ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010 - Pdf 48

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------

PHẠM NGỌC

ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội – 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------

PHẠM NGỌC

ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành

: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam


lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn.
Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân,
Phòng thống kê, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tuyên Quang đã tận tình giúp
đỡ nguồn tư liệu để tôi hoàn thành luận văn này.
Trong quá trình thực hiện luận văn, dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do
thời gian không nhiều, khả năng có hạn nên bản luận văn này không tránh
khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến
của các thầy cô giáo và các bạn để tác giả nâng cao khả năng nghiên cứu của
mình trong thời gian tới.
Hà Nội, ngày 25 tháng 2 năm 2018
Học viên


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài...........................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn.................................2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................................6
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu...................................................7
6. Đóng góp của luận văn..................................................................................8
7. Bố cục của luận văn......................................................................................8
Chương 1. CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN
QUANG ĐỐI VỚI GIÁO DỤC MẦM NON GIAI ĐOẠN 1991 - 2000..............9
1.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và chủ
trương của Đảng bộ.........................................................................................9
1.1.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh............................9
1.1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang.........................................20
1.2. Chỉ đạo thực hiện...................................................................................26
1.2.1. Tổ chức hoạt động dạy và học...............................................................26

ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục.......................................................82
Tiểu kết chương 3..........................................................................................85
KẾT LUẬN....................................................................................................86
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................88
PHỤ LỤC ......................................................................................................96


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Cụm từ đầy đủ
Ban Chấp hành Trung ương
Cơ sở vật chất
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

:
:
:

Cụm từ viết tắt
BCHTƯ
CSVC
CNH - HĐH

Cán bộ quản lý
Chủ nghĩa xã hội

:
:

CBQL
CNXH



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng, chủ yếu để giữ gìn, phát triển
và truyền bá văn minh của nhân loại. Trong thời đại khoa học phát triển như
ngày nay thì trí tuệ của con người có ý nghĩa hàng đầu, trở thành nền móng và
là động lực chính cho sự phát triển và tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội.
Trong bối cảnh đó giáo dục đào tạo trở thành nhân tố quyết định đối với sự
phát triển bền vững của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và mỗi con người. Chính vì
vậy mà quốc gia nào cũng phải xem trọng nền giáo dục trước nhất.
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo không thể đạt được kết quả ngay trong
một sớm một chiều mà phải trải qua một quá trình diễn ra liên tục trong nhiều
năm theo các bậc học khác nhau: từ mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung
học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, đại học…Trong quá trình
đào tạo đó, GDMN giữ vai trò quan trọng, có ý nghĩa nền tảng, đặt những
viên gạch đầu tiên cho sự phát triển của GD.
Đặt nhiệm vụ, mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng con
người và thế hệ thiết tha, gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có
đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực
hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giữ gìn và phát huy các giá trị
văn hóa của dân tộc, ĐCSVN hết sức chú trọng phát triển các bậc học; trong
đó có GDMN. Như vậy, giáo dục có tác động to lớn đến toàn bộ đời sống vật
chất và tinh thần của xã hội; trong đó, GDMN giữ một vai trò quan trọng
trong hệ thống giáo dục quốc dân. GDMN là bậc học đầu tiên của nền giáo
dục quốc dân, có vai trò đặc biết quan trọng trong việc đặt nền móng và phát
triển nhân cách của con người.
Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ngày càng phát triển về mọi mặt,
kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục... cho nên nhu cầu đời sống vật chất cũng


nền kinh tế, xã hội của cả nước nói chung và của tỉnh Tuyên Quang nói riêng.

