Đảng bộ huyện Lâm Thao, Phú Thọ lãnh đạo quá trình xây dựng nông thôn mới (1991 đến 2011 - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ

----------

NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG

ĐẢNG BỘ HUYỆN LÂM THAO - PHÚ THỌ
LÃNH ĐẠO QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI (1991-2011)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học
TS. LÊ VĂN TÚC

HÀ NỘI - 2013


LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, Tiến sĩ Lê Văn Túc đã
tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Lịch sử đã tạo điều kiện giúp đỡ
em trong suốt thời gian qua. Đồng thời em chân thành cảm ơn tới Huyện ủy
Lâm Thao tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình sưu tầm
tài liệu.
Với những hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên
Khóa luận tốt nghiệp khó tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Em rất mong
sự đóng góp ý kiến của các thầy cô.

Tiểu kết chương 1. ....................................................................................... 21
Chương 2: Đảng bộ huyện Lâm Thao (Phú Thọ) lãnh đạo quá trình
xây dựng Nông thôn mới (1991-2011) ....................................................... 23
2.1. Đảng bộ huyện Lâm Thao (Phú Thọ) lãnh đạo quá trình xây dựng
Nông thôn mới (1991-2000) ......................................................................... 23
2.1.1. Các đường lối của Đảng về xây dựng Nông thôn mới (1991-2000) 23
2.1.2. Đảng bộ huyện Lâm Thao (Phú Thọ) lãnh đạo quá trình xây
dựng Nông thôn mới (1991-2000) ................................................................ 31
2.2. Đảng bộ huyện Lâm Thao (Phú Thọ) lãnh đạo quá trình xây dựng
Nông thôn mới (2001-2011) ......................................................................... 36
2.2.1. Đường lối của Đảng về xây dựng Nông thôn mới (2001-2011) ....... 36
2.2.2. Đảng bộ huyện Lâm Thao (Phú Thọ) lãnh đạo quá trình xây
dựng Nông thôn mới (2001-2011) ................................................................ 45
2.2.3.Thành tựu và hạn chế .................................................................... 55
2.3. Một số giải pháp đẩy mạnh quá trình xây dựng Nông thôn mới ở
Lâm Thao - Phú Thọ trong thời kỳ hiện nay ................................................. 58
Tiểu kết chương 2. ....................................................................................... 61
Kết luận....................................................................................................... 64
Danh mục tài liệu tham khảo..................................................................... 66
Phụ lục ....................................................................................................... 69


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930), lịch sử Việt
Nam đã bước sang một trang mới vô cùng vẻ vang. Nhân dân Việt Nam dưới
sự lãnh đạo của Đảng đã đứng lên làm cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945
thành công, lập nên nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, đưa nhân
dân Việt Nam bước vào kỉ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.
Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đang lãnh đạo công cuộc đổi mới

Nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương đối với việc phát triển
nông nghiệp, nông thôn một cách chung chung cũng có một số tác giả tiến hành
nhưng tiêu biểu nhất là cuốn: "Lịch sử Đảng bộ Huyện Lâm Thao" (1940– 2002),
Lịch sử Đảng bộ Huyện Lâm Thao (2003 -2010), nhà xuất bản Chính trị Quốc gia

Hà Nội năm 2003, chủ yếu liệt kê các sự kiện lịch sử Đảng bộ huyện, các báo
cáo chính trị, các báo cáo kinh tế nông nghiệp nông thôn của Ủy ban nhân dân
huyện hàng năm; cuốn “Tuyển tập Nghị quyết Đảng bộ Tỉnh Phú Thọ tập II (19681996)”, "Tuyển tập Nghị quyết Đảng bộ Tỉnh Phú Thọ tập II (1997-2010)", Đảng
Bộ Tỉnh Phú Thọ (2010).

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào đi sâu và giải quyết
một cách có hệ thống sự lãnh đạo nhân dân của Đảng bộ huyện về xây dựng
nông thôn mới từ năm 1991 đến năm 2011. Vì vậy tôi chọn đề tài trên có ý
nghĩa thực tiễn và lý luận.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích

2


- Làm rõ sự lãnh đạo nhân dân của Đảng bộ huyện Lâm Thao - Phú
Thọ trong quá trình xây dựng nông thôn mới từ năm 1991 đến năm 2011.
- Đưa ra các giải pháp để thúc đẩy việc xây dựng nông thôn mới của
huyện trong giai đoạn hiện nay.
- Đánh giá những mặt ưu điểm, hạn chế và rút ra bài học kinh nghiệm
3.2. Nhiệm vụ
- Tập hợp, xử lý các nguồn tài liệu.
- Trình bày, phân tích một cách khách quan về sự lãnh đạo của Đảng
huyện Lâm Thao-Phú Thọ trong quá trình xây dựng Nông thôn mới từ năm
1991 đến năm 2011.


