ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
VŨ THỊ BÍCH HỒNG
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ LÃNH ĐẠO SỰ
NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 1997
ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Thị Thu Hương
Hà Nội - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
VŨ THỊ BÍCH HỒNG
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ LÃNH ĐẠO
SỰ NGHIỆP
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 1997 ĐẾN
NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học công
nghệ của tỉnh Phú Thọ. Việt Trì đang từng bước khẳng định vai trò, vị thế trung tâm
trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt là trong lĩnh vực văn
hóa, giáo dục. Vì vậy, công tác giáo dục luôn được Tỉnh uỷ, Thành uỷ đặc biệt quan
tâm trong chiến lược phát triển thành phố nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nguồn
1
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài góp phần tích cực vào công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước xây dựng thành phố Việt Trì ngày càng giàu mạnh. Sau khi
tách từ tỉnh năm 1997, thành phố đã có nhiều thành tựu trong mọi lĩnh vực, giáo dục
cũng đạt được nhiều tiến bộ đặc biệt là trong thiên niên kỷ đầu của thế kỷ XXI.
Giáo dục thành phố đã có nhiều khởi sắc hệ thống các trường học được củng cố, đặc
biệt là hệ thống giáo dục phổ thông được chú trọng từ giáo dục tiểu học, giáo dục
trung học cơ sở, giáo dục trung học phổ thông. Hiện nay, thành phố đang hướng tới
việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của giáo dục phổ thông. Đạt được những kết quả
đó ngành giáo dục Phú Thọ cũng như của thành phố đã có những hướng đi đúng
trong việc xây dựng, phát triển và quản lý dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên,
bên cạnh những kết quả đã dạt được, sự nghiệp lãnh đạo công tác giáo dục phổ
thông của thành phố Việt Trì còn nhiều hạn chế, bất cập như chất lượng giáo dục
giữa các cấp, các ngành học còn chưa đồng đều, cơ sở vật chất còn nhiều khó khăn,
cơ cấu đào tạo, nhất là chất lượng giáo dục chưa thực sự đáp ứng được những đòi
hỏi về cung cấp nguồn nhân lực xã hội chất lượng cao cho công cuộc đổi mới, xây
dựng và phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, của tỉnh cũng như toàn quốc. Có
nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là
những hạn chế và bất cập trong quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông, bao gồm
cả cơ chế, chính sách, biện pháp tổ chức thực hiện.
Với mong muốn tìm hiểu về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, quá
trình vận dụng quan điểm, đường lối của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh phát triển
sự nghiệp giáo dục phổ thông của Đảng bộ thành phố Việt Trì từ năm 1997 đến năm
lượng nguồn nhân lực. Những bài học thực tiễn từ Nhật Bản của tác giả Đặng Thị
Thanh Huyền, Nxb Khoa học Xã hội năm 2001; Nhà trường phổ thông qua các thời
kỳ lịch sử của tác giả Nguyễn Đăng Tiến, Nxb Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
năm 2001; Suy nghĩ về các giải pháp phát triển giáo dục phổ thông nước ta hiện
nay của tác giả Trần Viết Lưu đăng trên tạp chí Giáo dục số 92 năm 2002; Tiếp cận
chất lượng giáo dục phổ thông dưới góc độ mục tiêu đào tạo của tác giả Huỳnh
Công Minh đăng trên tạp chí Giáo dục số 92 năm 2004…ngoài ra còn rất nhiều các
bài viết, các công trình nghiên cứu đề cập đến giáo dục phổ thông như một số luận
văn chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam viết về vấn đề này: Đảng bộ
tỉnh Hưng Yên lãnh đạo sự nghiệp giáo dục- đào tạo từ năm 1997 đến năm
2006”của tác giả Phạm Thị Hồng Thiết; Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo sự
nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 1996- 2006 của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh;
Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục- đào tạo từ 1991 đến năm
3
2000 của tác giả Lương Thị Hòe; Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo sự nghiệp giáo
dục phổ thông từ năm 1996- 2005 của tác giả Nguyễn Thị Quế Liên…
- Nhóm thứ ba là những bài viết, công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề
giáo dục của tỉnh Phú Thọ, của thành phố Việt Trì như Trường trung du tập III của
sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ - Báo Phú Thọ năm 1999, Lịch sử Đảng bộ tỉnh
Phú Thọ, Nxb Chính trị Quốc gia năm 2002; Giáo dục – Đào tạo Phú Thọ: Sự
nghiệp “ trồng người” trên mảnh đất cội nguồn của Thu Hà, Việt Cường, Tạp chí
Đông Nam Á, số 11 năm 2004; Phát huy truyền thống dạy và học trên vùng đất Tổ
của tác giả Phan Văn Lân, Tạp chí Thương mại số 13 năm 2005; Lịch sử Đảng bộ
thành phố Việt Trì, Nxb Chính trị quốc gia năm 2007...