2


Trong nhiều năm qua đã có nhiều cá nhân, tập thể ở nhiều lĩnh vực và quan
điểm khác nhau về nghiên cứu lịch sử giáo dục tỉnh Tuyên Quang nói chung,
về GDMN của Tuyên Quang và sự lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh đối với
GDMN nói riêng, tiêu biểu là các công trình nghiên cứu sau:
* Về giáo dục và giáo dục mầm non nói chung
Năm 1999, cuốn sách Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa XXI, của
Phạm Minh Hạc do nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội in ấn đã tập trung
trình bày tính chất của nền giáo dục, nguyên lý, nội dung, hệ thống giáo dục ở
Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử, từ GDMN đến giáo dục đại học, phân tích
mối quan hệ giữa giáo dục và việc phát triển nguồn nhân lực, các nguồn lực
phát triển giáo dục và những suy nghĩ về phương hướng phát triển giáo dục
trong thời gian tới.
Trong năm 1999, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội phát hành cuốn sách
Về vấn đề giáo dục - đào tạo của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Cuốn sách là
tập hợp các bài viết nhằm quán triệt những tư tưởng, quan điểm về giáo dục đào tạo của Đảng từng bước thực hiện đường lối giáo dục đó, thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Năm 1999, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội cho in cuốn sách Phương
pháp phát triển trí tuệ cho trẻ em (mầm non và tiểu học) của tác giả Nguyễn
Công Khanh, đây là tài liệu hướng dẫn, tư vấn có chiều sâu, dựa trên những
trải nghiệm, thực nghiệm những ý tưởng nghiên cứu, triết lí, mô hình giáo dục
mới. Cuốn sách là một tài liệu bổ ích nhằm giúp giáo viên, các bậc phụ huynh
hiểu biết tốt hơn về sự phát triển tâm – sinh lí trẻ mầm non, tiểu học; cung cấp
những tri thức, phương pháp, giúp giáo viên, phụ huynh hiểu được sự phát
triển trí tuệ của trẻ; đồng thời nắm được các phương pháp giáo dục trí tuệ cụ
thể như biết cách thiết lập các câu hỏi, các bài tập/ tình huống/ nhiệm vụ... kĩ

Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục – đào tạo (1991 2000) của tác giả Lương Thị Hòe, luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Đại học Quốc gia
Hà Nội, 1998; Nguyễn Thị Thanh, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo sự
nghiệp giáo dục đào tạo từ năm 1997 đến năm 2006, Luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Lịch sử Đảng CSVN, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn –

4


ĐHQGHN, 2011; Đảng Bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào
tạo từ năm 1997 đến năm2006 của tác giả Phạm Hồng Thiết, luận văn Thạc sĩ
Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009; Nguyễn Thị Hương, Đảng bộ tỉnh
Vĩnh Phúc lãnh đạo giáo dục mầm non từ năm 1997 đến năm 2010, Luận văn
Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng CSVN, Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn – ĐHQGHN đó đáng chú ý là luận văn của Bùi Thị Thu Hương,
Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo giáo dục mầm non từ năm 1997 đến năm
2010, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng CSVN, Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã trình bày
một cách hệ thống đường lối, chủ trương của Đảng về GDMN, phân tích quá
trình vận dụng của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc khi đề ra chủ trương, giải pháp
phát triển GDMN ở địa phương từ năm 1997 đến năm 2010; đánh giá khách
quan những thành tựu, hạn chế của GDMN ở tỉnh Vĩnh Phúc và tổng kết một
số kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo
GDMN.
Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của
nền kinh tế xã hội của cả nước nói chung, của Tuyên Quang nói riêng. Trong
nhiều năm qua đã có nhiều cá nhân, tập thể ở nhiều lĩnh vực với nhiều quan
điểm khác nhau nghiên cứu về lịch sử giáo dục Tuyên Quang. Trong đó có
một số công trình nghiên cứu sau:
Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục: “Các biện pháp phát triển đội ngũ
cán bộ quản lí trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang” của tác giả

Rút ra một số kinh nghiệm từ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên
Quang đối với GDMN những năm 1991 - 2010.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với GDMN từ
năm 1991 đến năm 2010.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung khoa học: Những quan điểm, chủ trương, biện pháp và giải
pháp tổ chức thực hiện của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với GDMN trên