4


Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN LÂM THAO - PHÚ THỌ
1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN CƯ
1.1.1. Vị trí địa lý
Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía Bắc giáp tỉnh
Tuyên Quang và Yên Bái, phía Đông giáp tỉnh Vĩnh Phúc, phía Đông giáp
huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội, phía Tây giáp tỉnh Sơn La, phía Nam giáp
tỉnh Hòa Bình.
Lâm Thao là một huyện thuộc tỉnh Phú Thọ, huyện lị là thị trấn Lâm
Thao. Huyện Lâm Thao tiếp giáp với Thành phố Việt Trì ở phía Đông, huyện
Phù Ninh ở phía Bắc và Đông Bắc, thị xã Phú Thọ phía Tây Bắc và huyện
Tam Nông ở phía Tây và Nam (ngăn cách bởi sông Hồng). Huyện Lâm Thao
rộng 9.754,59 hecta. Dân số: 101.422 người Lâm Thao có 14 đơn vị hành
chính trực thuộc:

Có 2 thị trấn:
 Lâm Thao

Có 12 xã:

 Hùng Sơn.

 Xuân Huy

 Bản Nguyên


Theo Quyết định số 178-CP ngày 5-7-1977 của Hội đồng Chính phủ,
huyện Lâm Thao sáp nhập với huyện Phù Ninh thành huyện Phong Châu.
Năm 1999, lại tách ra thành hai huyện như cũ.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên
Huyện Lâm Thao có tọa độ địa lý trong khoảng 21015’ – 21024’ độ vĩ
Bắc và 105014’ – 105021’ độ kinh Đông, cách trung tâm thành phố Việt Trì
khoảng 10 km về phía Tây; phía Bắc giáp thị xã Phú Thọ và huyện Phù Ninh,
phía Đông giáp thành phố Việt Trì và huyện Ba Vì (Hà Nội), phía Tây và phía
Nam giáp huyện Tam Nông. Trung tâm huyện là thị trấn Lâm Thao.
Lâm Thao là huyện đồng bằng của Phú Thọ, cửa ngõ giữa miền núi với
đồng bằng, đồng thời là cửa ngõ quan trọng giữa thành phố Việt Trì với các
tỉnh phía Bắc do có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy
khá phát triển. Trên địa bàn có tuyến Quốc lộ 32C, nối thông giữa Quốc lộ 2
với Quốc lộ 32A đi dọc sông Thao theo hướng Tây Bắc đi Yên Bái. Ngoài ra,
có 5 tuyến đường tỉnh 320, 324, 324B, 324C và 325B. Từ đây, có thể mở rộng
giao thương với các huyện lân cận như Tam Nông, Thanh Sơn, Phù Ninh, Cẩm
Khê, thị xã Phú Thọ và thành phố Việt Trì; giao thương với các tỉnh lân cận.
Với vị trí địa lý đó, Lâm Thao là đầu mối giao lưu quan trọng và có nhiều tiềm
năng cho phát triển thị trường, giao lưu hàng hóa giữa các khu vực…
* Địa hình: Lâm Thao có địa hình khá đa dạng, có đồi núi, đồng ruộng
của một số xã miền núi, có những cánh đồng bát ngát của những xã đồng bằng.
Nhìn chung địa hình thấp, độ cao trung bình chỉ 30 – 40 mét so với mặt
biển; địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông. Loại đất dốc
của Lâm Thao chủ yếu là dưới 30, được phân bố ở tất cả các xã và thị trấn,
nhưng tập trung nhiều nhất ở các xã miền núi Tiên Kiên, Xuân Lũng và thị
6


trấn Hùng Sơn. Tuy nhiên, về cơ bản, Lâm Thao vẫn là huyện đồng bằng, có
địa hình thấp, đa dạng thuận lợi trong việc bố trí quy hoạch sản xuất nông

