đảng bộ tỉnh hanh hóa lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ 1996 den nam 2010 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ

LÊ THỊ YẾN

ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 602256

Ng-êi h-íng dÉn khoa häc : PGS.TS. NGUYỄN TRỌNG PHÚC

HÀ NỘI - 2012


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ...................................................................... 3
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 4
1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................... 4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................... 6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................. 9
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu............................................................... 9
5. Phƣơng pháp nghiên cứu .......................................................................... 10
6. Đóng góp của luận văn ............................................................................. 10
7. Kết cấu của luận văn ................................................................................ 10
NỘI DUNG ................................................................................................. 11
Chương 1: PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở TỈNH THANH
HÓA (1996 - 2000) ...................................................................................... 11
1.1. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH THANH HÓA VÀ TÌNH HÌNH

2.1.2. Những quan điểm của Đảng về phát triển giáo dục GDPT qua các Đại
hội IX, X ...................................................................................................... 66
2.1.3. Đảng bộ tỉnh chỉ đạo phát triển giáo dục phổ thông và quá trình triển
khai thực hiện ............................................................................................... 71
2.2. KẾT QUẢ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM
2001 ĐẾN NĂM 2010 ........................................................................................... 76

2.2.1. Tiếp tục mở rộng quy mô và nâng cao chất lƣợng giáo dục ở các cấp học 76
2.2. Nâng cao chất lƣợng và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên về mọi mặt .......... 92
2.2.3. Tăng cƣờng cơ sở vật chất, kĩ thuật cho các trƣờng học ...................... 96
2.2.4. Đổi mới quản lí nhà nƣớc về giáo dục phổ thông, tăng cƣờng xã hội hóa
giáo dục ...................................................................................................... 100
Chương 3: NHẬN XÉT CHUNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM ........ 105
3.1. NHẬN XÉT CHUNG ................................................................................... 105

3.1.1. Về ƣu điểm ....................................................................................... 105
3.1.2. Về hạn chế ........................................................................................ 110
3.2. MỘT SỐ KINH NGHIỆM ........................................................................... 118

KẾT LUẬN ............................................................................................... 130
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 133

2


DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CNH, HĐH

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá


chế độ nào muốn tồn tại và đi lên đều phải chăm lo phát triển. Khi sáng lập ra
học thuyết của mình, các nhà kinh điển Mác - Lênin nhấn mạnh: “Tƣơng lai
của cả loài ngƣời phụ thuộc vào việc giáo dục thế hệ giai cấp công nhân đang
lớn lên” [87, tr.15]. Từ ngàn xƣa, cha ông ta cũng đã có nhiều chính sách đãi
ngộ nhân tài, trọng dụng những ngƣời có học thức trong sự nghiệp dựng nƣớc
và giữ nƣớc. Kế thừa những tƣ tƣởng đó, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Một
dân tộc dốt là một dân tộc yếu” [57, tr.36]. Ngƣời coi giáo dục là chìa khoá để
xây dựng, giữ vững nền độc lập và đƣa đất nƣớc phát triển.
GDPT là nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, nó đặt những cơ sở
ban đầu rất quan trọng cho sự phát triển toàn diện về học vấn, đạo đức, trí tuệ,
thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con
ngƣời. GDPT cũng là tiền đề cho học sinh tiếp tục học lên những bậc cao hơn
nhƣ: trung cấp, cao đẳng, đại học hoặc đi vào cuộc sống,…
Bƣớc sang thế kỉ XXI, khoa học công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ
và trở thành một yếu tố trực tiếp của lực lƣợng sản xuất. Sự hội nhập kinh tế
thế giới đòi hỏi trình độ ngày càng cao của các quốc gia. Kinh tế tri thức ra
đời, hàm lƣợng trí tuệ kết tinh trong sản phẩm ngày càng tăng. Hiện nay, Việt
Nam cũng đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh
tế tri thức. Thực tế trên, đòi hỏi phải có một sự đổi mới thực sự trong tƣ duy
về giáo dục nhằm đào taọ ra một thế hệ công dân đáp ứng những yêu cầu của
đất nƣớc và thời đại mới.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm xác định: Giáo dục là quốc sách hàng
đầu và là động lực đƣa đất nƣớc thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu.Tại Hội nghị lần
thứ hai Ban Chấp hành Trung ƣơng VIII (1996), Đảng đã đƣa ra định hƣớng
4