6


các nội dung: Tổ chức hoạt động dạy và học; xây dựng đội ngũ giáo viên và
cán bộ quản lý; xây dựng cơ sở vật chất và mở rộng mạng lưới trường lớp;
thực hiện xã hội hóa và công bằng trong GDMN...
Về thời gian: giới hạn nghiên cứu trong19 năm với mốc bắt đầu nghiên
cứu là năm 1991 (mốc tái lập tỉnh Tuyên Quang; đồng thời, cũng là thời điểm
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XI được tổ chức) và mốc
kết thúc nghiên cứu là năm 2010 (thời điểm Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh
Tuyên Quang lần thứ XV được tổ chức; trong đó, đã tổng kết về phát triển
GDMN của giai đoạn trước). Tuy nhiên, để có cái nhìn hệ thống và xuyên
suốt, luận văn có mở rộng thời gian nghiên cứu về trước năm 1991.
Về không gian: địa bàn tỉnh Tuyên Quang.
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu
Để thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng các nguồn tư liệu gồm có: các
văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục; Văn kiện của Đảng bộ
tỉnh Tuyên Quang, đề án phát triển giáo dục của tỉnh, báo cáo tổng kết của Sở
Giáo dục tỉnh Tuyên Quang....và một số công trình chuyên khảo, tham khảo

7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo và Phục
lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang
đối với giáo dục mầm non giai đoạn 1991 – 2000.
Chương 2: Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với giáo
dục mầm non giai đoạn 2001 – 2010.
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm.

8


Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN
QUANG ĐỐI VỚI GIÁO DỤC MẦM NON GIAI ĐOẠN 1991 - 2000
1.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và
chủ trương của Đảng bộ
1.1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
1.1.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội
Là một tỉnh thuộc vùng đông bắc, Tuyên Quang có toạ độ địa lý từ
21030' đến 22041' vĩ độ bắc từ 104 050' đến 105035' kinh độ đông. Phía bắc và
tây bắc, Tuyên Quang giáp Hà Giang với một số dãy núi cao, phía đông và
đông bắc giáp Thái Nguyên, Bắc Kạn và Cao Bằng, phía tây giáp Yên Bái,
phái nam giáp Phú Thọ, Vĩnh Phúc.
Diện tích tự nhiên của tỉnh là 5820,02 km2 (chiếm 1,76% diện tích cả
nước) với dân số 685,792 người (chiến 0,88 dân số cả nước)[6; tr. 265]
Về mặt vị trí địa lý, Tuyên Quang có những thuận lợi và khó khăn nhất
định trong việc phát triển kinh tế - xã hội.
Nhờ có quốc lộ 2, tuyến giao thông huyết mạch chậy trên địa bàn của
tỉnh dài khoảng 90 km, Tuyên Quang có thể giao lưu với Hà Giang, xa hơn

1587m (đỉnh cao nhất tỉnh, ở phía bắc huyện Hàm Yên), Pia Phơưng, Ta Pao,
Kia Tăng (phía bắc huyện Na Hang). Độ dốc trung bình khoảng 25% ở phía
bắc và 20 - 25o ở phía nam. Ở phía bắc huyện Na Hang và rải rác tại một số
xã của các huyện Chiêm Hoá, Hàm Yên có núi đá vôi và hiện tượng thiếu
nước tương đối phổ biến.
Nhìn chung, địa hình vùng này bị chia cắt mạnh - đây là vùng hiểm trở,
việc đi lại khó khăn hơn so với các vùng khác. Nhiều khu rừng nguyên sinh
vẫn còn tồn tại ở Na Hang, Hàm Yên. Xen kẽ đồi núi là các thung lũng to
nhỏ, rộng hẹp khác nhau, có thể canh tác được.
Vùng trung tâm gồm thị xã Tuyên Quang, phía nam huyện Yên Sơn và
phía bắc huyện Sơn Dương, có diện tích 1252,04 km 2 (21,51% diện tích toàn
tỉnh). Độ cao trung bình dưới 500m và giảm dần từ bắc xuống nam với một số