Nhóm đất đồng bằng, thung lũng chiếm 93,06% tổng diện tích, được chia
thành 5 loại đất: Đất cát chua; đất thung lũng và đất phù sa xen giữa đồi núi;
đất phù sa chua; đất có tầng sét loang lổ và đất phù sa trung tính ít chua.
Nhóm đất này đa dạng, thích hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau, đòi hỏi
phải có những biện pháp canh tác phù hợp với từng loại đất. Nhóm đất đồi gò
(đất địa thành) chiếm 6,94% diện tích, phân bố chủ yếu ở các xã ở vùng Đông
Bắc của huyện như Tiên Kiên, Xuân Lũng, thị trấn Hùng Sơn… độ phì nhiêu,
dung tích hấp thụ của đất thấp.
Nhìn chung tài nguyên đất của Lâm Thao rất màu mỡ, phù hợp với phát
triển các loại cây trồng hàng năm như lúa, rau màu.
* Khoáng sản
Lâm Thao là huyện nghèo về tài nguyên khoáng sản và nhỏ bé về trữ
lượng chỉ đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ của địa phương. Tuy nhiên cũng có
một số loại tài nguyên khoáng sản như: mỏ nước khoáng ở Tiên Kiên, mỏ cao
lanh ở Xuân Lũng, hiện đang khai thác. Ở khu 2 thị trấn Hùng Sơn cũng có
mỏ cao lanh, tuy nhiên chưa được thăm dò đầy đủ và chưa được khai thác. Ở
Xuân Huy có mỏ sét khá tốt. Ngoài ra, các xã Cao Xá, Vĩnh Lại, Tứ Xã, Kinh
Kệ, Xuân Lũng đều có nhiều sét để làm gạch. Lâm Thao có cát sông Hồng
khá dồi dào, chủ yếu phục vụ cho san lấp mặt bằng, tập trung ở Cao Xá, Vĩnh
Lại, Bản Nguyên, Kinh Kệ, Thạch Sơn, Hợp Hải và Xuân Huy.
* Tài nguyên nước
Lâm Thao có nguồn tài nguyên nước rất phong phú. Trước hết, sông
Hồng chảy qua 8 xã, thị trấn với trữ lượng nước rất lớn. Đây là nguồn nước
chủ yếu cho giao thông thủy, cho công nghiệp, xây dựng và sản xuất nông
nghiệp. Về nước ngầm, Lâm Thao có nguồn nước ngầm lớn, dễ khai thác
8


nhưng ít nhiều chịu ảnh hưởng của việc xử lý ô nhiễm của một số cơ sở sản
xuất công nghiệp trên địa bàn chưa thật tốt. Với lượng mưa trung bình 1.720

thống canh tác lúa, rau, màu lâu đời, cung cấp nông sản cho nhiều địa phương
quanh vùng như Việt Trì, Tam Nông, Thanh Sơn… Lâm Thao là địa phương
có nhiều ngành nghề thủ công truyền thống có giá trị, có nhiều làng nghề đã
được công nhận như: làng nghề xây dựng Xuân Huy, làng nghề sản xuất ủ ấm
và chăn ga, gối Sơn Vi, làng nghề sản xuất tương Dục Mỹ (Cao Xá), làng
nghề nuôi và chế biến rắn Tứ Xã.
Lâm Thao là vùng Đất Tổ, nằm trong quần thể khu di tích quốc gia Đền
Hùng, có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời ; thời dựng nước người Việt Cổ
đã sớm định cư sinh sống ở đây và trở thành trung tâm của nước Văn Lang.
Qua các di tích khảo cổ ở Phùng Nguyên (Kinh Kệ), Gò Mun (Tứ Xã), và
nhiều địa phương khác trong huyện đã khẳng định từ 3.500 - 4000 năm trước
người Việt Cổ ở Lâm Thao đã biết trồng lúa nước.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, trước những biến động của chiến
tranh, thời tiết khắc nghiệt, chính sách đồng hóa của phong kiến phương Bắc,
chính sách phong hầu kiến ấp của các triều đại phong kiến và chính sách
khai thác thuộc địa của thực dân Pháp…Các luồng di cư đến Lâm Thao
ngày càng đông.
Nhân dân Lâm Thao không chỉ anh dũng chống giặc ngoại xâm trong
suốt hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Trang lịch sử hào hùng
đầu tiên từ thời Vua Hùng dựng nước và sau này là cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược mà nhân dân Lâm Thao còn truyền
thống cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế và văn hóa.
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba

