Đảng bộ tỉnh tuyên quang lãnh đạo phát triển giáo dục mầm non từ năm 1991 đến năm 2010 - Pdf 52

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------

PHạM NGọC TRÂM

ĐẢNG Bộ TỉNH TUYÊN QUANG
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội – 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------

PHạM NGọC TRÂM

ĐẢNG Bộ TỉNH TUYÊN QUANG
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành

: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam


Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Tỉnh ủy, Ủy ban nhân
dân, Phòng thống kê, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tuyên Quang đã tận tình
giúp đỡ nguồn tư liệu để tôi hoàn thành luận văn này.
Trong quá trình thực hiện luận văn, dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do
thời gian không nhiều, khả năng có hạn nên bản luận văn này không tránh
khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến
của các thầy cô giáo và các bạn để tác giả nâng cao khả năng nghiên cứu của
mình trong thời gian tới.
Hà Nội, ngày 25 tháng 2 năm 2018
Học viên

Phạm Ngọc Trâm


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài. .......................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn. ............................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. ............................................................... 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 6
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu. .................................................. 7
6. Đóng góp của luận văn.................................................................................. 8
7. Bố cục của luận văn. ..................................................................................... 8
Chƣơng 1. CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN
QUANG ĐỐI VỚI GIÁO DỤC MẦM NON GIAI ĐOẠN 1991 - 2000 ............. 9
1.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và chủ
trƣơng của Đảng bộ......................................................................................... 9
1.1.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh. .............................. 9
1.1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang. ....................................... 20
1.2. Chỉ đạo thực hiện ................................................................................... 26

3.2.3. Chú trọng công tác đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội
ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục....................................................... 82
Tiểu kết chƣơng 3 .......................................................................................... 85
KẾT LUẬN .................................................................................................... 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 88
PHỤ LỤC ...................................................................................................... 96


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Cụm từ đầy đủ

Cụm từ viết tắt

Ban Chấp hành Trung ương

:

BCHTƯ

Cơ sở vật chất

:

CSVC

Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

:

CNH - HĐH


Giáo dục và Đào tạo

:

GD&ĐT

Hội đồng nhân dân

:

HĐND

Ủy ban nhân dân

:

UBND

Xã hội hóa

:

XHH

Xã hội hóa giáo dục

:

XHHGD

1


như tinh thần cũng ngày được tăng cao. GDMN gắn liền và chịu ảnh hưởng
trực tiếp của sự phát triển chung xã hội.
Tuyên Quang là tỉnh miền núi, trong đó có 5 huyện và 1 thị xã, tỷ lệ
dân tộc thiểu số chiếm 52,01%, tập quán canh tác còn nhỏ lẻ, lạc hậu. Tuy
nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh, sự nghiệp giáo dục của Tuyên
Quang có bước phát triển và đạt những thành tựu đáng kể: phát triển mạnh về
quy mô và mạng lưới giáo dục, các trường lớp được mở thêm, xóa xã trắng về
GDMN, hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, chống mù chữ, chất lượng
giáo dục của tỉnh từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, Tuyên Quang vẫn là
tỉnh có điểm xuất phát thấp về kinh tế - xã hội và đứng trước những khó khăn
to lớn trong việc phát triển nền giáo dục. Những điều này đã làm ảnh hưởng
không nhỏ đến chất lượng giáo dục của tỉnh nói chung, của GDMN nói riêng,
GDMN vẫn còn nhiều mặt yếu kém, phát triển chưa vững chắc và cần được
củng cố để phát triển. Tình hình trên, đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng lãnh
đạo của Đảng bộ tỉnh- chủ thể lãnh đạo GD và GDMN của Tuyên Quang.
Do đó, nghiên cứu lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với sự
phát triển GDMN vừa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Những kinh nghiệm
được đúc rút từ quá trình Đảng bộ Tỉnh lãnh đạo phát triển GDMN có thể tham
khảo, vận dụng vào GDMN của tỉnh ở thời điểm hiện tại. Ngoài ra, kết quả
nghiên cứu của luận văn có thể được tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu
về GDMN của Tuyên Quang hoặc những vấn đề có liên quan.
Đó là những lý do chính để tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Đảng bộ tỉnh
Tuyên Quang lãnh đạo phát triển giáo dục mầm non từ năm 1991 đến năm
2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng CSVN
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn
Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của

năng tổ chức trò chơi để trẻ tích cực khám phá, tương tác, trải nghiệm nhằm
kích hoạt sự phát triển trí tuệ ngay từ tuổi ấu thơ, nuôi dưỡng phát triển thành
tài năng khi trẻ trưởng thành