Các đề tài nghiên cứu khoa học và các tài liệu đề cập ở trên đã phác họa một
số thực trạng, và đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường lãnh đạo của Đảng trong
sự nghiệp giáo dục phổ thông ở giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, trên thực tế thành
phố Việt Trì có những nét đặc trưng riêng khác với các địa phương khác và nền
lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh ủy, Đảng bộ Thành phố, sự quản lý của phòng giáo dục
– đào tạo của thành phố Việt Trì từ năm 1997 đến năm 2010, đánh giá những thành
tựu, hạn chế, nguyên nhân và đúc kết một số kinh nghiệm chủ yếu.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu quá trình Đảng bộ thành phố Việt Trì quán
triệt đường lối giáo dục của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy trong việc lãnh đạo thực
hiện công tác giáo dục phổ thông từ năm 1997 đến năm 2010.
Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Đảng bộ thành phố Việt Trì quán triệt đường lối giáo dục của Trung
ương Đảng, Tỉnh ủy trong việc lãnh đạo thực hiện phát triển giáo dục phổ thông.
- Không gian: khảo sát các trường phổ thông thuộc quản lý của phòng giáo
dục – đào tạo thành phố Việt Trì.
- Thời gian : từ năm 1997 đến năm 2010.
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tài liệu
- Nguồn tài liệu chủ yếu là các văn kiện của Đảng và nhà nước, của Tỉnh ủy, Thành
ủy, HĐND, UBND tỉnh và thành phố về công tác giáo dục phổ thông. Các tác phẩm các
bài phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước.... Các bài báo in trong các tạp
chí Cộng sản, giáo dục….Các văn bản, chỉ thị, nghị quyết, quyết định của Đảng bộ tỉnh
Phú Thọ, Đảng bộ thành phố Việt Trì về giáo dục, các báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào
5
tạo về giáo dục phổ thông. Đặc biệt là các báo cáo tổng kết năm học, của Sở Giáo dục và
Đào tạo tỉnh Phú Thọ, của Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Việt Trì.
Quá trình nghiên cứu đề tài tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ
nghĩa Mác - Lênin, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với các quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục để nghiên cứu.
5.2. Phương pháp pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 1:
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ LÃNH ĐẠO
SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC PHỔ THÔNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU
ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005
1.1. Đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của thành phố Việt Trì
và yêu cầu đặt ra đối với sự nghiệp giáo dục phổ thông khi thành phố mới
được thành lập
1.1.1. Đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của thành phố Việt Trì
và những yếu tố tác động đến công tác giáo dục phổ thông
1.1.1.1. Vị trí địa lý và lịch sử
Thành phố Việt trì nằm ở hợp lưu của ba dòng sông (sông Hồng, sông Lô,
sông Đà) hay còn được gọi với tên thân thuộc “ thành phố ngã ba sông”, nơi có lịch
sử, xây dựng và phát triển lâu đời, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học
kỹ thuật của tỉnh Phú Thọ. Thành phố đến năm 2005 có diện tích là 76,2 km2, có
ranh giới phía Đông giáp với huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc, phía Tây giáp với
huyện Lâm Thao, phía Nam giáp với huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc và huyện
Ba Vì tỉnh Hà Tây (cũ), phía Bắc giáp với huyện Phù Ninh. Việt Trì là thành phố
nằm ở vị trí chuyển tiếp từ địa hình đồi núi sang địa hình đồng bằng, đỉnh của tam
giác châu thổ Sông Hồng [2, tr.13]. Việt Trì là cửa ngõ án ngữ các tuyến giao thông
thủy, bộ ở phía Bắc Việt Nam, không chỉ có vị trí quan trọng về kinh tế – xã hội mà
còn là trọng điểm về quân sự.
