LUẬN VĂN: Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo đổi mới giáo dục phổ thông từ năm 1991 đến 2001 - Pdf 15



LUẬN VĂN:
Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo đổi
mới giáo dục phổ thông từ năm 1991
đến 2001 mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận
thức sâu sắc về vị trí, vai trò quan trọng của GD - ĐT trong sự nghiệp cách mạng.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” mà “dốt thì dại,

thị xã Hòa Bình trở thành thành phố Hòa Bình trên trục đô thị Hà Nội - Hà Đông - Lương
Sơn - Hòa Bình.
Nhận thức vai trò to lớn của GDPT trong hệ thống giáo dục quốc dân cũng như
phát triển GDPT nhằm “Nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp
phần tích cực vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng tỉnh Hòa
Bình ngày càng giàu đẹp, văn minh và công bằng xã hội” [88, tr.314], trong những năm
qua, Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đã thường xuyên chăm lo, tạo điều kiện để GDPT từng bước
được đổi mới và phát triển vững chắc. Do vậy, từ chỗ 99% dân số mù chữ, đội ngũ giáo
viên, học sinh, cơ sở vật chất trường lớp nghèo nàn, lạc hậu (năm 1945), đến nay, tỉnh đã
đạt chuẩn quốc gia về PCGDTH - CMC và PCGD THCS, đội ngũ giáo viên các ngành
học, bậc học không chỉ lớn về số lượng mà còn mạnh cả về chuyên môn; cơ sở vật chất,
trang thiết bị dạy và học ngày càng hiện đại, bộ mặt ngành giáo dục ngày càng đổi mới.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, sự nghiệp đổi mới GDPT ở Hòa Bình
trong những năm qua còn nhiều yếu kém, bất cập, thể hiện ở chỗ: chất lượng giáo dục các
cấp học, bậc học, ngành học còn thấp và chưa đồng đều; việc dạy và học ở vùng KT - XH
khó khăn còn hạn chế; cơ sở vật chất còn thiếu thốn, lạc hậu. Bên cạnh đó, năng lực trình
độ tổ chức quản lý của đội ngũ cán bộ, giáo viên còn thấp so với yêu cầu nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho xã hội. Đây là những vấn đề đặt ra cần phải giải
quyết.
Từ những vấn đề nêu trên, việc thực hiện các mục tiêu, chiến lược phát triển KT -
XH của Đảng bộ tỉnh trong giai đoạn (2001 - 2005), trong đó GDPT đóng vai trò quan

trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực, càng trở nên có ý nghĩa quan trọng và cấp bách
hơn bao giờ hết. Không ngừng đẩy mạnh và nâng cao hơn nữa chất lượng GDPT trong
thời gian tới cũng như góp tiếng nói chung vào mục tiêu chiến lược phát triển KT - XH
của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình là đòi hỏi của thực tiễn. Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh
Hòa Bình lãnh đạo đổi mới giáo dục phổ thông từ năm 1991 đến 2001” làm đề tài luận
văn thạc sỹ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Xuất phát từ vị trí, vai trò của GD - ĐT nói chung, GDPT nói riêng đối với sự phát

nhìn rõ nét về định hướng chiến lược phát triển GD - ĐT ở Việt Nam cũng như quá trình
tổ chức thực hiện đường lối phát triển GD - ĐT của Đảng để từ đó khẳng định vai trò lãnh
đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đổi mới GD - ĐT.
- Cho đến nay, chưa có tác giả nào nghiên cứu một công trình về GD - ĐT Hòa Bình
(đặc biệt là GDPT) như một công trình khoa học chuyên khảo. Đây là vấn đề đặt ra mà
người viết nhận thấy cần phải đi sâu nghiên cứu. Thông qua các Báo cáo chính trị của đại
hội Đảng bộ, HĐND và UBND tỉnh Hòa Bình, các báo cáo tổng kết của Sở GD - ĐT Hòa
Bình, người viết tìm hiểu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đối với sự nghiệp
đổi mới GD - ĐT nói chung, GDPT nói riêng trên các mặt: đề ra chủ trương, đường lối, tổ
chức thực hiện, kết quả, trong giai đoạn (1991- 2001).
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu và trình bày có hệ thống quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa
Bình về GDPT từ năm 1991 đến 2001 (chủ trương, đường lối, biện pháp thực hiện đổi mới
GDPT).
- Đánh giá khách quan, khoa học về thành tựu, hạn chế và nguyên nhân quá trình
lãnh đạo đổi mới GDPT của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình.