10


ngọn núi nhô cao như núi Là (958m), núi Nghiêm (553m). Tuy nhiên, ở một
số nơi địa hình chỉ còn cao 23 - 24m, ở những nơi thấp (thị xã Tuyên Quang,
phía nam huyện Yên Sơn, Sơn Dương), hàng năm vào mùa lũ thường bị ngập
lụt [6; tr. 267].
Vùng phía nam gồm phần lớn huyện Sơn Dương với diện tích 790,84
km2 (13,6% diện tích toàn tỉnh). Địa hình của vùng gồm đồi bát úp kiểu trung
du, những cánh đồng rộng, bằng phẳng, đôi chỗ có dạng lòng chảo. Vùng này,
nhìn chung giàu tiềm năng, nhất là về khoáng sản (thiếc, kẽm, angtimoan,
vofram), giao thông thuận tiện, đất đai bằng phẳng thích hợp với việc trồng
cây lương thực, cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi trồng
thuỷ sản.
Tuyên Quang nằm ở khu vực có khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa với mùa
đông lạnh, khô hạn và mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều.Tổng lượng bức xạ trung
bình năm là 80 - 85 kcal/cm 2, lượng nhiệt trung bình năm là 8000 - 8500 oC.

vụ ít… Để tránh tụt hậu, Tuyên Quang cần khai thác hợp lý, có hiệu quả toàn
bộ nội lực với sự hỗ trợ về vốn, công nghệ… từ trung ương, thu hút đầu tư
nước ngoài và liên kết với các tỉnh khác để tạo nên những bước đột phá trong
tương lai.
Tuyên Quang là tỉnh có nhiều dân tộc ít người, nhiều thành phần dân
tộc. Nơi đây tập trung hơn 22 dân tộc, trong đó có 8 dân tộc có dân số đông
hơn cả là Kinh, Tày, Dao, Cao Lan, Nùng, Hoa, H'Mông, Sán Dìu
Người Kinh chiếm hơn 1/2 dân số Tuyên Quang và cư trú trên địa bàn
cả tỉnh, trong đó tập trung nhất ở thị xã và các huyện Yên Sơn, Sơn Dương.
Đứng thứ hai về số dân là người Tày (24,4% dân số), phân bố chủ yếu ở
Chiêm Hoá, Na Hang. Tiếp theo là người Dao, tụ cư ở Hàm Yên, Na Hang;
người Cao Lan ở Sơn Dương; người Nùng ở Sơn Dương.
Do yêu cầu của công tác quản lý, các cơ sở GDMN thường được tổ chức
theo địa bàn đơn vị hành chính. Vì vậy, việc tổ chức hành chính cấp cơ sở (số
lượng các đơn vị hành chính cấp huyện, xã/phường và thôn của tỉnh) có tác động

12


nhất định đến tổ chức mạng lưới và số lượng cơ sở giáo dục. Trường mầm non
(mẫu giáo) thường được tổ chức theo phạm vi một thôn hoặc tổ dân phố.
1.1.1.2. Thực trạng phát triển giáo dục mầm non của trước năm 1991
Có thể thấy rằng, giáo dục có một vai trò rất quan trọng đối với vận
mệnh của đất nước. Trải qua bao thập kỷ, Đảng và Nhà nước luôn xem giáo
dục là quốc sách hàng đầu. Đây là sứ mệnh thiêng liêng, đồng thời đồng thời
cũng vô cùng nặng nề đối với mỗi người, mỗi tầng lớp nhân dân trong xã hội.
Hệ thống giáo dục, đào tạo bước đầu được sắp xếp, điều chỉnh lại phù
hợp hơn với điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh, có một số chuyển biến tốt
trong giáo dục, hướng nghiệp, dạy nghề và đào tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên
người dân tộc theo địa chỉ sử dụng. Công tác xóa mù chữ và phổ cập cấp I