Chiến lƣợc phát triển giáo dục đào tạo nói chung và GDPT nói riêng trong
thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Thực sự coi giáo dục là
quốc sách hàng đầu. Đến Đại hội IX (2001), Đại hội X (2006), Đảng tiếp tục

ra những kinh nghiệm cho thời gian tới và làm phong phú thêm kho tƣ liệu
giảng dạy về lịch sử địa phƣơng cũng là một việc làm cần thiết.
Vì những lí do trên, tác giả đã chọn vấn đề: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm 1996 đến năm 2010 làm đề tài
luận văn Th.s lịch sử của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Giáo dục nói chung, GDPT nói riêng là nội dung quan trọng, quyết định
đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Chính vì vậy, đây là đề tài nhận
đƣợc sự quan tâm của nhiều cấp lãnh đạo, nhiều nhà quản lí, nhà khoa học, nhà
giáo và của nhiều tác giả. Đã có nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều góc độ
khác nhau về vấn đề này. Có thể nêu ra một số tác giả với những công trình
tiêu biểu liên quan đến đề tài này nhƣ sau:
Đầu tiên là cuốn "Bàn về công tác giáo dục" của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1972. Sinh thời Ngƣời luôn chăm lo đến sự
nghiệp "trồng ngƣời". Ngƣời thƣờng nói muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì
trƣớc hết phải có con ngƣời xã hội chủ nghĩa. Trong cuốn sách này, Bác đã
nêu bật vai trò cực kỳ quan trọng của công tác giáo dục, đặc biệt tác phẩm
đã khái quát, phản ánh sự cần thiết của một nền giáo dục mới dƣới chế độ
xã hội chủ nghĩa.
Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nƣớc cũng đã có các tác phẩm, bài
viết về giáo dục và đào tạo nhƣ:
Cuốn "Về vấn đề giáo dục - đào tạo" của đồng chí Phạm Văn Đồng
đƣợc Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản 1999. Một lần nữa vai trò của
giáo dục và đào tạo đƣợc tiếp tục khẳng định và để sự nghiệp giáo dục phát
triển mạnh mẽ cần có sự nhận thức đúng đắn, sâu sắc của toàn Đảng, toàn dân
và có đƣợc những chính sách hữu hiệu nhất.

6





chất của nền giáo dục, nguyên lý, nội dung, hệ thống giáo dục nƣớc ta qua các
giai đoạn lịch sử; phân tích mối quan hệ giữa giáo dục và phát triển nguồn lực,
các nguồn lực phát triển giáo dục và phƣơng hƣớng phát triển giáo dục trong
thời gian tới. Cũng bàn về giáo dục, cuốn sách "Nhân tố mới về giáo dục và đào
tạo trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH" do GS.TS Phạm Minh Hạc chủ biên,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 cũng đã nêu bật đƣợc những chuyển biến
tích cực về chất lƣợng dạy và học; có đƣợc những kết quả này là do sự cải tiến
về phƣơng pháp của cả thầy lẫn trò, phong trào học tập trong nhân dân đƣợc đẩy
mạnh. Từ đó xuất hiện những nhân tố mới, những kinh nghiệm hay để góp phần
thực hiện thắng lợi đƣờng lối giáo dục và đào tạo của Đảng.
Có thể đề cập đến một số công trình nghiên cứu về giáo dục trên bình
diện chung có liên quan đến đề tài nhƣ: “Nhà trường phổ thông Việt Nam qua
các thời kỳ lịch sử” của Viện Khoa học giáo dục do Nxb. Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2001; “35 năm phát triển sự nghiệp GDPT” do Võ Thuần Nho chủ
biên, Nxb. Giáo dục, 1980; “Đổi mới nâng cao vai trò, trách nhiệm, đạo đức
của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trong xu thế Việt Nam hội
nhập quốc tế” của nhiều tác giả, Nxb. Lao động, 2006;...
Nghiên cứu về sự lãnh đạo của các đảng bộ địa phƣơng đối với GDPT,
có một số công trình nhƣ: Ngô Thị Thu Hà (2009), Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh
lãnh đạo phát triển GDPT từ năm 1996 đến năm 2006, Luận văn Th.s lịch sử,
ĐHQGHN; Nguyễn Thị Quế Liên: Đảng bộ Thái Bình lãnh đạo sự nghiệp
GDPT từ năm 1986 đến năm 2005”, Luận văn Th.S ĐHQGHN năm 2007 ...
Tại Thanh Hóa đã có công trình: Đảng bộ Thanh Hóa lãnh đạo sự
nghiệp GDPT từ 1954 đến 1975 (2009) của Nguyễn Thị Hƣờng, Luận văn
Th.s lịch sử, ĐHQGHN. Tuy vậy, đề tài này mới chỉ tập trung vào hệ thống
giáo dục phổ trong thời kì kháng chiến chống Mỹ 1954 - 1975.
Nhìn một cách tổng quát các công trình trên giúp ích rất lớn cho việc
nghiên cứu và tìm hiểu về giáo dục và GDPT. Tuy nhiên, cho đến nay chƣa