10


Sống ở địa bàn vừa có đồi núi vừa có đồng bằng, người dân nơi đây
qua bao đời đã cần cù cải tạo ruộng đồng, đồi nương, chế ngự thiên tai để

trưởng kinh tế xã hội. Vì vậy mà muốn phát triển kinh tế nông nghiệp trước
hết cần phải chú ý đến phát triển nông thôn.
Từ những năm 1945 đến trước 1990 chúng ta đã xây dựng phát triển
nông thôn có nhiều chính sách cải cách ruộng đất, hợp tác xã, điều chỉnh đất
đai nhưng nông thôn mới chưa hình thành theo quá trình phát triển kinh tế đất
nước vẫn còn sống trong tình trạng nông nghiệp lạc hậu nhiều nơi vùng sâu
vùng xa còn du canh du cư, người nông dân không được giúp đỡ.
Muốn phát triển hội nhập kinh tế thế giới thì vai trò người nông dân
ngày càng phải được nở rộng. Từ quan điểm trên năm 1986 đến 1990 muốn
tăng trưởng kinh tế phải đi liền tiến bộ xã hội, công bằng xã hội. Do đó Đảng
ta thấy rằng muốn phát triển kinh tế nông nghiệp thì phải chú ý đến nông dân
nông thôn.
Kế thừa và chọn lọc những tri thức văn minh của nhân loại, rút những
kinh nghiệm trong lịch sử tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá và từ thực
tiễn công nghiệp hoá ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Hội nghị ban chấp
hành Trung ương lần thứ 7 khoá VI và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi
căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và quản lý kinh
tế - xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách
phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên
tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công
nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Song dù muốn hay không công nghiệp hoá ở nước ta hiện nay trước mắt
nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật bảo đảm tăng trưởng kinh tế nhanh và
bền vững. Song có lẽ sẽ là thiếu sót nếu chúng ta không quan tâm giải quyết
12


những vấn đề xã hội. Thực tiễn nước ta và kinh nghiệm của một số nước đang
phát triển cho thấy ngay từ bước đầu tiên của việc hoạch định chiến lược và

đinh: nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của
chặng đường đầu tiên là ổn định tình hình mọi mặt kinh tế, tiếp tục xây dựng
tiền đề cần thiết cho việc công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng
đường tiếp theo. Đại hội đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trước hết
là đổi mới tư duy, về kinh tế, tập trung vào 3 vấn đề kinh tế quan trọng là: Bố
trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư, tập trung sức người, sức
của, vào thực hiện ba chương trình mục tiêu về lương thực, thực phẩm, hàng
tiêu dùng và hàng xuất khẩu; xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa. Xác định nền kinh tế cơ cấu nhiều thành phần; đổi mới cơ chế
quản lý, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng cơ chế kế hoạch
hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa.
Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, bước vào năm 1986, mặc dù còn
gặp nhiều khó khăn do vật tư thiếu, cung cấp không kịp thời vụ; vụ mùa bị vỡ
đê Sông Lô gây ngập úng 1/3 diện tích gieo cấy, nhưng Đảng bộ và nhân dân
trong huyện đã khắc phục khó khăn, tích cực triển khai ứng dụng các giống
lúa mới, ngô có năng suất cao, đồng thời tăng cường phân hóa học và thuốc
trừ sâu để chăm sóc bảo vệ cây trồng. Tổng diện tích gieo trồng của toàn
Huyện là 16.188 héc ta, trong đó diện tích cấy lúa là 12.830,5 héc ta, đạt
94,3% kế hoạch; năng suất lúa cả năm đạt 26,36 tạ/ha. Huyện đã mở rộng
diện tích gây vụ đông và đi vào thâm canh cây lúa và cây màu. Cơ cấu mùa
vụ từng bước có chuyển biến, dần đưa sản xuất vụ đông trở thành vụ sản xuất
chính với 938,8 héc ta. Nhờ đó, tổng sản lượng thực quy thóc của huyện đạt
41.013,6 tấn. Bình quân lương thực đầu người đạt 267 kg/năm.
Năm 1987, năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh trong điều kiện các quan điểm
14


