khen thưởng; có 17 thôn, 72 gia đình được tuyên dương tại Hội nghị tổng kết
“20 năm phong trào xây dựng làng văn hóa”, “10 năm phong trào Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa” của Trung ương và tỉnh. Qua đó, xuất hiện nhiều gương điển hình có
đóng góp không nhỏ trong phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở có sức lan tỏa trong
toàn xã hội, góp phần động viên, cổ vũ phong trào.
Mặt trận đã chú trọng vận động nhân dân tham gia giải quyết những vấn đề cấp bách
trong cộng đồng về vệ sinh môi trường, nâng cấp và cải tạo đường kiệt, ngõ xóm, góp phần
xây dựng trường học, trạm xá, nhà sinh hoạt cộng đồng, xoá bỏ những tập tục lạc hậu, mê
tín dị đoan, xây dựng và thực hiện tập quán mới, tạo cảnh quan mới ở các khu dân cư.
Nhiều phong trào có ý nghĩa về văn hoá tinh thần và giáo dục sâu sắc đã được nhân dân
đồng tình hưởng ứng như: phong trào xây dựng “Đoạn đường (tuyến đường) an toàn - văn
minh - sạch đẹp”, phong trào “Ông bà, cha mẹ mẫu mực con cháu hiếu thảo”, “Người lớn
gương mẫu, trẻ em chăm ngoan”. Ban chỉ đạo xây dựng đời sống văn hóa của huyện đã tích
cực tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm
cũng không phải là đi tìm một cách sống mới, xa lạ, mà thực sự đưa con người về với những
giá trị truyền thống tốt đẹp của cha ông. Đó là nếp văn hóa, cách cư xử trong gia đình, dòng
tộc, trong tình làng nghĩa xóm, thái độ bảo vệ các di sản văn hóa dân tộc, là những chuẩn mực
về cách sống mà ông cha ta đã lựa chọn, giữ gìn qua bao thế hệ, là cơ sở để chúng ta xây dựng
đời sống tình cảm và đạo đức, nhân cách đẹp hơn, tốt hơn.
Phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở huyện Quảng Xương trong những năm qua, với
những kết quả đạt được đã và đang góp phần tạo động lực, tác động mạnh mẽ đến sự phát
triển kinh tế trong làng, khu phố, khu dân cư của huyện thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội
của địa phương, chăm lo phát triển kinh tế, giải quyết những vấn đề xã hội như việc làm, xóa
đói giảm nghèo, bài trừ các tệ nạn xã hội, tạo cảnh quan môi trường xanh, sạch đẹp Cũng do
phát triển kinh tế và tốc độ đô thị hóa được đẩy mạnh nên đường làng ngõ xóm được mở
mang, sạch đẹp, đình làng, nhà văn hóa, nhà thờ tổ tiên, được tu sửa, nâng cấp, di tích lịch sử,
văn hóa được chăm sóc trùng tu, tôn tạo làm cho bộ mặt làng, khu phố khang trang, khởi sắc.
Phong trào xây dựng đời sống văn hóa với những nội dung sinh hoạt phong phú, đa dạng, các
tiêu chí đặt ra trong xây dựng làng, khu phố, gia đình và đơn vị văn hóa cũng góp phần hữu
hiệu vào việc giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, trật tự, tạo nên nếp sống văn minh.
Qua thực tiễn xây dựng đời sống văn hóa của huyện Quảng Xương đã để lại những bài
học kinh nghiệm quý báu, làm cơ sở để Đảng bộ huyện Quảng Xương lãnh đạo đẩy mạnh xây
dựng đời sống văn hóa đạt hiệu quả cao hơn trong những năm sau. Những kinh nghiệm trong
tổ chức chỉ đạo, vận dụng đường lối của các cấp lãnh đạo, trong hoạt động của các đoàn thể
quần chúng, về lấy văn hóa truyền thống làm cơ sở, về phát huy vai trò của nhân dân , trong
đó đặc biệt nhấn mạnh đến nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, của cán bộ, nhân
dân về văn hóa, đến vai trò của đội ngũ cán bộ văn hóa. Những kinh nghiệm này tiếp tục giúp
cho huyện thực hiện tốt hơn trong xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở mà trọng tâm là thực
hiện phong trào "toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa". Mặt khác những kinh
17
nghiệm này cũng góp phần đóng góp cho công tác xây dựng đời sống văn hóa trên cả nước
nói chung.
quyết của Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, VIII, IX, gần đây nhất là Nghị quyết Đại hội
X vào đời sống văn hóa, tạo ra những chuyển biến quan trọng trong việc nâng cao chất lượng
đời sống văn hóa (đặc biệt là xây dựng các làng văn hóa, đơn vị văn hóa, gia đình văn hóa).
Tuy nhiên kết quả đạt được ở từng đơn vị địa phương trong huyện vẫn chưa đồng đều chưa
phát huy hết tiềm năng, sức sáng tạo của quần chúng nhân dân. Nhưng cũng phải thừa nhận
sự nỗ lực cố gắng rất lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Quảng Xương trong
việc khắc phục những khó khăn để đạt được những kết quả đáng ghi nhận.