+Về nội dung: Chủ trƣơng và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
về GDPT.

9


+ Về không gian: Nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
+ Về thời gian: Từ năm 1996 đến 2010.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Luận văn chủ
yếu sử dụng phƣơng pháp lịch sử, phƣơng pháp logic, phƣơng pháp thống kê,
tổng hợp, so sánh kết hợp với khảo sát…
6. Đóng góp của luận văn
- Đóng góp về mặt khoa học: Hệ thống hóa đƣợc những chủ trƣơng,
chính sách của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về việc thực hiện đổi mới GDPT từ
năm 1996 đến năm 2010. Từ những thành công và hạn chế tồn tại rút ra kinh
nghiệm và chỉ ra phƣơng hƣớng để vận dụng cho giai đoạn sau.
- Đóng góp về mặt tƣ liệu: Bổ sung thêm nguồn tài liệu về lịch sử địa
phƣơng của tỉnh Thanh Hóa.
- Đóng góp về mặt phƣơng pháp nghiên cứu: Góp phần vào việc sử
dụng phƣơng pháp tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ lí luận, đƣờng lối quan
điểm của Đảng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chƣơng 6 tiết.
Chƣơng 1: Phát triển giáo dục phổ thông ở tỉnh Thanh Hóa (1996 - 2000)
Chƣơng 2: Đẩy mạnh phát triển giáo dục phổ thông ở tỉnh Thanh Hóa
(2001 - 2010)
Chƣơng 3: Nhận xét chung và một số kinh nghiệm

sản với 42 loại khác nhau. Sông suối Thanh Hoá chảy qua nhiều vùng địa

11


hình phức tạp, là tiềm năng lớn cho nhiều lĩnh vực nhất là cho phát triển thủy
điện. Nƣớc ngầm ở Thanh Hoá cũng rất phong phú về trữ lƣợng và chủng loại
bởi vì có đầy đủ các loại đất đá trầm tích, mắc ma và phun trào. Tỉnh có 102
km bờ biển và vùng lãnh hải rộng 17.000 km2, với nhiều bãi cá, bãi tôm có
trữ lƣợng lớn.
Thanh Hóa là một tỉnh có nhiều tiềm năng du lịch. Ở đây có nhiều danh
lam, thắng cảnh nổi tiếng. Ở phía Đông có bãi biển Sầm Sơn, Hải Tiến, Hải
Hoà. Vùng Tây Nam của tỉnh có rừng quốc gia Bến En với hệ động thực vật
phong phú đang đƣợc UNESCO khảo sát để công nhận là di sản thiên nhiên
thế giới. Vùng Tây Bắc có các khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, Pù Luông,
Xuân Liên, là những khu rừng đặc dụng, nơi tồn trữ và bảo vệ các nguồn gien
động, thực vật quí hiếm. Đây là các điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách ở
khắp mọi nơi.
Thanh Hóa là một tỉnh có dân số đông (đứng thứ 3 sau Thành phố Hồ Chí
Minh và Hà Nội). Tính đến năm 2010, Thanh Hoá có hơn 3,4 triệu ngƣời. Dân
số đông nên nguồn lao động của tỉnh rất dồi dào và tƣơng đối trẻ.
Trên địa bàn tỉnh có 7 dân tộc anh em sinh sống, đó là: Kinh, Mƣờng,
Thái, H'mông, Dao, Thổ, Hoa. Ngƣời Kinh sinh sống chủ yếu ở vùng đồng
bằng. Các dân tộc ít ngƣời sống chủ yếu ở các huyện vùng núi cao và biên giới.
So với các tỉnh khác thì dân số Thanh Hóa theo các tôn giáo không đông:
Phật giáo: khoảng 20.000 tín đồ, Công giáo: khoảng 139.170 tín đồ, Tin lành:
khoảng 186 tín đồ, Cao đài: khoảng 100 tín đồ. Còn lại các đồng bào thiểu số
thì theo tín ngƣỡng của dân tộc mình. Mặc dù dân số đông và đa dạng về dân
tộc nhƣng Thanh Hóa rất ổn định về chính trị - xã hội.
Trình độ dân trí của tỉnh tƣơng đối cao. Đến nay, tỉnh đã hoàn thành phổ