đổi mới của Đảng và cơ chế quản lý mới đã được khẳng định. Nhưng các
chính sách kinh tế chưa được bổ sung kịp thời và thiếu đồng bộ, vốn, vật tư,

Sau khi tiếp thu nội dung Nghị quyết 10 do tỉnh tổ chức học tập, Huyện ủy
đã họp mở rộng đến cán bộ chủ chốt cơ sở và thông qua Nghị quyết 16-NQ/HU
để triển khai thực hiện trong phạm vi toàn huyện. Huyện đã tiến hành phân loại
hợp tác xã theo trình độ sản xuất hàng hóa và trình độ quản lý để có cơ sở khoán
cho thích hợp, nhằm tạo điều kiện cho hợp tác xã từng bước phát triển sản xuất
kinh doanh toàn diện. Theo yêu cầu của cơ sở, trước mắt huyện đã cho 3 hợp tác
xã chia tách thành các hợp tác xã nhỏ. Ở địa bàn Lâm Thao có hợp tác xã Tứ Xã
được tách thành 2 hợp tác xã. Cùng với việc phân loại hợp tác xã, huyện cũng tiến
hành phân loại hộ sản xuất để có cách khoán và giao đất hợp lý. Tuy nhiên do lúc
đầu nhận thức chưa đầy đủ theo tinh thần Nghị quyết 10 của Bộ chính trị nên
huyện có những quy định chưa hợp lý, chưa phù hợp trong quá trình triển khai.
"Việc phân loại hợp tác xã chưa sát, phân loại hộ căn cứ vào nợ sản phẩm hay
không nợ sản phẩm để giao khoán ruộng khoán..." [1; tr.359].
Để giải quyết tình trạng đó, Huyện ủy đã giao cho phòng nông nghiệp
huyện hướng dẫn các hợp tác xã bổ sung, điều chỉnh cụ thể các nội dung cần giải
quyết. Việc giao đất khoán gồm đất bảo đảm nhu cầu cơ bản, ngoài đất ruộng, cân
đối cả đất màu, không tính bình quân khẩu theo diện tích. Các hộ xã viên có thể
trao đổi để bảo đảm liền vùng, liền khoảnh, tiện canh tác. Đất sản xuất hàng hóa,
giao cho hộ có khả năng sản xuất, theo 2 hình thức khoán thầu hoặc trên sổ khoán
của từng hộ. Trước cách khoán mới, lấy hộ làm đơn vị kinh tế tự chủ, ban quản lý
hợp tác xã gặp nhiều khó khăn, lúng túng. Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện đã
tổ chức cho cán bộ các hợp tác xã đi dự tập huấn, dự các lớp bồi dưỡng do tỉnh và
huyện mở; đồng thời xác định rõ chức năng nhiệm vụ, biên chế bộ máy quản lý
cho từng loại hình hợp tác xã. Do áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa các
giống lúa, ngô mới có năng suất cao vào đồng ruộng, đồng thời động viên nhân
16


dân thâm canh, luân canh, tăng diện tích cây màu vụ đông; nên sản xuất nông
nghiệp của huyện bắt đầu có những chuyển biến khá hơn so với những năm trước.