3


Năm 2001, Nxb Chính trị quốc gia phát hành cuốn Phát triển toàn diện
con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Phạm Minh Hạc. Cuốn
sách nêu lên được tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của nền
kinh tế xã hội trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong đó nhân tố
con người đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển.
Năm 2008, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội phát hành cuốn sách Giáo
dục đào tạo quốc sách hàng đầu, tương lai của dân tộc của cố Thủ tướng
Phạm Văn Đồng. Nội dung cuốn sách là tập hợp từ những bài nói và viết chọn
lọc của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. GD&ĐT là nhân tố có tầm quan trọng
bậc nhất, góp phần “không chỉ làm nên sự nghiệp của một con người mà còn
là động lực làm nên lịch sử của cả một dân tộc. Đây là những điều mà giáo
dục cần quan tâm để đào tạo ra những người có ích cho xã hội. Do vậy, cuốn
sách sẽ là tài liệu tham khảo cho những vấn đề liên quan đến giáo dục.
Những công trình chuyên khảo trên đã khái quát được lịch sử của nền
giáo dục Việt Nam; từ đó, các tác giả đưa ra những định hướng phát triển nền
giáo dục đất nước.
*Về sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ địa phương và Đảng bộ tỉnh
Tuyên Quang đối với giáo dục mầm non
Dưới góc độ khoa học lịch sử, những năm gần đây đã có một số khóa
luận và luận văn tốt nghiệp của sinh viên, học viên chuyên ngành Lịch sử
Đảng CSVN nghiên cứu về sự lãnh đạo của một số Đảng bộ địa phương trong
việc thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục - đào tạo. Một số luận văn thạc sĩ
chuyên ngành Lịch sử Đảng CSVN viết về lĩnh vực này như:

Phan Văn Êm, năm 2006 đã nghiên cứu, đề xuất các giải pháp quản lý để
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục tỉnh Tuyên Quang
Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử: “Thị xã Tuyên Quang từ 1991 đến
2008” của tác giả Phạm Ngọc Hùng, năm 2010 đã đề cập một cách khái quát
về thị xã Tuyên Quang cùng với sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội,
giáo dục của tỉnh.

5


Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên chủ yếu đề cập về một số
khía cạnh về vấn đề GD&ĐT, GDMN trên cả nước nói chung và ở các địa
phương nói riêng. Cho đến nay chưa có công trình lịch sử chuyên khảo nào
nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với GDMN
những năm 1991 - 2010. Các công trình nghiên cứu trên là cơ sở quan trọng
để tác giả kế thừa, tiếp cận các sự kiện lịch sử và cung cấp những gợi ý cần
thiết để phân tích và so sánh trong quá trình thực hiện luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về phát triển
GDMN từ năm 1991 đến năm 2010; rút ra một số kinh nghiệm từ sự lãnh đạo
của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với GDMN những năm 1991-2010
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trình bày một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang
vận dụng quan điểm, đường lối của Đảng CSVN về giáo dục đào tạo nói
chung và GDMN và đề ra các chủ trương cũng như chỉ đạo thực hiện phát
triển GDMN của tỉnh từ năm 1991 đến năm 2010.
Làm rõ những thành tựu cơ bản và những hạn chế trong quá trình Đảng
bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo phát triển GDMN trên địa bàn tỉnh từ năm
1991 đến năm 2010.

khảo về giáo dục, GDMN...
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của phép duy vật biện chứng; đồng
thời, dựa trên những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục.
Luận văn sử dụng các phương pháp của khoa học lịch sử như phương
pháp lịch sử và phương pháp lôgíc để mô tả, phục dựng một cách khách quan
bức tranh về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với GDMN; đồng
thời, đánh giá một cách khách quan, khoa học các sự kiện liên quan đến hoạt
động lãnh đạo của của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với GDMN. Bên cạnh
đó, luận văn còn sử dụng phương pháp như thống kế, đố i chiế u, phân tích, phê
phán, so sánh, tổng hợp... phù hợp với từng nội dung cụ thể của luận văn.