lại có đầy đủ những mốc nổi tiếng đánh dấu các giai đoạn lớn của lịch sử, từ
tối cổ đến ngày nay nhƣ Thanh Hóa. Di chỉ Núi Đọ phát hiện năm 1960 ở
huyện Thiệu Hoá, là cái mốc tối cổ, nơi tìm đƣợc dấu tích con ngƣời thuộc

13


thời đại sơ kỳ đá cũ đã khẳng định Thanh Hóa là nơi sinh sống của ngƣời
nguyên thuỷ. Di chỉ hang Con Moong phát hiện ở Thạch Thành, chứa đựng
các dấu vết khảo cổ học từ văn hoá Sơn Vi (hậu kỳ đá cũ) ở lớp dƣới, trên đó
là các lớp văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn cho thấy con ngƣời đã tiếp tục sinh
sống ở đây suốt từ hậu kỳ đá cũ qua sơ kỳ và trung kỳ đá mới. Văn hoá khảo
cổ Đa Bút ở lƣu vực sông Mã là một phát hiện quan trọng của giới khảo cổ
học, vì Đa Bút là sự phát triển nối tiếp của văn hoá Hòa Bình - Bắc Sơn trong
quá trình chinh phục đồng bằng ven biển Thanh Hoá thời đá mới, cách ngày
nay khoảng trên dƣới 6000 năm. Văn hóa Hoa Lộc là văn hoá khảo cổ thuộc
sơ kỳ thời đại kim khí, phát hiện ở huyện Hậu Lộc, phân bố chủ yếu ở vùng
ven biển, có niên đại khoảng 4000 năm. Đông Sơn là văn hoá thời đại kim khí
(đồ đồng, sơ kỳ sắt), phát hiện lần đầu tiên năm 1924 tại làng Đông Sơn,
huyện Đông Sơn, Thanh Hoá. Hiện vật tiêu biểu của văn hoá Đông Sơn là
trống đồng cũng tìm thấy nhiều ở đây với các kiểu dạng khác nhau. Đây là
giai đoạn phát triển rực rỡ của văn minh lúa nƣớc trên cơ sở phát triển nông
nghiệp ruộng đồng, kỹ thuật đúc đồng, rèn sắt.
Nhƣ vậy, Thanh Hoá cùng với đồng bằng châu thổ Bắc Bộ là cái nôi
hình thành dân tộc Việt Nam, quốc gia Việt Nam và nền văn hoá Việt Nam.
Thanh Hóa còn là vùng địa linh nhân kiệt. Suốt nghìn năm đất nƣớc bị
đô hộ, Thanh Hóa là vùng đất đã anh dũng, quật cƣờng chống lại ách đô hộ
phƣơng Bắc trong đó tiêu biểu nhất là khởi nghĩa Bà Triệu năm 248. Năm 981
Lê Hoàn đại phá quân Tống bảo vệ nền độc lập từ sau chiến thắng của Ngô
Quyền năm 938. Quê hƣơng này đã sản sinh ra nhiều các bậc đế vƣơng sáng

phƣơng lại tiếp tục phát huy tinh thần yêu nƣớc và truyền thống cách mạng.
Nhiều nơi ở Thanh Hóa trở thành căn cứ kháng chiến. Biết bao thế hệ ngƣời
dân xứ Thanh đã anh dũng ra chiến trƣờng chiến đấu để bảo vệ đất nƣớc. Tại
địa phƣơng, nhân dân Thanh Hóa không kể già trẻ gái trai đã kiên cƣờng
chiến đấu bảo vệ cây cầu Hàm Rồng - huyết mạch giao thông bảo đảm cho sự