Đến năm 1992 bậc GDMN có 485 nhóm trẻ, 1 nhà trẻ, 32 trường mầm
non với 565 lớp mẫu giáo thu hút 15.920 cháu tới lớp. GDMN phát triển
mạnh ở khu vực thị xã, thị trấn. Ở khu vực nông thôn phát triển còn khó
khăn. Còn 19 xã chưa có lớp mẫu giáo và nhóm trẻ [3; tr.1].
Tuy vậy, công tác giáo dục và đào tạo còn chưa thoát khỏi tình trạng
yếu kém về nhiều mặt, chất lượng và hiệu quả nhìn chung đạt thấp, tình trạng
học sinh đến trường chán học, bỏ học chưa được khắc phục, chất lượng giáo
viên còn thấp. Cơ sở vật chất phục vụ dạy và học còn thiếu thốn, quản lý bảo
vệ chưa chặt chẽ nên bị xuống cấp nhanh, nhiều nơi quá kém nát, việc bố trí
cơ sở trường lớp một số nơi chưa phù hợp với địa bàn dân cư [37;tr. 33].
1.1.1.3. Chủ trương về phát triển giáo dục mầm non của Đảng
Trong năm năm đầu của thời kỳ đổi mới (1986-1991), giáo dục đào tạo
Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, ngành GD vẫn
còn những yếu kém, đặc biệt là chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế
- xã hội trong thời kỳ đổi mới. Để tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ, đồng bộ
trên lĩnh vực giáo dục – đào tạo, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VII của Đảng (1991) chỉ ra mục tiêu giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có
tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo,
có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Nhà trường
đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và có năng lực chuyên môn sâu, có ý

14


thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần[39;tr. 58].
Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục phù hợp với điều kiện,
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, từng bước nâng cao dân trí, chủ
động đáp ứng tốt hơn nguồn cán bộ, công nhân kỹ thuật tại chỗ, trọng tâm là

Nhiệm vụ của 5 năm tới là tiếp tục đổi mới, ổn định, phát triển và nâng
cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Coi trọng chất lượng giáo dục chính trị,
đạo đức cho học sinh và sinh viên; hiện đại hoá một bước nội dung, phương
pháp giáo dục; dân chủ hoá nhà trường và quản lý giáo dục; đa dạng hoá loại
hình đào tạo và loại hình trường lớp; từng bước hình thành những trường bán
công, dân lập, tư thục (dạy nghề), phát triển loại trường vừa học vừa làm. Mở
rộng đào tạo nghề; bồi dưỡng nhiều người giỏi về khoa học, công nghệ, kinh
doanh, về quản lý kinh tế, xã hội và nhiều công nhân lành nghề; nâng cao
trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật cho người lao động [39;tr. 59].
Tại Hội nghị lần thứ 2 của BCHTƯ khóa VIII đã nhấn mạnh: phải coi
đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản, quan trọng nhất cho sự phát triển toàn
diện của đất nước. Gắn chiến lược phát triển giáo dục với phát triển khoa học,
công nghệ và cả hai đều phải gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Đổi mới nền giáo dục với cách làm thích hợp trên các mặt tổ chức và quản lý,
dạy học, nghiên cứu và ứng dụng. Quan tâm thích đáng đến mặt bằng và đỉnh
cao dân trí, coi trọng giáo dục nhân cách, lý tưởng và đạo đức, trí lực và thể
lực… Ra sức phấn đấu xây dựng một nền giáo dục tiên tiến, có quy mô, trình
độ và cơ cấu ngành nghề hợp lý. Đó là nền giáo dục thấm nhuần sâu sắc tính
nhân dân, tính dân tộc và tính hiện đại.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (năm
1996) đã đề ra mục tiêu đối với giáo dục – đào tạo trong những năm 1996 2000 và phương hướng chiến lược đến năm 2020.
Phát triển GD&ĐT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực

16


con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và
bền vững.
Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status