ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
TRỊNH THỊ HOA
ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƢƠNG
LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC THANH NIÊN
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
TRỊNH THỊ HOA
ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƢƠNG
LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC THANH NIÊN
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Trần Thị Thu Hƣơng
1
Là một tỉnh nằm ở lưu vực châu thổ sông Hồng, Đảng bộ tỉnh Hải
Dương đặc biệt quan tâm lãnh đạo, xây dựng tổ chức thanh niên, động viên
tuổi trẻ hăng hái vươn lên, vượt qua những khó khăn thử thách, đổi mới nội
dung, phương thức hoạt động của Đoàn, xung kích thực hiện thắng lợi các
chương trình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương, công tác thanh niên đã
góp phần xây dựng được thế hệ thanh niên thời kỳ mới có đạo đức, nhân cách,
tri thức, sức khỏe, tư duy năng động và hành động sáng tạo; tiếp nối truyền
thống hào hùng của quê hương, đất nước, nêu cao lòng yêu nước, ý thức xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; không ngại khó khăn, gian khổ,
tình nguyện vì cộng đồng; có trách nhiệm với gia đình, xã hội; có ý chí vươn
lên trong học tập, lao động, lập thân, lập nghiệp, làm giàu chính đáng, quyết
tâm đưa tỉnh Hải Dương thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu; mong muốn được tin
tưởng, được cống hiến cho đất nước, có việc làm, thu nhập ổn định, đời sống
văn hoá tinh thần lành mạnh, phong phú, môi trường sống an toàn.
Các cấp ủy Đảng, chính quyền trong toàn tỉnh đã tích cực triển khai các
Nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước về thanh niên và công tác
thanh niên, xã hội hóa công tác thanh niên được đẩy mạnh.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích vẫn còn những hạn chế: tình hình
thanh niên cũng đang diễn biến hết sức phức tạp, một bộ phận thanh niên
sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm đến tình hình đất nước,
thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hóa
dân tộc. Học vấn của một bộ phận thanh niên, nhất là thanh niên nông thôn,
thanh niên dân tộc thiểu số còn thấp; nhiều thanh niên thiếu kiến thức và kỹ
năng trong hội nhập quốc tế. Tính độc lập, chủ động, sáng tạo, năng lực thực
hành sau đào tạo của thanh niên còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp
3
cứu này, các tác giả đều đề cập đến vai trò của thanh niên cũng như tổ chức
đoàn trong việc vận động thanh niên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
Về tạp chí, vấn đề công tác thanh niên cũng nhận được sự quan tâm
của nhiều tác giả khi khai thác nội dung phát triển đảng trong thanh niên một khía cạnh của công tác thanh niên như: Trên báo Quân đội nhân dân có
bài của Trần Nhật Độ: "Đổi mới hơn nữa công tác phát triển Đảng", số ra
ngày 22/3/1994; Lê Mậu Lân với bài: "Phát triển đảng viên trẻ, nguồn sinh
lực tiềm tàng của Đảng", số ra ngày 23/1/1995; Đỗ Mười với bài: "Phấn
đấu vào Đảng thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh là lý tưởng cao đẹp của thanh niên", số ra ngày 20/3/1995; Vũ
Thanh Minh với bài: "Vấn đề đào tạo nguồn phát triển Đảng trong thanh
niên", số ra ngày 11/10/1995; Hoàng Bình Quân với bài trên báo Thông tin
khoa học tự nhiên: "Vấn đề phát triển Đảng trong thanh niên sinh viên hiện
nay", số 5, 5/1999. Trên tạp chí có bài của Nguyễn Văn Muôn: "Một số suy
nghĩ về công tác phát triển Đảng hiện nay", Xây dựng Đảng, số 5, 1994;
Đỗ Xuân với bài: "Hội nghị chuyên đề về công tác phát triển đảng viên
trẻ", Xây dựng Đảng, số 3, 1995; Hồ Đức với bài: "Việc đẩy mạnh công tác
phát triển Đảng trong thanh niên", Tạp chí Cộng sản, số 5, 1995; Mạch
Quang Thắng với bài: "Một số vấn đề đặt ra đối với công tác phát triển
đảng viên", Xây dựng Đảng, số 5, 2004; Nguyễn Văn Sáu với bài: "Một số
giải pháp nâng cao công tác phát triển Đảng", Xây dựng Đảng, số 6, 2004;
Hồ Đức Việt với bài: "Đẩy mạnh công tác phát triển Đảng trong thanh
niên", Tạp chí Cộng sản, số 3, 1995.