15


chi viện của hậu phƣơng miền Bắc tới tiền tuyến miền Nam. Ngày nay, ngƣời
dân Thanh Hóa tiếp tục hăng say xây dựng quê hƣơng, phấn đấu đƣa Thanh
Hóa trở thành tỉnh kiểu mẫu nhƣ Bác Hồ hằng mong đợi.
Tính đến nay, cả tỉnh có 1.535 di tích lịch sử, trong đó có 134 di tích
đƣợc xếp hạng quốc gia, 412 di tích đã xếp hạng cấp tỉnh với các di tích nổi
tiếng nhƣ Núi Đọ, Đông Sơn, khu di tích Bà Triệu, Lê Hoàn, thành Nhà Hồ,
Lam Kinh, Ba Đình, Hàm Rồng,... Trong đó thành nhà Hồ đã đƣợc UNESCO
công nhận là Di sản văn hoá thế giới. Cùng với những danh lam, thắng cảnh
tự nhiên đây là những địa điểm thu hút khách du lịch.
Thanh Hóa nổi tiếng hiếu học từ xƣa. Đây là quê hƣơng của hàng ngàn
tiến sĩ, bảng nhãn, thám hoa. Suốt hai triều Lê, Nguyễn, Thanh Hóa có 1690
cử nhân, 3 Trạng nguyên, 7 Bảng nhãn, 6 Thám hoa, 7 nhất giáp chế khoa
[81,tr.12].
Từ rất sớm, một số địa phƣơng ở Thanh Hóa đã có truyền thống dựng
bia hoặc lập văn chỉ ở các làng, các huyện. Bia và văn chỉ dùng để ghi những
thành tích học tập, những kết quả khoa bảng của riêng địa phƣơng ấy. Điển
hình nhƣ: Xã Thịnh Mỹ huyện Thọ Xuân, văn bia ghi lại xã có đến 40 ngƣời
đỗ khoa bảng. Huyện Đông Sơn có tấm bia gọi là Đông Sơn bia huyện với
446 vị, có 1 trạng nguyên 1 bảng nhãn, 2 thám hoa và 6 hoàng giáp [81, tr.2].
Tiêu biểu cho đất học Thanh Hóa là xã Hoằng Lộc - Hoằng Hóa. Hoằng Lộc
gắn liền với nhiều tên gọi nhƣ: “đất hiếu học” “đất Trạng Quỳnh”. Theo các

tỉnh Thanh Hóa thì ông cho rằng giáo dục nhƣ làng quê của tỉnh này là rất ít
ỏi và điển hình cho Trung kỳ [81, tr.2-3].
Từ đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống văn hóa nêu trên
có thể thấy: Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực đáp ứng sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh là rất cao. Sự phát triển kinh tế ngày càng cao cộng với thế
mạnh truyền thống hiếu học là một trong những điều kiện hết sức thuận lợi