- Rút ra một số kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đối với sự
nghiệp đổi mới GDPT trong giai đoạn (1991- 2001) góp phần phục vụ cho việc đổi mới
GDPT trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài
* Đối tượng nghiên cứu:
- Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình về sự nghiệp đổi mới GDPT.
- Thực tiễn đổi mới GDPT của tỉnh thể hiện ở ba bậc: tiểu học, THCS, THPT.
- Những kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn trên.
* Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình về đổi mới GDPT và
kết quả thực hiện trong giai đoạn (1991- 2001).
* Về thời gian:
Luận văn nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình về đổi mới GDPT trong

- Các bài báo, Tạp chí số ra hàng ngày, hàng tháng được đăng tải trên các phương
tiện thông tin đại chúng…
6. Đóng góp mới về khoa học của đề tài

- Trình bày một cách hệ thống quá trình lãnh đạo tổ chức thực hiện đổi mới GDPT
của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn (1991 - 2001).
- Rút ra một số kinh nghiệm từ quá trình trên.
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu
quả GDPT của tỉnh trong thời gian tới, từng bước đáp ứng tốt hơn yêu cầu đào tạo nguồn
nhân lực phục cho sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước nói chung, phát triển KT -
XH của tỉnh Hòa Bình nói riêng.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; nội dung
chính của luận văn được chia thành 2 chương 6 tiết.

Chương 1
Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo đổi mới giáo dục
phổ thông trong những năm 1991-1996
1.1. Một số nét về tỉnh hòa bình
1.1.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội
Hòa Bình là một tỉnh miền núi nằm ở cửa ngõ vùng Tây Bắc của Tổ quốc, có vị trí
địa lý quan trọng của vùng chuyển tiếp từ đồng bằng lên vùng núi, điểm trung chuyển sức
hút ảnh hưởng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của thủ đô Hà Nội.
Nằm trong giới hạn 20º19´- 21°08´ vĩ bắc và 104°48´- 105°50 ´kinh đông, phía Bắc
giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp tỉnh Hà Tây, phía Tây giáp tỉnh Sơn La, phía Nam giáp
tỉnh Ninh Bình, Hà nam và Thanh Hóa, Hòa Bình có diện tích tự nhiên 4.662,53 km².
Phần lớn diện tích của tỉnh Hòa Bình là đất lâm nghiệp chiếm 46,5%. Đất nông nghiệp chỉ

những tháng nhiệt độ cao thường vào tháng 6, tháng 7, tháng 8 nhiệt độ trên dưới 30°C;
lượng mưa hàng năm từ 1500mm - 2500mm và độ ẩm trung bình hàng năm 80% - 85%
[89, tr.8].
Hòa Bình có hai con sông chính: Sông Đà bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua các
tỉnh Tây Bắc - Việt Nam ra Việt Trì nhập vào sông Hồng, có chiều dài chảy qua Hòa Bình
151km. Sông Bôi, bắt nguồn từ Kỳ Sơn, chảy qua huyện Kim Bôi, Lạc Thủy ra Nho Quan
(Ninh Bình), có chiều dài qua Hòa Bình 66km. Ngoài ra còn có các sông Bưởi, sông Bùi,
sông Lạng…Hồ lớn nhất của tỉnh Hòa Bình là hồ sông Đà với diện tích mặt nước trên
9000ha và dung tích 9,5 tỉ m³. Đây không chỉ là công trình thủy điện lớn nhất cả nước với
tổng công xuất 1920Mw và lượng thủy năng 50 tỷ kw/h mà còn là công trình thủy lợi cung
cấp nguồn nước phục vụ sản xuất sinh hoạt, nuôi trồng thủy hải sản của tỉnh cũng như tạo
ra khu du lịch lòng hồ đầy triển vọng.