Ngay từ buổi bình minh dựng nước, các vua Hùng đã chọn nơi đây là “ kinh
đô” của nước Văn Lang - nhà nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Trải qua hàng
ngàn năm lịch sử, các thế hệ người dân Việt Trì kế tiếp nhau phát huy truyền thống
tương thân, tương ái, tình làng nghĩa xóm, cần cù trong lao động sản xuất, đoàn kết,
dũng cảm trong đấu tranh chống thiên tai và kẻ thù xâm lược.
Từ ngày Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, Đảng bộ và nhân dân Việt Trì đã cùng với nhân dân cả nước vùng lên đấu tranh
trên đà phát triển nhanh, mạnh ở nhiều phương diện lĩnh vực xứng đáng là trung
tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, công nghiệp, du lịch
của tỉnh Phú Thọ và là thành phố lễ hội về với cội nguồn của dân tộc Việt Nam.
Trải qua gần nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, Việt Trì đã đạt được nhiều
thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, bộ mặt của thành phố từng
bước được thay da đổi thịt; đời sống của nhân dân nâng cao. Từ một thành phố công
9
nghiệp đầu tiên của miền Bắc xã hội chủ nghĩa đến nay Việt Trì vẫn luôn khẳng định
là trung tâm tỉnh lỵ về các lĩnh vực chính trị, hành chính, kinh tế – xã hội và ngày
càng thể hiện rõ chức năng là trung tâm vùng trung du miền núi Bắc Bộ.
1.1.1.2. Các nguồn lực phát triển giáo dục
Điều kiện tự nhiên
Thành phố Việt Trì nằm ở phía đông của tỉnh Phú Thọ, phía bờ tả ngạn sông
Hồng, nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội 70 km về phía Tây Bắc, cách thành phố
Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc là 25 km về phía Tây.
Nằm ở Ngã ba Hạc, nơi có con sông Thao đỏ nước phù sa hợp lưu với dòng
sông Lô và sông Đà xanh biếc, đối diện với huyện Ba Vì (Hà Nội). Vì thế, Việt Trì
còn được biết đến với cái tên thân thương: Thành phố ngã ba sông. Đơn vị hành
chính của Việt Trì (đến năm 2008) gồm 23 phường, xã. 13 phường: Bạch Hạc, Bến
Gót, Thanh Miếu, Thọ Sơn, Tiên Cát, Gia Cẩm, Nông Trang, Vân Cơ, Dữu Lâu, Tân
Dân, Minh Phương, Minh Nông, Vân Phú. 10 xã: Sông Lô, Trưng Vương, Phượng
Lâu, Thụy Vân, Tân Đức, Chu Hóa, Thanh Đình, Kim Đức, Hùng Lô, Hy Cương.
Thành phố Việt Trì được thành lập vào ngày 4 tháng 6 năm 1962, nằm trong
khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc. Với vị trí
ngã ba sông cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội, cách Hà Nội 80 km, cách sân bay
Nội Bài 60 km, cách cửa khẩu Lào Cai hơn 200 km, cách cảng Hải Phòng 170 km.
Việt Trì là thành phố trung du tiểu vùng gò, đồi thấp bị chia cắt nhiều, xen kẽ
là đồng ruộng và dải đồng bằng ven sông Hồng, hữu Lô, tả Đáy. Vùng này thuận lợi
cho nông nghiệp đang bị thu hẹp dần, tiềm năng lao động vẫn chưa được khai thác hết.