Trong hai thập kỷ (từ 1991 đến 2010) xây dựng, bảo vệ và đổi mới quê hương, Quảng
Xương đã thực sự chuyển mình, từ một huyện nghèo điểm xuất phát thấp trong những năm
tháng chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế sang cơ chế thị trường đã biết tận dụng các điều kiện
thuận lợi, khắc phục khó khăn giành được những thắng lợi to lớn, trở thành địa phương có
mức phát triển kinh tế - xã hội cao trong tỉnh Thanh Hóa. Góp phần đưa sự nghiệp xây dựng
đời sống văn hóa của huyện phát triển lên một tầm cao mới, cùng nhân dân cả nước góp xây
nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
19
References
1. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Quảng Xương (1992), Quảng Xương - Lịch sử đấu
tranh cách mạng, tập 1 (1930-1954).
2. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Quảng Xương (2/1996), Báo cáo tại Đại hội đại biểu
lần thứ XXI Đảng bộ huyện Quảng Xương.
3. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Quảng Xương (1996), Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện
Quảng Xương lần thứ 21 nhiệm kỳ 1996 - 2000.
4. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Quảng Xương (2001), Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện
Quảng Xương lần thứ 22 nhiệm kỳ 2001 -2005.
5. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Quảng Xương (2003), Lịch sử Đảng bộ và phong trào
cách mạng của nhân dân Quảng Xương, tập 2 (1954-1975).
6. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Quảng Xương (2005), Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện
Quảng Xương lần thứ 23 nhiệm kỳ 2005 -2010.
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung
ương khóa VIII, Nxb. Sự thật, Hà Nội.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung
ương khóa IX, Nxb. Sự thật, Hà Nội.
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Các Đại hội, hội nghị của Đảng Cộng sản Việt Nam
từ 1930 đến nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 11/2006), Văn kiện Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp
hành Trung ương khóa IV, Nxb. Sự thật, Hà Nội.
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
28. Đảng bộ huyện Quảng Xương (2002), Lịch sử Đảng bộ huyện Quảng Xương, Nhà in
Thanh Hóa.
29. Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, Huyện Ủy Quảng Xương (2007), Báo cáo tổng kết 10 năm
thực hiện Chỉ thị 27-CT/TW của Bộ chính trị (khóa VIII) "về việc thực hiện nếp sống
văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội".
30. Nguyễn Khoa Điềm (2001), Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
31. Nguyễn Văn Điệp (1999), Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở nông dân tỉnh Bình
Dương, Luận văn thạc sỹ Khoa học văn hóa.
32. Phạm Văn Đồng (1994), Văn hoá và đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
33. PGS. TS. Lê Như Hoa (10/1996), “Phát triển bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh
công nghiệp hóa”. Tạp chí Cộng sản (20).
21
34. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Khoa Văn hóa Xã hội chủ nghĩa (2000),
52. Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Quảng Xương (2002), Báo cáo thành tích phong
trào hoạt động VHTT.
22
53. Phạm Ngọc Quang và Nguyễn Viết Thông (2000), Góp phần tìm hiểu sự phát triển tư
duy lãnh đạo của Đảng ta trong công cuộc đổi mới trên các lĩnh vực chủ yếu, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
54. Đào Duy Quát (2000), Vai trò văn hóa dân tộc và nhiệm vụ giữ gìn bản sắc văn hóa
dân tộc (Báo cáo tham luận), Hà Nội.
55. Hồ Sĩ Quý (1998), Về văn hóa và văn minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
56. Nguyễn Duy Quý (2006), “Đổi mới tư duy lý luận: một số vấn đề đặt ra”, Tạp chí Cộng
sản, (5).
57. Nguyễn Văn Quyết (2000), Xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư công nghiệp Biên
Hòa thời kỳ 2002 -2010, Luận văn thạc sỹ Khoa học VH.
58. Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Việt, Lê Ngọc Tòng (chủ biên - 2006), Quá
trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta từ 1986 đến nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
59. Sở Văn hóa Thông tin Thanh Hóa (1998), Xây dựng làng văn hóa Thanh Hóa, Nhà in
Thanh Hóa.
60. Nguyễn Đức Tài (2005), Đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
61. Đỗ Khánh Tặng (1998), “Đề cương văn hóa Việt Nam nền tảng vững chắc cho đường
lối văn hóa của Đảng”, Tạp chí Triết học, (1).
62. Hà Văn Tăng (2000), Công tác văn hóa quần chúng trong bối cảnh thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (Báo cáo tham luận), Hà Nội.
63. Văn Đức Thanh - Đông Hải (2006), “Đẩy mạnh cuộc đấu tranh tư tưởng nhằm phát huy
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, Tạp chí Cộng sản, (12).
64. PGS. TS Trần Ngọc Thêm (1997) Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
65. TS. Nguyễn Hữu Thức (2005), Văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
80. Hoàng Vinh (1999), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta, Nxb.
Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
81. Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian (2005), Hương ước Thanh Hóa, Nxb Văn Hóa, Hà
Nội.
82. GS. Trần Quốc Vượng (1998), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
83. Ngô Đình Xây (2007), “Đổi mới tư duy lý luận về văn hóa thành tựu và những vấn đề
đặt ra”, Tạp chí Cộng sản, (2).
84. Đặng Văn Xuyên (2002), Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trong công nhân lao động
ở vùng than Quảng Ninh, Luận văn thạc sỹ khoa học văn hóa.