Thiên nhiên đã tạo ra cho Hòa Bình nhiều cảnh quan đẹp và kỳ thú như: núi Cột Cờ
(huyện Tân Lạc) hang Can (huyện Kỳ Sơn) hang Trại (huyện Lạc Sơn) hang Đồng Nội
(huyện Lạc Thủy) các khu du lịch Vua Bà, Chợ Bờ, suối nước khoáng Mớ Bà (huyện Kim
Bôi)…Nhờ bàn tay lao động cần cù và sáng tạo của mình, nhân dân các dân tộc ở đây đã
tạo nên nền văn hóa Hòa Bình nổi tiếng với những bản làng đẹp của đồng bào Thái (bản
Lác - Mai Châu), của dân tộc Mường (bản Đốm - thị xã Hòa Bình), cùng với trang phục
thổ cẩm đầy màu sắc, đặc sản rượu cần của địa phương…đã mang đến cho Hòa Bình
những điểm du lịch vừa là nơi điều dưỡng có giá trị văn hóa cao.
Với đặc điểm của điều kiện tự nhiên như trên, đã tác động rất lớn đến chiến lược
phát triển GD - ĐT của Hòa Bình. Bởi lẽ, bên cạnh những thuận lợi, là một tỉnh Miền Núi,
Hòa Bình còn gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với những vùng nhiều đồng bào dân tộc
thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng lòng hồ. Nơi đây, điều kiện KT - XH cho con em theo
học còn hạn chế, giao thông đi lại còn khó khăn Đây là vấn đề đặt ra đối với Đảng bộ
tỉnh, cần có sự quan tâm chỉ đạo và sự phối hợp của nhiều cơ quan ban ngành, từng bước
đưa giáo dục Hòa Bình vượt qua những khó khăn khắc nhiệt của tự nhiên.
Quán triệt tinh thần đổi mới toàn diện đất nước theo quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam, xuất phát từ thực tiễn tình hình phát triển KT - XH của địa phương. Trong các

DÞch vô
34%
N«ng -
L©m
nghiÖp
49%
C«ng
nghiÖp -
X©y dùng
17%

Bên cạnh đó, số hộ đói, nghèo từ 36,6% năm 1996 đã giảm còn 14,4% năm 2000.
100% số xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh có điện lưới quốc gia [89, tr.429]. Điều này
có nghĩa là việc thực hiện quan điểm công bằng trong giáo dục của Đảng bộ tỉnh Hòa bình
ngày càng có điều kiện được quán triệt sâu rộng.
Ngành giáo dục cũng góp phần đào tạo cho tỉnh một đội ngũ cán bộ có trình độ
khoa học kỹ thuật khá cao. Tính đến ngày 1- 4 - 1999, tổng số cán bộ khoa học kỹ thuật
làm việc trong các ngành kinh tế Hòa Bình là 10.929 người. Trong đó, trình độ cao đẳng
có 5570 người, đại học có 5296 người, thạc sỹ có 52 người, tiến sỹ có 11 người. Ngoài ra
còn có đội ngũ công nhân đông đảo đó là lực lượng lao động rất quý.

Mạng lưới y tế phát triển đến tận xã, phường. Đến năm 2000, toàn tỉnh có gần 2000
giường bệnh và 2156 cán bộ y tế với trên 400 bác sỹ; hàng chục đề tài khoa học trực tiếp
phục vụ phòng và chữa bệnh cho nhân dân.
Các hoạt động văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao cũng được tổ chức rộng rãi và
thường xuyên hơn; phong trào xây dựng nếp sống văn minh, đời sống văn hóa mới trong
cưới xin, tang lễ, tôn giáo, tín ngưỡng được đổi mới theo hướng gọn nhẹ, tiết kiệm và
đúng pháp luật. Các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là Phát thanh truyền hình, báo
chí từng bước được nâng cấp, đưa 100% số hộ được nghe Đài Tiếng nói Việt Nam và 60%
số hộ được xem truyền hình vào năm 2000 [89, tr.430].