- Dịch vụ: Tỷ trọng của ngành dịch vụ tăng lên hàng năm, chiếm tỷ trọng cao
của cả tỉnh với các ngành dịch vụ: du lịch, bưu chính viễn thông... đáp ứng được
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Ngành giao thông vận tải Việt trì với vai trò là thành phố công nghiệp, vị trí
là thành phố ngã ba sông và đang phấn đấu trở thành đô thị loại I, trở thành thành
phố lễ hội về với cội nguồn trước năm 2015 nên trong những năm gần đây cơ sở hạ
tầng của thành phố được đầu tư xây dựng khá đồng bộ. Nhiều tuyến đường được
đầu tư cải tạo, nâng cấp, xây mới theo đúng tiêu chuẩn đường nội thị đảm bảo giao
thông luôn được thông suốt. Việc vận chuyển hàng hoá thuận lợi trên cả đường ôtô,
đường sắt, đường sông,...Thành phố Việt Trì có quốc lộ 2 nối thủ đô Hà Nội với các
tỉnh thuộc tiểu vùng Tây Bắc, đồng thời còn có tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai
chạy qua nơi này. Số phương tiện vận tải tăng nhanh. Ngành thông tin liên lạc cũng
phát triển với số thuê bao điện thoại ngày càng tăng 125 thuê bao/ 100 dân.
11
Từ một nền kinh tế tự cấp, tự túc, lấy nông nghiệp làm chủ đạo của những
ngày đầu mới thành lập, sau 50 năm xây dựng và phát triển thành phố Việt Trì đã có
cơ cấu kinh tế hợp lý: Công nghiệp – xây dựng 63,2%; dịch vụ 33,6%; nông – lâm
thủy sản 3,2%. Tổng nguồn vốn đầu tư cho phát triển trên địa bàn thành phố năm
2010 ước đạt 4.000 tỷ đồng; thu nhập bình quân đầu người đạt 27,68 triệu
VNĐ/người, tương đương với 1.383,96 USD/người, tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí
mới chỉ còn 4,42%; số thuê bao điện thoại tăng đáng kể; giá trị xuất khẩu đạt 360
triệu USD. Việt Trì là thành phố đứng đầu về phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Điều kiện xã hội
Với đặc điểm địa lý và điều kiện tự nhiên như vậy, thành phố Việt Trì có một
vị trí đặc biệt quan trọng cả về kinh tế và quân sự của tỉnh cũng như cả nước. Nằm
trong cái nôi văn minh lúa nước Sông Hồng, Việt Trì vinh dự là mảnh đất cội nguồn
hình giáo dục, mở rộng không gian và quy mô mạng lưới giáo dục. Giáo dục phổ
thông của Việt Trì luôn đứng đầu cả tỉnh về tỷ lệ học sinh đến trường cao, tỷ lệ học
sinh tốt nghiệp THPT, tỷ lệ học sinh thi vào THPT.
Thành phố Việt Trì đã và đang làm tốt hơn công tác quản lý và phát triển
giáo dục phổ thông. Các chính sách nhằm thu hút các thầy, cô giáo được thực hiện
có bài bản. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ Tỉnh ủy, Đảng bộ Thành ủy, Sở
Giáo dục và Đào tạo giao chỉ tiêu cho các Phòng giáo dục thực hiện đúng chủ
trương, chính sách của Đảng, của Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND tỉnh trong việc
thu hút nhân tài phục vụ giáo dục. Theo đó, các chính sách về tiền lương, phụ cấp
giáo dục, luân chuyển cán bộ giáo dục được thực hiện tốt đã thực sự mang lại làn
gió mới trong xã hội hoá giáo dục. Tuy vẫn còn đó ngổn ngang những thách thức
nhưng mục tiêu phải phát triển kinh tế song song với quá trình phát triển nền giáo
dục phổ thông luôn được đặt lên hàng đầu.
Thành phố Việt Trì có truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo. Đảng bộ,
nhân dân đoàn kết thống nhất, chú trọng và quan tâm đến sự nghiệp giáo dục. Bên
cạnh đó, Phú Thọ là căn cứ chuyển tiếp lên chiến khu Việt Bắc (thời chống Pháp)
với nhiều trụ sở các cơ quan của Trung ương, nhiều trường đại học tản cư qua các
cuộc chiến tranh đã giúp nhân dân biết làm giáo dục trong hoàn cảnh khó khăn. Môi
trường giáo dục tốt, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo là điều
kiện phát triển giáo dục.