Trong những số báo này, hầu hết các tác giả đều đề cập và giải quyết
đến các vấn đề phát triển Đảng nói chung và phát triển Đảng trong đối
tượng là thanh niên, sinh viên nói riêng.
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa - thực trạng và giải pháp. Trong bài
5
viết này, tác giả đã đề cập đến vai trò của trí thức Hải Dương và đặc biệt nhấn
mạnh đến tầm quan trọng của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng đất nước
nói chung và của tỉnh Hải Dương nói riêng. Trên Tạp chí Lao động và xã hội,
Số 244, tác giả Tạ Duy có bài: Hải Dương với chương trình giải quyết việc
làm. Tác giả có đề cập đến chính sách của tỉnh nhằm tạo việc làm cho thanh
niên. Hay Đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp đẩy mạnh
công tác phát triển đảng viên ở xã, phường, thị trấn tỉnh Hải Dương trong
thời kỳ mới” do Vũ Văn Sơn, Uỷ viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tổ chức
Tỉnh uỷ Hải Dương làm chủ nhiệm.
Những công trình trên là những tư liệu quý góp phần cung cấp những
dữ liệu quan trọng để tác giả luận văn giải quyết những nhiệm vụ đặt ra cho
đề tài. Trên nhiều góc độ khác nhau, đã có nhiều công trình đề cập có liên
quan đến thanh niên nói chung và thanh niên tỉnh Hải Dương nói riêng. Tuy
nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về quá trình
Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo công tác thanh niên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về công
tác thanh niên trong 10 năm từ 2000 đến 2010, góp phần tổng kết thực tiễn
hoạt động quan trọng ở một địa phương có nhiều biến đổi ở đồng bằng sông
Hồng. Từ đó, đóng góp cơ sở khoa học cho quá trình hoạch định chủ trương
về công tác thanh niên trong thời gian tới có hiệu quả hơn.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích đó, luận văn tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Phân tích những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
số liệu, kết quả điều tra thực tiễn ở Hải Dương về công tác thanh niên… Đây là
những nguồn tư liệu cơ bản, không thể thiếu của luận văn. Những nguồn tư liệu
7
đó được tác giả khai thác từ Kho Lưu trữ của Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh,
Tỉnh Đoàn Hải Dương…
Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng nguồn tư liệu về công tác thanh niên từ
các nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong nước, do các nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Quân đội, Thanh niên… phát hành. Đây là những tài
liệu góp phần cung cấp những gợi mở cho nghiên cứu.
5.2. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử; cơ sở lý luận chung của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh về công tác thanh niên, các quan điểm và đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước về thanh niên và công tác thanh niên trong gian đoạn hiện nay.
5.3. Phương pháp nghiên cứu
- Để thực hiện luận văn, tác giả chọn phương pháp lịch sử và phương pháp
logic là chủ yếu. Ngoài ra còn sử dụng kết hợp một số phương pháp như: phân
tích, tổng hợp, thống kê, so sánh....
- Khảo sát thực tiễn quá trình lãnh đạo và chỉ đạo công tác thanh niên của
Đảng bộ tỉnh Hải Dương.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên trình bày một cách
có hệ thống quá trình lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện công tác thanh niên của
Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong những năm từ 2000 đến năm 2010.
- Ở mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm
phong phú thêm tài liệu tham khảo để nghiên cứu và tuyên truyền về lịch sử
Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong thời kỳ đổi mới.