Văn hóa Hòa Bình có niên đại C14 sớm nhất từ 16.470 ± 80 năm đến 18.420 ±150
năm trước Công nguyên và tồn tại đến khoảng 7.500 năm trước Công nguyên. Trong đó,
tuyệt đại đa số các di tích Hòa Bình có niên đại trong khung 12.000 năm đến 7.500 năm
trước Công nguyên.
Dựa trên căn cứ các di chỉ khảo cổ Hòa Bình là những minh chứng lịch sử để khẳng
định điều đó như di chỉ: hang Bưng (Đà Bắc), hang Tùng, hang làng Gạo (Kim Bôi), hang
Đồng Nội (Lạc Thủy) hang Trại (Lạc Sơn)…Đặc biệt di chỉ hang Bưng là một trong
những di chỉ thuộc nền văn hóa Hòa Bình. Bằng phương pháp phân tích bào tử phấn hoa,
đã tìm ra phấn hoa thuộc họ rau đậu, đã chứng tỏ những cư dân ở đây là chủ nhân mảnh
đất này đã thực hiện một bước nhảy vọt lớn lao trong đời sống nhân loại: từ săn bắn, hái
lượm đã tiến lên trồng rau củ và đã tiến một bước dài hơn là biết trồng cấy lúa. Như vậy,
có thể nói dân cư Hòa Bình là một trong những dân cư đầu tiên phát minh ra nông nghiệp
trồng trọt và Việt Nam - Hòa Bình là một trong những trung tâm phát minh nông nghiệp
sớm nhất thế giới.
Đến nay trên địa bàn tỉnh Hòa Bình đã phát hiện được nhiều trống đồng cổ, chủ yếu
là hai loại: Loại I Hêgơ (thường gọi là trống Đông Sơn), loại II Hêgơ (còn gọi là trống
Mường). Chiếc trống sông Đà là một trong những chiếc trống đẹp nhất thế giới (có niên
đại khoảng thế kỷ VI đến thế kỷ IV trước Công nguyên). Ngoài ra, các nhà khảo cổ học

còn tìm thấy những công cụ bằng đồng như: rìu lưỡi xéo, lưỡi giáo, thuổng, dao cắt,
thạp…Đây là những minh chứng khẳng định dân tộc Mường chính là người Việt cổ.
Tự hào là mảnh đất có chiều dày lịch sử, nhân dân các dân tộc trong tỉnh cũng tạo
cho mình một sắc thái đặc sắc riêng. Đồng bào Mường có lễ hội Cồng Chiêng, có trường
ca “đẻ đất, đẻ nước”…Đồng bào Thái có chữ viết riêng từ lâu đời với trường ca “sống trụ
sôn sao”…Tiếng sáo cùng những làn điệu dân ca H’Mông say đắm đã tạo ra sự phong phú
đa dạng về văn hóa của một tỉnh nhiều dân tộc, góp phần vào sự phong phú đa dạng của
nền văn hóa Việt Nam.
Trong lịch sử phát triển của mình, Hòa Bình có bề dày văn hóa, nhưng do nhiều
nguyên nhân, nền giáo dục Hòa Bình phát triển rất chậm. Qua hàng ngàn năm sống trong
điều kiện kinh tế chậm phát triển, mang tính tự cấp, tự túc, lại bị chế độ lang đạo, thực dân