17


trong việc thực hiện chính sách phát triển giáo dục của Đảng nhằm phát triển
kinh tế - xã hội ở địa phƣơng. Tuy vậy, sự đa dạng về điều kiện tự nhiên dẫn
đến sự chênh lệch trình độ phát triển kinh tế của các vùng miền, diện tích
rộng, dân số đông, nhu cầu đầu tƣ cho giáo dục cao trong khi ngân sách đƣợc
cấp không cao hơn các tỉnh khác. Vì vậy, đây cũng là một khó khăn không
nhỏ trong quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo thực hiện chính sách
phát triển GDPT.
1.1.3. Thực trạng giáo dục phổ thông ở Thanh Hóa trước 1996
Kể từ Cách mạng tháng Tám 1945, nền giáo dục và đào tạo Thanh Hóa
thực sự trở thành nền giáo dục do dân, vì dân. Tháng 9/1945, Thanh Hóa
thành lập Ty thanh tra tiểu học, thành lập Nha Bình dân học vụ. Các quận,
huyện, xã, thôn, đều lập Ban Bình dân học vụ. Đến cuối tháng 9/1945, các
trƣờng tiểu học trong toàn tỉnh đã đi vào ổn định và phát lệnh chiêu sinh trở
lại để chuẩn bị cho năm học mới. Ngày 20/02/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh
lần đầu tiên vào thăm Thanh Hóa. Ngƣời đã thay mặt Chính phủ trao tặng
Thanh Hóa 10 vạn đồng để làm quỹ phát triển Bình dân học vụ [8, tr.623].
Nhờ sự quyết tâm, nỗ lực, giáo dục Thanh Hóa đã có những tiến bộ
đáng kể. Xã Vĩnh Khang - Vĩnh Lộc của tỉnh dẫn đầu phong trào thanh toán
nạn mù chữ toàn miền Bắc đƣợc Chính phủ tặng thƣởng Huân chƣơng Lao
động hạng Hai. Đến ngày 13/6/1957, Bác Hồ về thăm Thanh Hóa lần thứ hai.
Bác nói chuyện với các đại biểu nhân dân toàn tỉnh và khen ngợi: “bƣớc đầu

chắc hệ thống giáo dục quốc dân theo hƣớng đạt hiệu quả thiết thực, mở rộng
quy mô hợp lí, thật sự gắn với các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội
và chỉ rõ: “Khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là động lực đƣa đất
nƣớc thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vƣơn lên trình độ tiên tiến trên thế giới”.
[31, tr.79] Chính vì vậy mục tiêu của giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri

19


thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ và sáng tạo, có đạo đức
cách mạng, tinh thần yêu nƣớc, yêu chủ nghĩa xã hội.
Đối với GDPT, trong giai đoạn từ 1991 đến 1995 cần phải: “Tập trung
thực hiện chƣơng trình phổ cập giáo dục cấp I và chống mù chữ, phát triển
cấp II và cấp III phù hợp với yêu cầu và điều kiện của nền kinh tế. Củng cố và
phát triển trƣờng phổ thông cho trẻ khuyết tật” [31, tr.79].
Công tác đào tạo cho giáo dục miền núi cũng đƣợc Đại hội chú trọng:
Tăng cƣờng đầu tƣ giáo dục miền núi và vùng dân tộc thiểu số, mở rộng các
trƣờng dân tộc nội trú, quy hoạch đào tạo cán bộ và tri thức ngƣời dân tộc.
Quán triệt quan điểm trên, Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung
ƣơng Khóa VII (1993) đã ban hành Nghị quyết 04 - NQ/HNTW về: “Tiếp
tục đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo”.Nghị quyết đã nêu lên những
thành tựu hết sức cơ bản, đồng thời chỉ rõ những yếu kém của hệ thống
giáo dục. Từ đó, bổ sung những quan điểm của Đại hội VII về giáo dục đào
tạo bao gồm cả GDPT:
Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách
hàng đầu. Đó là một động lực thúc đẩy và là một điều kiện cơ bản bảo đảm
việc thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nƣớc.
Phải coi đầu tƣ cho giáo dục là một trong những hƣớng chính của đầu tƣ phát

sự nghiệp giáo dục miền núi, nhất là ở vùng dân tộc ít ngƣời” [41, tr.107).
Sắp xếp lại hệ thống GDPT cho phù hợp với thực trạng nền kinh tế và
yêu cầu của nhân dân,… Bồi dƣỡng, đào tạo lại cán bộ quản lí, và giáo viên.
Thực hiện chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với giáo viên dạy giỏi, giáo viên
công tác ở miền núi [41, tr.107].
Tỉnh ủy và Sở giáo dục đã ban hành nhiều Nghị quyết và Chỉ thị về
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp
hành Trung ương khóa VII, tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tạo với
nội dung: Tiếp tục đổi mới cơ cấu và hệ thống giáo dục. Từng bƣớc tách cấp I
ra khỏi phổ thông cơ sở, hình thành các trƣờng tiểu học, trung học cơ sở và
phải đƣợc tiến hành vững chắc, phù hợp với điều kiện, tình hình của từng địa