Thanh Miện, Cẩm Giàng và Bình Giang.
Về địa hình, Hải Dương được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng
đồng bằng. Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tự
9
nhiên gồm 13 xã thuộc huyện Chí Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn; là
vùng đồi núi thấp, phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây
công nghiệp ngắn ngày. Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự
nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ, thích hợp với nhiều
loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm.
Về khí hậu, Hải Dương nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ
trung bình hàng năm là 23,3 0C, nhiệt độ cao nhất vào mùa hè không quá
24°C, giờ nắng trung bình hàng năm là 1524 giờ, lượng mưa trung bình
hàng năm 1.300 - 1.700 mm, độ ẩm trung bình là 85 - 87%.
Các điều kiện tự nhiên của Hải Dương tạo điều kiện thuận lợi cho
việc phát triển một nền kinh tế nông nghiệp với ngành trồng lúa nước và
ngành công nghiệp phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh.
* Điều kiện kinh tế - xã hội
- Giao thông và cơ sở hạ tầng: Tỉnh Hải Dương có hệ thống cơ sở hạ tầng
khá hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển.
Hệ thống giao thông: gồm đường bộ, đường thuỷ, đường sắt; Phân bố
hợp lý, giao lưu rất thuận lợi tới các tỉnh. Đường bộ: có 4 tuyến đường
quốc lộ qua tỉnh dài 99 km, đều là đường cấp I, cho 4 làn xe đi lại thuận
tiện. Đường sắt: Tuyến Hà Nội - Hải Phòng chạy song song với quốc lộ 5,
đáp ứng vận chuyển hàng hoá, hành khách qua 7 ga trong tỉnh. Tuyến Kép
- Bãi Cháy chạy qua huyện Chí Linh, là tuyến đường vận chuyển hàng lâm
nông thổ sản ở các tỉnh miền núi phía Bắc ra nước ngoài qua cảng Cái Lân,
cũng như hàng nhập khẩu và than cho các tỉnh. Đường thuỷ: với 400 km
- Về dân số, năm 2009, dân số của tỉnh có hơn 1.703.492 người
(nam: 833.459 người, nữ: 870.033 người). Thanh niên Hải Dương hiện nay
có gần 45 vạn thanh niên trong độ tuổi từ 16 đến 30, chiếm khoảng 25,72%
dân số và gần 49% lực lượng lao động xã hội; trong đó thanh niên nông thôn
11
chiếm 39%, thanh niên học sinh, sinh viên 29%; thanh niên công nhân, viên
chức 19,3%, thanh niên lực lượng vũ trang 3,7%, thanh niên đô thị 8%, thanh
niên dân tộc, tôn giáo 1%. Đây là lực lượng nòng cốt cho sự phát triển kinh
tế tỉnh nhà nói riêng và cho cả nước nói chung. [85, tr.1]
Xét về quy mô dân số thì Hải Dương là một tỉnh có mật độ dân số
đông, đứng thứ 11/63 tỉnh thành trong cả nước và đứng thứ 5/11 tỉnh thành
trong vùng đồng bằng sông Hồng. Nhìn chung, với quy mô dân số như hiện
nay, Hải Dương vẫn còn nhiều tiềm năng và ưu đãi của tự nhiên với bình
quân đất tự nhiên/người còn khá cao (1.029 người/km2). Mặt khác, trong cơ
cấu dân thành thị và nông thôn vẫn cho thấy, Hải Dương có dân số tập trung
đông ở các vùng nông thôn (chiếm hơn 80% dân số toàn tỉnh).
Trên địa bàn tỉnh có 10 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh có
1.646.426 người, chiếm 99,74%; các dân tộc thiểu số như dân tộc Sán dìu có
1.516 người, chiếm 0,09%; dân tộc Tày có 469 người, chiếm 0,0028%; dân
tộc Nùng có 75 người, chiếm 0,0045%; dân tộc Thái có 65 người, chiếm
0,0039%; dân tộc Mông có 17 người, chiếm 0,001%; dân tộc Dao có 27
người, chiếm 0,0016%; dân tộc Thổ có 21 người, chiếm 0,0012% và các dân
tộc khác chiếm 0,213%.