Khoán 10 đã tạo ra động lực mới, làm cho nông dân phấn khởi đầu tư
vào sản xuất. Tình trạng trả ruộng cho hợp tác xã như trước đây không còn.
Bình quân sản lượng lương thực 5 năm 1986 - 1990 so với 5 năm 1981 - 1985
tăng 12% (3.140 tấn).
Qua 2 năm thực hiện khoán 10 ở huyện đã nổi lên một số vấn đề đáng chú
ý, cần phải giải quyết. Đó là nhiều hợp tác xã giao ruộng khoán vẫn mang tính
bình quân manh mún, chưa giao ruộng theo khả năng lao động. Nhiều hợp tác xã
buông lỏng dịch vụ sản xuất, khoán trắng cho xã viên, sử dụng quỹ và tài sản chưa
có hiệu quả, xảy ra tình trạng thâm hụt và mất mát tài sản. Năm 1990, trong tổng
số 44 hợp tác xã thì chỉ có 15 hợp tác xã có khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh
khá, 20 hợp tác xã trung bình, còn lại 9 hợp tác xã yếu. Sản xuất lương thực chưa
vững chắc, mục tiêu ổn định nhu cầu lương thực trên địa bàn chưa được đảm bảo,
mục tiêu tổng sản lượng lương thực không đạt chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ đề ra.
Ngoài nguyên nhân do thời tiết khắc nghiệt ảnh hưởng lớn đến sản xuất thì cơ sở
vật chất đầu tư cho nông nghiệp còn nhỏ bé. Các công trình tưới tiêu lớn chưa
được khai thác triệt để. Việc đầu tư, thâm canh chưa đồng đều, hợp lý giữa các
vùng, sản xuất còn mang tính độc canh... Mặt khác, từ năm 1989 trở đi, Nhà nước
cho tự do lưu thông, lương thực được điều hòa trong phạm vi cả nước. Người
nông dân tính đến hiệu quả sản xuất nên đã chuyển sang trồng cây công nghiệp
ngắn ngày và trồng cây lâm nghiệp... Vì vậy diện tích cây lương thực bị thu hẹp.
Thời kỳ này đàn trâu bò tập thể đã chuyển nhượng cho xã viên theo đúng
hướng. Do đó tổng đàn trâu, bò đã tăng dần cả về số lượng và chất lượng. Đến
năm 1990, toàn huyện có 19.642 con trâu bò, 53.882 con lợn, vượt mục tiêu của
Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ V đề ra. Đàn lợn nái ở các hộ gia đình phát triển,
đủ cung cấp con giống cho chăn nuôi trên địa bàn huyện. về nuôi thả cá, huyện đã
18


hình thành được dịch vụ con giống, mở rộng nuôi cá thịt, hàng năm cung cấp cho
thị trường từ 450 - 500 tấn cá thịt.

mới và thu hút thợ giỏi tay nghề cao để sản xuất. Để giải quyết tình trạng đó,
Huyện ủy quyết định cho rà soát lại các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp để có hướng giúp đỡ hoặc xử lý chuyển sang ngành nghề khác
hoạt động có hiệu quả hơn.
Trong điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn do giá cả leo thang và lạm
phát cao, nên mặt hàng xuất khẩu của huyện không ổn định. Trong năm 1989,
nhiều hợp đồng kinh tế giữa Công ty xuất khẩu và các hợp tác xã bị phá vỡ. Hai
năm 1989 - 1990, thị trường các nước xã hội chủ nghĩa biến động, có mặt
hàng không còn thị trường nên kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người chỉ
còn 4,8 rúp đô la/năm, không đạt chỉ tiêu Đại hội V của huyện đề ra.
Hoạt động phân phối lưu thông, ngân hoàng, tài chính khắc phục mọi khó
khăn để đảm bảo cho các hoạt động của huyện luôn ổn định. Mặc dù tiền mặt
khan hiếm, huyện đã tích cực cân đối vốn, thu ngân sách và nông sản hàng hóa;
trả lương cho cán bộ công nhân viên và tự cấp cho các đối tượng chính sách. Năm
1987, tổng giá trị mua vào của huyện đạt 12,8% kế hoạch, với các mặt hàng chủ
yếu như 371,4 tấn thịt, 197,2 tấn đỗ các loại, 1.397 tấn muối, 67,3 tấn xà phòng,
146,2 tấn đường kính và 12,7 ngàn lít nước dầu. Từ quý 3 năm 1989, khi chuyển
sang hạch toán kinh doanh, thực hiện cơ chế một giá, nếu cửa hàng thực hiện hạch
toán độc lập, ngành thương nghiệp quốc doanh bắt đầu hoạt động khó khăn. Số
lượng chỉ đảm bảo cung cấp định lượng theo tem phiếu cho đối tượng cán bộ,
công nhân viên của huyện. Chỉ có một số cửa hàng làm ăn có hiệu quả là: cửa
hàng Đền Hùng, thực phẩm Chu Hóa... còn hầu hết các cửa hàng khác kinh doanh
thua lỗ, không thực hiện được việc nộp ngân sách cho Nhà nước, tài sản và tiền
vốn ngày càng hao hụt thất thoát lớn. Đối với hợp tác xã mua bán của huyện, tổng

20


doanh số mua vào và bán ra chỉ đạt trên 30% kế hoạch. Thời gian này sự chỉ đạo
đối với các hợp tác xã mua bán bị buông lỏng...


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status