lịch sử, góp phần xây dựng và phát triển KT - XH của tỉnh qua các thời kỳ.
1.2. Quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông ở tỉnh Hòa
Bình trước khi tái lập tỉnh (1991)
1.2.1. Giáo dục phổ thông ở tỉnh Hòa Bình, trong những năm từ 1945 - 1975
Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2 - 9 - 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc
bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngay
trong tháng 9 - 1945, chính phủ ta đã quyết định thành lập “nha bình dân học vụ”. Các
trường học trong cả nước đã nhanh chóng khai giảng năm học mới - mở đầu cho quá trình
xây dựng nền giáo dục dân chủ nhân dân, thay thế cho nền giáo dục thực dân. Hòa cùng
không khí sôi nổi của cả nước, tỉnh bộ Việt Minh và ủy ban nhân nhân tỉnh Hòa Bình đã
quyết định thành lập “ty bình dân học vụ” để chỉ đạo triển khai công tác “bình dân học vụ”
tới các huyện, xã, bản, làng, trong toàn tỉnh. Với khí thế cách mạng của những ngày đầu
tổng khởi nghĩa thắng lợi, nhân nhân các dân tộc tỉnh Hòa Bình đã nhiệt liệt hưởng ứng lời
kêu gọi chống nạn “thất học” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tháng 10 - 1945. Phong trào
bình dân học vụ được dấy lên khắp các làng bản. Với phương châm người biết chữ dạy
người chưa biết chữ; người dạy, người học đều tận dụng thời gian để dạy và học. Dù còn

nhiều khó khăn nhưng đêm đêm ở khắp các bản làng đều đỏ đèn của các lớp học bình dân
học vụ. Các lớp học được tổ chức ngay trên nhà sàn, giữa buổi làm nương hay trong
những phiên chợ. ở một số chợ như: chợ Phương Lâm (thị xã Hòa Bình), chợ Đồn (Lương
Sơn), chợ Gò Chè (Kim Bôi), chợ Suối Rút (Mai Châu), chợ Vụ Bản (Lạc Sơn)…người đi
chợ phải qua kiểm tra, vừa được dạy thêm dăm ba chữ mới được vào chợ. Khắp các bản
làng đều có khẩu hiệu với các dòng chữ: “đi học là yêu nước”, “mỗi lớp bình dân là một tổ
tuyên truyền kháng chiến”, “có học thì kháng chiến mới thắng lợi”…
Cùng với phong trào bình dân học vụ, phong trào xóa mù chữ cũng phát triển rộng
khắp trong toàn tỉnh. Năm 1948, xã Thanh Nông huyện Lương Sơn (nay thuộc huyện Kim
Bôi) đã thanh toán xong nạn mù chữ và vinh dự được Bác Hồ gửi thư khen ngợi.
Năm 1950, thực hiện chủ trương cải cách giáo dục lần thứ nhất của Đảng và Nhà
nước, ngành GD - ĐT Hòa Bình đã xác định rõ mục đích của giáo dục là phục vụ kháng
chiến, kiến quốc với phương châm: Khoa học, dân tộc và đại chúng. Đây là bước chuyển

sư phạm Hà Nội I. Hòa Bình đã tiếp nhận 86 giáo viên và hàng chục sinh viên tình nguyện
lên công tác ở địa phương. Do vậy, hàng loạt các trường cấp I, cấp II tiếp tục được thành
lập như: trường Ngọc Lương (Yên Thủy), Suối Rút (Mai Châu), Hợp Thịnh, Thịnh Lang,
Dân Hạ, Thu Phong(Kỳ Sơn), Mãn Đức, Tử Nê (Tân Lạc), Vĩnh Tiến, Thanh Lương (Kim
Bôi). Đặc biệt, được sự quan tâm của tỉnh ủy và chính quyền địa phương, tháng 10 - 1961,
tỉnh Hòa Bình đã thành lập khu học xá và phát động phong trào thi đua “hai tốt”. đây là
một sáng tạo trong phát triển sự nghiệp GD - ĐT của tỉnh Hòa Bình.
Không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục, ngành học phổ thông tổ chức tốt các
kỳ thi giáo viên dạy giỏi, thi đồ dùng dạy học. Ngành GD - ĐT Hòa Bình chủ trương xóa
nạn mù chữ đến đâu, tiến hành bổ túc văn hóa đến đó và chống hiện tượng tái mù chữ.
Tỉnh đã chỉ đạo thành lập Trường phổ thông lao động của tỉnh và Trường phổ thông lao
động ở các huyện. Các lớp bổ túc văn hóa được mở ngay ở các cơ quan và địa phương,
nhằm nâng cao trình độ văn hóa cho cán bộ và nhân dân.