7


6. Đóng góp của luận văn
- Các quan điểm, chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về phát
triển GDMN từ năm 1991 đến năm 2010 được trình bày một cách hệ thống
cũng như bức tranh lịch sử về quá trình tổ chức chỉ đạo và kết quả phát triển
GDMN của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang từ năm 1991 đến năm 2010 được
phục dựng góp phần làm giầu thêm những tri thức về lịch sử Đảng bộ, lịch sử
của Tuyên Quang.
- Việc phân tích những thành tựu, hạn chế và những kinh nghiệm được
đúc rút từ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với phát triển
GDMN từ năm 1991 đến năm 2010 không chỉ có giá trị tham khảo cho
Tuyên Quang trong phát triển GDMN ở thời kỳ hiện tại, mà còn có giá trị
tham chiếu cho một số địa phương khác có điều kiện tương đồng.
- Kết quả đạt được của luận văn, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy về
GDMN hoặc những vấn đề có liên quan.

nữa với các tỉnh miền núi biên giới ở phía bắc, và giao lưu với một số tỉnh
thuộc trung du và đồng bằng sông hồng ở phía nam. Khoảng cách giữa thủ đô
Hà Nội với thị xã Tuyên Quang là 165km. Theo chiều Đông - Tây, Tuyên
Quang cũng có điều kiện trao đổi kinh tế vơí một số tỉnh thuộc vùng núi bắc
bộ, trước hết là với Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Kạn… Ngoài ra, thông qua
đường sông, chủ yếu là sông Lô, việc giao lưu có thể diễn ra trong nội tỉnh và
với các tỉnh khác ở mức độ nhất định.
Tuy nhiên, vị trí địa lí cũng tạo ra những khó khăn đáng kể. Đây là một
tỉnh miền núi, lại nằm sâu trong nội địa, hơn nữa, nền kinh tế nhìn chung còn
chậm phát triển, kết cấu hạ tầng lại thấp kém; việc giao lưu trao đổi hàng hoá

9


với các tỉnh chủ yếu trông cậy vào đường ô tô và một phần đường sông.
Tuyên Quang chưa có đường sắt, đường hàng không… Do ở sâu trong nội
địa, xa các cảng, cửa khẩu và các trung tâm kinh tế lớn của cả nước nên việc
trao đổi hàng hoá, liên kết kinh tế với các tỉnh khác còn gặp nhiều hạn chế.
Địa hình của Tuyên Quang với hơn 73% diện tích là đồi núi, phân bố
khá phức tạp bị chia cắt bởi các dãy núi cao và sông suối đặc biệt ở phía Bắc,
ở phía Nam tỉnh, địa hình thấp dần ít bị chia cắt hơn, có nhiều đồi núi và
thung lũng chạy dọc theo các sông. Phần lớn địa hình có hướng nghiêng từ
Bắc - Tây bắc xuống Nam - Đông nam. Các dãy núi chính cũng chạy theo
hướng này và có cấu trúc vòng cung rõ rệt, nhưng không kéo dài liên tục, mà
bị chia cát thành những khối rời rạc (cánh cung sông Gâm)
Tuyên Quang được chia làm 3 vùng sau đây:
Vùng phía bắc bao gồm các huyện Hàm Yên, Chiêm Hoá, Na Hang và
phần bắc huyện Yên Sơn với diện tích 377,14 km2 (chiếm 64,89% tổng diện
tích cả tỉnh). Độ cao phổ biến là 200 - 600m và thấp dần từ bắc xuống nam.
Trên nền độ cao này nổi lên một số ngọn núi cao trên 1000m như Chạm Chu