- Khó khăn: Là thành phố của một tỉnh trung du, miền núi, toàn tỉnh có
215/273 xã miền núi, trong đó có 50 xã đặc biệt khó khăn, mức sống của người dân
thấp, nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của giáo dục,
Với sự phân bố dân cư không đồng đều giữa các xã, phường trong thành phố
nên số lượng học sinh giữa các địa phương cũng có sự khác biệt khá lớn. Đối với
13
các địa phương có điều kiện phát triển về kinh tế - xã hội, tập trung đông dân cư
như các phường ở trung tâm thành phố Việt Trì. Số lượng học sinh, chất lượng học
14
và thực tế, kết hợp giữa giáo dục nhà trường, gia đình và toàn xã hội. Trong những
năm vừa hăng say sản xuất, xây dựng thành phố hòa mình vào với nhân dân cả nước
là hậu phương vững chắc cho miền Nam. Phát triển sự nghiệp văn hóa giáo dục trong
điều kiện còn nhiều khó khăn nên cấp ủy, chính quyền thường xuyên quan tâm chỉ
đạo. Ngay những ngày đầu chiến tranh, Đảng và nhà nước đã có những chủ trương
kịp thời, đúng đắn nhằm tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp trồng người
Theo chỉ đạo của Tỉnh ủy, từ ngày 15 đến ngày 19 tháng 2 năm 1975, Đại
hội Đảng bộ thành phố Việt Trì lần thứ VIII đã được tổ chức tại Hội trường ủy ban
nhân dân thành phố. Đại hội tổng kết, kiểm điểm việc thực hiện Nghi quyết Đại hội
lần thứ VII, đưa ra mục tiêu, phương hướng phát triển thành phố trong nhiệm kỳ
mới. Sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cách mạng
nước ta bước sang giai đoạn mới với hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Việt Trì là một
thành phố trẻ ra đời trong giai đoạn đầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
của miền Bắc. Từ năm 1968, hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ hợp nhất thành tỉnh
Vĩnh Phú, Việt Trì được xác định là thành phố tỉnh lỵ, trung tâm kinh tế, văn hóa,
chính trị của tỉnh. Trong những năm 1976-1985, Việt Trì khôi phục và phát triển
kinh tế sau chiến tranh, từng bước ổn định đời sống nhân dân, đóng góp sức người
sức của vào cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương. Sự nghiệp văn hóa, xã hội vẫn duy
trì nề nếp hoạt động và có bước phát triển mới. Giáo dục phổ thông trong giai đoạn
này có nhiều tiến bộ: số học sinh phổ thông hàng năm đều tăng từ 8-10%. Số học
sinh giỏi các cấp tăng lên, trong đó có cả học sinh thành phố tham gia thi học sinh
giỏi toàn quốc và đạt giải. Chất lượng dạy và học ngày càng được nâng lên. Đội ngũ
giáo viên được bổ sung và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ về
chính trị, nghiệp vụ sư phạm theo yêu cầu từng bước của cải cách giáo dục. Tháng
7/1978, trường cấp III Việt Trì mở hệ vừa học, vừa làm vào dịp hè. Tuy số lượng
không lớn, mới tổ chức được 3 lớp (1 lớp 8, 2 lớp 9) với 130 học sinh, nhưng đây
các trường học của thành phố theo quy mô hợp lý. Cơ chế giáo dục đổi mới theo
hướng đa dạng hóa các loại hình trường lớp và các hình thức dạy học mở rộng cấp 1
và nâng cao chất lượng cấp 2, xây dựng các trường bán công, dân lập, trường
chuyên, lớp chọn, lớp dành cho trẻ em khuyết tật, lớp học nghề…ngày càng đáp
ứng đượccỏ bản nhu cầu đi học của con em thành phố. Số học sinh giỏi tăng lên
nhiều học sinh đạt giải quốc gia và tỉnh, mạng lưới trường học được ngói hóa tăng
từ 23 trường năm 1988 lên 28 trường năm 1990. Đội ngũ giáo viên của các cấp
được quan tâm bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ và đời sống. Lãnh đạo Tỉnh ủy và
Thành ủy quan tâm đặc biệt đến công tác giáo dục và đào - tạo, với phương châm vì
lợi ích 10 năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người như Bác
16
Hồ đã dạy. Đến năm 1995, cứ 1000 người dân thành phố thì có 257 người học phổ
thông, phổ cập tiểu học hoàn thành và giữ vững, có 7 phường, xã đạt tiêu chuẩn phổ
cập cấp II. Chất lượng giáo dục mũi nhọn và đại trà ngày càng được nâng lên.