Khi chiến tranh bước vào thời kỳ ác liệt, nhiều thầy giáo và học sinh của ngành GD -
ĐT của tỉnh Hòa Bình đã hăng hái tình nguyện nhập ngũ lên đường đi chiến đấu. Nhiều
học sinh với quyết tâm cao đã viết đơn bằng máu xung phong vào bộ đội và tham gia lực
lượng vũ trang. Tiêu biểu là các em học sinh trường cấp II Hoàng Văn Thụ, nhiều người
đã lập công xuất sắc và được tặng thưởng danh hiệu cao quý trong quân đội. Đây thể hiện
là sự nối tiếp truyền thống chống giặc ngoại xâm của cha anh và quê hương.
Thời kỳ 1965 - 1975. Năm 1965 đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, các
trường học, thầy và trò đều phải đi sơ tán về các bản làng. Mặc dù vậy, với tinh thần quyết
tâm cao, thầy và trò luôn duy trì bám trường, bám lớp dạy và học.
Thực hiện chỉ thị 237 của Thủ tướng Chính phủ và chỉ thị 26 của Bộ GD - ĐT về
công tác lãnh đạo sản xuất trong các trường học. Trước đó, ngày 1 - 4 - 1958, Trường
Thanh niên lao động xã hội chủ nghĩa Hòa Bình ra đời với mô hình vừa lao động, vừa học
văn hóa, đã thu hút đông đảo con em các dân tộc trong tỉnh vào học tập, lao động và rèn
luyện. Đây là trường “vừa học, vừa làm” đầu tiên ở Việt Nam với phương châm giáo dục
của nhà trường là thực hiện “học đi đôi với hành”. Ngày 17 - 8 - 1962, trường đã vinh dự
được đón Bác Hồ về thăm, Bác đã ghi trong sổ vàng truyền thống của trường dòng chữ:

quan trọng vào việc phát triển đội ngũ giáo viên và sự nghiệp GD - ĐT của tỉnh Hòa Bình.
Miền nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, ngành GD - ĐT Hòa Bình cùng cả
nước lại bước tiếp vào một thời kỳ mới với những nhiệm vụ chính trị nặng nề nhưng cũng
rất vẻ vang.
1.2.2. Giáo dục phổ thông ở Hòa Bình từ 1975 đến 1991
Ngày 30 - 4 - 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước
tiến lên xây dựng CNXH, nhưng những khó khăn trước mắt đặt ra cũng rất nặng nề.
Trước yêu cầu và nhiệm vụ mới của cách mạng, ngày 27 - 12 - 1975, Quốc hội nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại kỳ họp thứ II, Quốc hội (khóa V) đã ra nghị quyết về việc
hợp nhất hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình thành một tỉnh mới, đặt tên là tỉnh Hà Sơn Bình.
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, việc hợp nhất được tiến hành khẩn trương và nhanh