Nhiệt độ trung bình năm ở Tuyên Quang là 22-24oC. Thời kì nóng nhất thường
diễn ra vào tháng VI và tháng VII, cá biệt có ngày lên tới 39 - 40oC. Thời kì
lạnh nhất thường là các tháng XII, I. Nhiệt độ thấp nhất xuống dưới 5oC. Chế
độ nhiệt có sự phân hoá. Nhiệt độ trung bình của thị xã Tuyên Quang luôn cao
hơn các huyện Hàm Yên, Chiêm Hoá từ 0,20 – 0,40C [6; tr. 267].
Tuy nhiên, các tai biến thiên nhiên như sương muối, mưa đá, lốc,
bão…đã có ảnh hưởng nhiều đến đời sống và sản xuất của nhân dân trong
tỉnh, đặc biệt là đối với nông, lâm nghiệp.
Tỉnh có 6 huyện và thành phố thuộc tỉnh. Toàn tỉnh có 129 xã, 7
phường và 5 thị trấn. Trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội và đô thị hoá,
số đơn vị hành chính có thể thay đổi và theo đó số lượng cơ sở giáo dục cũng
sẽ biến động theo xu hướng tăng lên để phù hợp với quy mô dân số và đặc
điểm tổ chức xã hội trên địa bàn.

11


Tuyên Quang là tỉnh miền núi có nền kinh tế với điểm xuất phát thấp,
sản xuất nông, lâm nghiệp chiếm ưu thế. Nền sản xuất hàng hoá đang trong
quá trình hình thành.
Trước đổi mới, Tuyên Quang là một bộ phận của tỉnh Hà Tuyên với
nền kinh tế phát triển chậm, lạc hậu. Trong thời kì 1986 - 1990, thời kì đan
xen giữa hai cơ chế, nền kinh tế của Hà Tuyên nói chung và Tuyên Quang nói
riêng còn trong quá trình thích nghi, tiếp cận với cơ chế mới. Từ năm 1991 trở
lại đây, nền kinh tế của tỉnh đang dần dần đi vào thế ổn định, từng bước tăng
trưởng gắn liền với cơ chế thị trường..
Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế của Tuyên Quang còn đứng trước hàng
loạt khó khăn: xuất phát điểm thấp, nền kinh tế còn dựa chủ yếu vào nông
nghiệp lạc hậu, chuyển dịch kinh tế còn chậm, khả năng mở cửa hạn chế, chi
lớn hơn thu, dân trí thấp, lực lượng lao động có trình độ chuyên môn, nghiệp

bước đầu được triển khai sâu rộng, năm 1991 đã xóa mù chữ được gần 2000
người, bắt đầu hình thành trường chuyên, lớp chọn để phát hiện bồi dưỡng
nhân tài.
Từng bước hình thành và phát triển quan điểm giáo dục nhân dân. Việc
tăng cường liên kết nhà trường với xã hội đã tạo điều kiện tốt hơn để xây
dựng cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng dạy và học.
Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục đào tạo, ngay từ đầu tỉnh
Hà Tuyên đã có nhiều chủ trương để phát triển giáo dục, đặc biệt là giáo dục
mầm non.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, được sự chỉ đạo sát sao của
tỉnh ủy Hà Tuyên và của Bộ GD&ĐT, giáo dục Hà Tuyên đã kịp thời đổi
mới. Trước hết là xác định rõ mục tiêu giáo dục, đa dạng hóa các loại hình
trường học, thực hiện luật chăm sóc trẻ em.
Trong hệ thống giáo dục nói chung, của tỉnh Hà Tuyên nói riêng,
GDMN được coi là một bậc học mang những đặc trưng riêng. Do chưa thích
ứng kịp thời với sự chuyển đổi của nền kinh tế mới, nên ngành học này còn
gặp nhiều khó khăn. Trong những năm 80 – 90 của thế kỷ XX, số lượng nhà

13


trẻ, mẫu giáo chưa nhiều, một số cơ sở bị tan vỡ. Điều này đã kéo theo số
lượng học sinh và giáo viên giảm sút đáng kể. Số lượng học sinh trong toàn
tỉnh chỉ còn khoảng 65 – 70 %. Tuy nhiên, Tỉnh ủy Hà Tuyên đã đưa ra
những chính sách rõ ràng. Sở GD&ĐT kết hợp với chính quyền các địa
phương mở các loại hình trường lớp nhà trẻ, mẫu giáo như nhà trẻ dân lập,
nhà trẻ bán công…để thu hút các cháu. Với chính sách và biện pháp trên,
GDMN dần dần đi vào ổn định và có điều kiện để phát triển. Chỉ trong một
thời gian ngắn, số lượng học sinh đến lớp đã tăng lên đáng kể. Riêng các cháu
5 tuổi đã đến lớp được gần 90%.