21


bàn; đƣa các lớp cấp I về tận bản làng, tạo điều kiện gắn với cộng đồng, liên
thông với mẫu giáo 5 tuổi. Phát triển các lớp ghép miền núi, vùng thƣa dân,
lớp linh hoạt ở vùng ven biển đông dân và nhiều trẻ em bỏ học.
Ở trung học, tách cấp II thành lập trƣờng trung học cơ sở khi có đủ số
lớp tối thiểu và các điều kiện cơ sở vật chất hoặc mở trƣờng cấp II liên xã nếu
thuận lợi về địa lí hoặc mở trƣờng cấp II - III ở những nơi có trƣờng cấp III
nhƣng quy mô nhỏ. Các mô hình này chỉ có tính chất tình thế, tạo thuận lợi
cho con em nhân dân đến trƣờng học tập chuẩn bị cho bƣớc phát triển mới.
Bắt đầu cho thí điểm thành lập các trƣờng ngoài công lập.
Tăng cƣờng hợp tác, mở rộng quan hệ với các tỉnh, thành phố trong cả
nƣớc và các tổ chức quốc tế để tập trung mọi nguồn lực cho giáo dục.
Thực hiện xã hội hóa giáo dục, tạo điều kiện cho đông đảo nhân dân
trong tỉnh đƣợc tiếp nhận giáo dục cũng nhƣ đƣợc đóng góp vật chất, tài
chính cho giáo dục và đào tạo.
Mặc dù, Thanh Hóa là tỉnh có kinh tế còn kém phát triển, lại luôn bị


0

727

0

51

778

1991-1992

179

488

120

53

840

1992 -1993

267

420

180

Từ bảng số liệu trên có thể thấy số lƣợng trƣờng học ở các cấp đã có sự
thay đổi. Các trƣờng phổ thông cơ sở giảm dần nhƣờng chỗ cho việc tách ra
thành các trƣờng tiểu học và THCS. Quy mô giáo dục THCS lớn dần. Hệ
thống trƣờng PTTH khá ổn định.
Sự gia tăng số lƣợng trƣờng lớp theo hệ thống tổ chức mới đã tạo điều
kiện thuận lợi cho con em các dân tộc trong tỉnh đến trƣờng. Từ năm học
1990 - 1991, số lƣợng học sinh các cấp đã tăng liên tục. Tỉ lệ học sinh phổ
thông bỏ học đã giảm rõ rệt. Đến 1995, quy mô bậc tiểu học phát triển ổn
định, tiến tới yêu cầu phổ cập tiểu học đúng độ tuổi.
Bảng 2: Thống kê số lượng học sinh các cấp từ 1990 đến 1995
Đơn vị: Học sinh
Năm học

Tiểu học

THCS

PTTH

Tổng cộng

1990-1991

455810

112409

18595

706946


1995-1996

54923

22982

43220

100268

Nguồn: Sở giáo dục và đào tạo Thanh Hóa

23


Việc xây dựng và phát triển giáo dục miền núi đã đƣợc tiến hành theo
phƣơng châm phù hợp với điều kiện, tình hình từng địa bàn. Hệ thống các
trƣờng phổ thông phát triển đều khắp. Mỗi huyện đã có trƣờng Dân tộc nội trú
ở bậc THCS và ở tỉnh cũng đã có một trƣờng Dân tộc nội trú ở bậc PTTH. Tất
cả các dân tộc đều có học sinh nội trú. Sau khi tốt nghiệp PTTH, phần lớn các
em lại đƣợc tuyển vào các trƣờng đại học dự bị để đi học cao đẳng, đại học và
trung học chuyên nghiệp.
Bên cạnh việc mở rộng quy mô, GDPT Thanh Hóa đã có sự phấn đấu
nhằm phát triển nội dung và chất lƣợng dạy, chất lƣợng học theo xu hƣớng
ngày càng hiện đại.
Ở bậc tiểu học đã ngăn chặn đƣợc tình trạng bỏ học, số lƣợng học sinh
các cấp học hàng năm đều tăng. Bên cạnh đó giáo dục tiểu học cũng có sự
tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện nội dung giáo dục toàn diện, giảng dạy đủ
các môn học. Học sinh giỏi phải thi cả hai môn: Toán và Tiếng Việt. Nhiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status