Để đạt được những bước tiến trong giáo dục - đào tạo nói chung và giáo dục
phổ thông nói riêng, Đảng bộ tỉnh ủy, Đảng bộ thành ủy, Sở Giáo dục và Đào tạo của
tỉnh, phòng Giáo dục và Đào tạo của Việt Trì luôn quán triệt sâu sắc đường lối, chủ
trương, chỉ thị, các nghị quyết của Trung ương, vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực
tiễn, đề ra được các nhiệm vụ và biện pháp thực hiện phù hợp với điều kiện của thành
phố. Tuy nhiên bên cạnh những thành quả đã đạt được thì giáo dục phổ thông vẫn còn
có nhiều khó khăn như chất lượng giáo dục ở các xã vùng ven có tiến bộ nhưng vẫn
còn có sự chênh lệch với các phường. Quy mô trường lớp được mở rộng tăng lên
nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của con em nhân dân thành phố, sĩ số
học sinh một lớp khá đông trên 50 học sinh/ lớp rất khó khăn trong việc giảng dạy và
quản lý. Cơ sở vật chất đã được quan tâm nhưng vẫn chưa được đồng bộ, chưa đáp ứng
được nhu cầu của giáo dục trong thời kỳ đổi mới, vẫn còn nhiều lớp học tạm, lớp học 3
ca, thiếu lớp học. Cơ sở vật chất còn thiếu thốn như bàn ghế cho học sinh, đồ dùng dạy
học, sách giáo khoa. Đội ngũ giáo viên đã được quan tâm nhưng chất lượng chưa được
trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn; bổ sung những thành tựu khoa học và
công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh. Đảm bảo sự thống
nhất, kế thừa và phát triển của chương trình giáo dục, tăng cường tính liên thông
giữa giáo dục phổ thông với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; thực hiện phân
luồng trong hệ thống giáo dục quốc dân để tạo sự cân đối về cơ cấu nguồn nhân lực;
bảo đảm sự thống nhất về chuẩn kiến thức và kỹ năng, có phương án vận dụng
chương trình, giáo dục phù hợp với hoàn cảnh và hoàn cảnh của các địa bàn khác
nhau. Đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học phải được
thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp và đổi mới trang thiết bị dạy học, tổ chức đánh
giá, thi cử, chuẩn hóa trường sở, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và công tác quản lý
giáo dục.
Nghị quyết số 41/2000/QH10 về việc thực hiện phổ cập giáo dục trung học
cơ sở với mục tiêu “phổ cập giáo dục trung học cơ sở giai đoạn 2001-2010 là phải
đảm bảo cho hầu hết thanh niên, thiếu niên sau khi tốt nghiệp tiểu học tiếp tục học
tập để đạt trình độ trung học cơ sở trước khi hết tuổi 18, đáp ứng yêu cầu nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đấy nước” [137]
18
Ngày 28/12/2000, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII ra Chỉ thị số
61/CT-TW về việc thực hiện phổ cập Trung học cơ sở. Chỉ thị đã khẳng định:
“Việc thực hiện phổ cập giáo dục Trung học cơ sở giai đoạn 2001- 2010 có ý nghĩa
quan trọng góp phần phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước’[3; tr.501]
15 năm đất nước bước vào đổi mới, 10 năm thực hiện chiến lược ổn định và
phát triển kinh tế- xã hội từ năm 1991 đến năm 2000, sau 5 năm thực hiện Nghị
quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII. Từ thực tiễn đổi mới đất nước nói chung và đổi
mới trong ngành giáo dục - đào tạo nói riêng, tiếp tục tinh thần của Nghị quyết
của các vùng, miền, đất nước
- Phát triển quy mô giáo dục cả đại trà và mũi nhọn, trên cơ sở đảm bảo chất
lượng và điều chỉnh cơ cấu đào tạo, gắn đào tạo với phát triển kinh tế xã hội. Hoàn
thành cơ bản phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010, củng cố kết quả phổ cập tiểu
học, đặc biệt ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Tiếp tục xóa mù chữ, ngăn ngừa tái mù
chữ, giáo dục cho người lớn. Thực hiện phổ cập trung học ở những nơi đã phổ cập
xong trung học cơ sở.
- Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện tất cả mọi học
sinh đều có thể đến trường, mọi người đều có thể học tập, học tập suốt đờì. Có
chính sách hỗ trợ những học sinh, sinh viên thuộc các đối tượng chính sách xã hội,
gia đình nghèo. Ưu tiên phát triển giáo dục vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu
số. Củng cố và tăng cường hệ thống trường nội trú, bán trú, miễn phí học tập, cung
cấp sách giáo khoa cho học sinh vùng dân tộc thiểu số. Thực hiện tốt chế độ đãi ngộ
giáo viện vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số nhằm đảm bảo số lượng giáo
viên cho các vùng này.
Để làm tốt các nhiệm vụ, mục tiêu trên, cần tập trung làm tốt các nhiệm vụ sau:
- Đổi mới mạnh mã quản lý nhà nước về giáo dục: tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về giáo dục; coi việc phát triển và nâng
cao chất lượng giáo dục- đào tạo là một chỉ tiêu phấn đấu xây dựng đảng bộ trong
sạch vững mạnh. Tăng cường trật tự kỷ cương trong các trường học và toàn bộ hệ
thống giáo dục, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong giáo dục.
Thực hiện mạnh mẽ phân cấp quản lý giáo dục; phát huy tính chủ động, tự chịu trách
nhiệm của các cơ sở giáo dục, nhất là các trường đại học, trách nhiệm của ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố và các huyện, quận trong việc thực hiện quản lý nhà nước
về giáo dục. Tiếp tục xây dựng đồng bộ và kịp thời hoàn thiện các văn bản pháp lý
giáo dục. Xác định và thể chế hóa vai trò, chức năng các cấp quản lý. Hoàn thiện tổ
20
chức bộ máy quản lý giáo dục từ Bộ giáo dục và đào tạo đến các cơ sở giáo dục.
21
nhà khoa học trong nước giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng. Ngày
3/12/2004, Quốc hội ra Nghị quyết số 37/2004/QH11 về giáo dục với mục tiêu lớn
là hoàn thiện hệ thống giáo dục, đổi mới toàn diện, nâng cao hệ thống trường lớp,
đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý.
- Tiếp tục hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng đa dạng
hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa và xã hội hóa, liên thông, tổ chức phân luồng sau trung
học cơ sở và trung học phổ thông theo hướng xây dựng cơ cấu đào tạo hợp lý, gắn
với yêu cầu của thị trường lao động. Nghiên cứu chuyển dần một số trường phổ
thông và dạy nghề dân lập hiện có sang loại hình tư thuộc; tiếp tục phát triển các
loại hình trường ngoài công lập trên cơ sở đảm bảo chất lượng và các điều kiện dạy
và học; đảm bảo quản lý nhà nước đối với loại hình trường này.
- Tăng cường đầu tư cho giáo dục - đào tạo dung với yêu cầu quốc sách hang
đầu. Đổi mới cơ chế, chính sách nhằm huy động mọi nguồn lục có thể huy động để
phát triển giáo dục, bảo đảm tốc độ chi ngân sách cho giáo dục hằng năm cao hơn
tốc độ tăng chi ngân sách Nhà nước; tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục- đào tạo sẽ tùy
thuộc vào điều kiện cụ thể mà quyết định, nhưng không thấp hơn tỷ lệ chi ghi trong
Chiến lược giáo dục. Đa dạng hóa các nguồn đầu tư từ các thành phần kinh tế. Phát
hành trái phiếu giáo dục.
- Xóa lớp học 3 ca, thực hiện kiên cố hóa trường lớp sau 5 năm và đạt chuẩn
quốc gia hầu hết các trường học sau 10 năm. Dành đủ đất cho xây dựng, phát triển
trường học, nhất là ở nông thôn. Triển khai nhanh chủ trương xây dựng ký túc xá cho
sinh viên, học sinh và nơi ở cho các giáo viên được điều động đến vùng khó khăn.
- Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân là
một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục. Nhà nước khuyến khích
mọi đóng góp của tất cả các cơ quann, đoàn thể, các tổ chức kinh tế, tổ chức cá
nhân, toàn dân. Tập trung đầu tư cho giáo dục ở vùng sâu, vùng dân tộc, những đối
tượng gặp khó khăn. Thực hiện chương trình giáo dục cho mọi người. Hoàn thiện