chóng đi vào hoạt động. Trong bối cảnh đó sự nghiệp phát triển giáo dục Hòa Bình cũng gắn
liền với mục tiêu phát triển KT - XH của tỉnh Hà Sơn Bình và đạt được những kết quả đáng
chú ý.
Riêng về tỉnh Hòa Bình, từ năm 1976 - 1980, sự nghiệp giáo dục Hòa Bình có bước
phát triển mới ở các ngành học, đặc biệt là ngành học mẫu giáo và bổ túc văn hóa. Các xã
đều có trường cấp I và hầu hết có trường cấp II (trừ một số xã vùng cao), riêng cấp III mỗi
huyện có một trường. Với phong trào thi đua “hai tốt”, các điển hình dạy tốt, học tốt được
xuất hiện, chất lượng qua các kỳ thi năm học có sự chuyển biến tích cực.
Năm học 1976 - 1977, số học sinh tốt nghiệp cấp III đạt tỷ lệ 82,7%, cấp II đạt
87,5%, cấp II bổ túc đạt 92%. Trong chiến dịch ánh sáng văn hóa đã xóa mù chữ cho
3.470 người; hoàn thành việc hợp nhất cấp I, cấp II để chuẩn bị cho việc cải cách giáo dục.
Năm học 1977 - 1978, công tác bổ túc văn hóa và mẫu giáo đều thực hiện vượt mức
kế hoạch, ngành học phổ thông tiếp tục phát triển khá, nhiều trường cấp III đã có sự
chuyển biến theo phương thức “vừa học, vừa làm”, thực hiện tốt việc kết hợp giữa Nhà nước
và dân nhân cùng làm, nhiều nơi đã chú trọng tăng cường xây dựng, sửa chữa cơ sở vật chất,
kỹ thuật phục vụ cho năm học mới.
Trong năm học 1978 - 1979, các ngành học, cấp học tiếp tục phát triển, đặc biệt ở
các huyện miền núi. Số học sinh cấp II tăng từ 10 - 20%, cấp III tăng 20% (riêng huyện

đạt hệ chuẩn 10 + 2; 78.2% giáo viên cấp II đạt hệ chuẩn 10 + 3 và Cao đẳng sư phạm;
87% giáo viên cấp III đạt hệ chuẩn 10 + 4 [88, tr.97]. Đội ngũ giáo viên tỉnh Hà Sơn Bình
được đào tạo có hệ thống, có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần chịu đựng khó khăn, nhất
là giáo viên miền núi. Dù đời sống còn nhiều khó khăn, thiếu thốn song đại bộ phận giáo
viên bám trường, bám lớp, nhiều đồng chí thực sự là tấm gương sáng của ngành.
Về công tác xã hội hóa giáo dục, nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Sơn Bình cùng các
cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể chăm lo cho sự nghiệp giáo dục với phương châm

“nhà nước và nhân dân cùng làm”. Trên thực tế, nhiều địa phương, đơn vị trong tỉnh đã
chuyển thành “nhân dân làm, nhà nước hướng dẫn, hỗ trợ”. Do đó đến năm 1985, ngành
giáo dục có gần 700 trường học, trong đó có: 422 trường PTCS, 36 trường THPT, 5
trường trường Cao đẳng sư phạm và Trung học sư phạm [88, tr.97].
Tính trong 10 năm (1975 - 1985) ngành giáo dục tỉnh Hà Sơn Bình đã tu bổ, sửa
chữa và xây dựng được 7.120 phòng. Trong đó, số phòng gạch ngói là 4.284 phòng (chiếm
70%). Tổng số vốn đầu tư 412 triệu đồng (nhà nước đầu tư 125 triệu đồng) [88, tr.98].
Sách giáo khoa, nhất là sách cho các lớp cải cách và thiết bị trong nhà trường cũng được
chú ý hơn.
Thực hiện tốt phương châm cải cách: phát triển đi đôi với củng cố mà trọng tâm là
nâng cao chất lượng toàn diện chú trọng giáo dục đạo đức cách mạng, hướng nghiệp kỹ
thuật tổng hợp cho các nhà trường, cải tiến phương pháp giảng dạy, gắn liền với nhiệm vụ
kinh tế, chính trị của địa phương, do vậy, về công tác tổ chức trong hệ thống giáo dục của
tỉnh cũng được sắp xếp lại. Riêng cấp I thực hiện chương trình thay sách cải cách giáo
dục. Việc huy động trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt tỷ lệ khá cao (vùng đồng bằng là
98%, miền núi là 83%). Tổng số học sinh cấp I trong toàn tỉnh năm học 1984 - 1985 là
254.026 em, chiếm 15,03 % dân số (năm học 1975 - 1976 là 204.006 em). Học sinh cấp II
là 90.826 em và học sinh cấp III là 30.284 em [88, tr.99]. Ngành học phổ thông, nhất là
THPT có nhiều cố gắng trong công tác giáo dục toàn diện về văn hóa, khoa học, về đạo
đức lối sống, về hoạt động văn nghệ thể dục, công tác đoàn, về lao động sản xuất và
hướng nghiệp. Đáng chú ý là tỉnh Hà Sơn Bình đã xây dựng được 8/36 trường THPT vừa
học vừa làm, trong đó có những trường vươn tới trường kiểu mới của cải cách giáo dục