phổ cập giáo dục tiểu học, xóa mù chữ và tạo nghề cho người lao động. Phấn
đấu đến năm 1995 hoàn thành công tác phổ cập giáo dục tiểu học, căn bản
xóa mù chữ cho số người trong độ tuổi.
Theo định hướng đó từng bước xây dựng và củng cố hệ thống giáo dục
và đào tạo hoàn chỉnh. Khẩn trương sắp xếp một số trường chuyên nghiệp,
dạy nghề phổ thông trung học hiện có trên cơ sở có quy hoạch đào tạo thiết
thực, chú ý củng cố và phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú, đa
dạng hóa phương thức đào tạo và các loại trường lớp (bán công và dân lập)
theo phương châm “ Nhà nước và nhân dân cùng làm”.
Thực hiện giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục chính trị tư tưởng,
đạo đức lối sống cho học sinh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình, các
đoàn thể xã hội trong việc quản lý nhà trường, quản lý học sinh. Sắp xếp lại
đội ngũ giáo viên, thực hiện tốt chính sách thu hút giáo viên dạy ở vùng sâu,
vùng xa. Trước mắt giải quyết đáp ứng giáo viên tiểu học và nâng cao chất
lượng giáo viên các cấp.
Củng cố, ổn định trường lớp hiện có của giáo dục mầm non. Tập trung
thực hiện chương trình phổ cập giáo dục cấp I và chống mù chữ; phát triển
cấp II, cấp III phù hợp với yêu cầu và khả năng của từng địa phương. Củng cố
và phát triển trường phổ thông cho trẻ em có tật. Sắp xếp lại các trường đại
học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Mở rộng một cách hợp
lý quy mô đào tạo đại học, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo sau đại

15


học. Tiếp tục cải tiến chế độ tuyển sinh và chế độ học bổng. Đẩy mạnh công
tác nghiên cứu, thực nghiệm giáo dục, thể chế hoá cơ cấu của hệ thống giáo
dục quốc dân [39;tr.58].
Tăng đầu tư cho miền núi và vùng dân tộc thiểu số, mở rộng các trường
nội trú, quy hoạch đào tạo cán bộ và trí thức người dân tộc.

phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục;
thực hiện "chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá". Phát huy tinh thần độc lập
suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn
thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng
những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện "giáo dục
cho mọi người", "cả nước trở thành một xã hội học tập". Thực hiện phương
châm "học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà
trường gắn với xã hội". Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học
sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề
nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa
phương. Xây dựng quy hoạch đào tạo nhân lực theo phương thức kết hợp học
tập trung, học từ xa, học qua máy tính.
Chăm lo phát triển giáo dục mầm non, mở rộng hệ thống nhà trẻ và
trường lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt là ở nông thôn và
những vùng có khó khăn.
Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện cho người
nghèo có cơ hội học tập, tiếp tục phát triển các trường phổ thông nội trú dành
cho con em dân tộc thiểu số, chú trọng quyền được học tập của nhân dân ở
trên hai nghìn xã nghèo nhất. Có chính sách hỗ trợ đặc biệt những học sinh có
năng khiếu, hoàn cảnh sống khó khăn được theo học ở các bậc học cao. Có
quy hoạch và chính sách tuyển chọn người giỏi, đặc biệt chú ý trong con em
công nhân và nông dân, để đào tạo ở các bậc đại học và sau đại học. Tăng
ngân sách nhà nước cho việc cử người đi đào tạo ở các nước có nền khoa học
và công nghệ tiên tiến. Khuyến khích việc du học tự túc.
Thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục, phát triển đa dạng các hình
thức đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích tài năng, các tổ
chức khuyến học, bảo trợ giáo dục.

17



18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status