xây dựng bằng tranh tre, nứa lá còn cao, chính sách đối với giáo viên vùng cao, vùng sâu chưa
được thực hiện tốt…Đây là những khó khăn không chỉ riêng đối với tỉnh Hà Sơn Bình mà còn
là những khó khăn chung của cả nước trong bối cảnh lúc bấy giờ. Song, với những kết quả to
lớn đã đạt được, sự nghiệp giáo dục của tỉnh đã góp phần quan trọng vào việc ổn định tình
hình, chính trị - xã hội của địa phương.

Thời kỳ 1986 - 1991, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12-1986) của đảng đã
mở ra công cuộc đổi mới toàn diện trên đất nước ta.
Quán triệt tinh thần nghị quyết đại hội lần thứ VI của Đảng, nghị quyết đại hội lần
thứ IV của Đảng bộ tỉnh Hà Sơn Bình (10 - 1986) và quyết tâm thực hiện lời dạy của chủ
tịch Hồ Chí Minh “dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt” [53,
tr.403]. Năm học 1985 - 1986, toàn tỉnh có 44 vạn học sinh, học viên các ngành học, năm
học 1986 - 1987 đã tăng lên 47 vạn người. Song, thời gian này ngành giáo dục tỉnh Hà
Sơn Bình bộc lộ một số vấn đề đáng quan tâm như: Chất lượng giáo dục toàn diện chưa
cao nên học sinh sau khi ra trường chưa thích ứng kịp với yêu cầu, đòi hỏi của đời sống xã
hội. Mặt khác, tỷ lệ tái mù chữ khá cao, tình trạng xuống cấp làm cho “trường không ra
trường, lớp không ra lớp” khá phổ biến; khu vực Hòa Bình thiếu giáo viên nghiêm trọng
chưa được đáp ứng; nhiều nơi cấp ủy, chính quyền chưa thực sự quan tâm đúng mức đến
công tác giáo dục, chưa kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội…trước tình
hình đó, ngày 19 - 8 - 1987, tỉnh ủy Hà Sơn Bình đã ra chỉ thị số 07/CT - TU “Về việc đẩy
mạnh một số công tác cấp bách trong sự nghiệp giáo dục”. Tiếp đó, tại kỳ họp lần thứ 11,
HĐND tỉnh khóa X (10 - 1987) ra nghị quyết chuyên đề về công tác giáo dục và chỉ rõ:
việc quan trọng hàng đầu và phải tiến hành ngay là kiện toàn đội ngũ giáo viên, ở miền núi
đào tạo đủ giáo viên cấp I, cấp II theo địa chỉ và bố trí dạy đúng môn; có chính sách
khuyết khích giáo viên đồng bằng tình nguyện phục vụ lâu dài ở miền núi; tăng cường đầu
tư cơ sở vật chất kỹ thuật trong các nhà trường; giáo dục toàn diện để xây dựng nhân cách
XHCN cho học sinh; nâng cao chất lượng cuộc vận động “mỗi thầy cô là một tấm gương
cho học sinh noi theo”; coi trọng tổ chức tốt cho giáo viên; kết hợp chặt chẽ giữa gia đình,
nhà trường và xã hội.
Với tinh thần đó, đội ngũ giáo viên của tỉnh không ngừng được tăng cường về số lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status