Trình độ dân trí: Tính đến năm 2011 đã phổ cập giáo dục THPT cho
12 huyện, thành phố với tổng số 263 xã, phường, thị trấn; số người trên 15
tuổi trở lên đã qua đào tạo là 41% (chủ yếu là đào tạo nghề 31,54%) trong đó
có trình độ đại học trở lên là 2,9%, tăng 1,62% so với 2004, số người tốt
(Cẩm Giàng), kim hoàn Châu Khê và gốm Cậy (Bình Giang); gốm Chu Đậu
(Nam Sách); khắc ván in Hùng Lục, Liễu Tràng (Gia Lộc), thêu Xuân Nẻo
(Tứ Kỳ), dệt chiếu Tiên Kiều (Thanh Hà)... Sản phẩm của các làng nghề
truyền thống thể hiện sự sáng tạo, khéo léo, tài hoa của người xứ Đông, được
khách hàng trong nước và quốc tế ưa chuộng.
13
Hệ thống di tích lịch sử - văn hoá - danh thắng, đặc biệt là các di tích
quan trọng của quốc gia trên địa bàn, cùng với hệ thống các làng nghề nổi
tiếng, góp phần quan trọng làm cho Hải Dương trở thành một vùng văn hoá
đặc biệt hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu của khách thập phương về các phương
diện: tìm hiểu lịch sử - văn hoá, sinh hoạt tâm linh, thưởng ngoạn cảnh quan
thiên nhiên tươi đẹp, chiêm ngưỡng bàn tay tài hoa, khéo léo và các sản phẩm
nghệ thuật tinh xảo của các nghệ nhân làng nghề…
Người Hải Dương không chỉ giỏi làm ra nhiều nông sản, đặc sản quý
như gạo nếp cái hoa vàng (Kinh Môn, Cẩm Giàng), vải thiều (Thanh Hà), dưa
hấu (Gia Lộc), na dai, chuối mật (Chí Linh)… mà còn giỏi chế biến nhiều
món ăn đặc sản nổi tiếng khắp trong, ngoài nước như bánh đậu xanh, bánh
khảo, bánh cuốn (thành phố Hải Dương), bánh gai (Ninh Giang), bánh đa Kẻ
Sặt (Bình Giang), rượu Phú Lộc (Cẩm Giàng), giò chả (Gia Lộc), chả, mắm
rươi (Kim Thành), mắm cáy (Thanh Hà)…. Văn hoá ẩm thực của Hải Dương
phong phú, đa dạng, dân dã mà tinh tế, hấp dẫn. Hương vị đặc biệt của các
món ẩm thực địa phương đã làm cho người Hải Dương tự tin mời khách bốn
phương và những người đã một lần thưởng thức, thì xa lâu còn nhớ.
Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, cùng với sự phát triển toàn
diện của quê hương, diện mạo của lớp thanh niên Hải Dương trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa dần được định hình và khẳng định.
Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp,
anh hùng”, “Theo chân Bác”, triển khai cuộc vận động “Toàn dân tham gia
xây dựng Đảng”… Các hoạt động thiết thực trên đã thu hút hàng vạn đoàn
viên, thanh niên Hải Dương tham gia. Thông qua đó, ý thức cách mạng và
tinh thần chiến đấu của thanh niên được nâng cao, tuổi trẻ Hải Dương nhận
thức được vai trò, trách nhiệm của mình đối với quê hương, đất nước.
15
Trên mặt trận xây dựng và phát triển kinh tế: phong trào “Ba xung kích
làm chủ tập thể”, “Lao động tình nguyện vượt mức kế hoạch” được triển khai
có hiệu quả ở tất cả các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp: Điểm nổi bật trong phong trào thi
đua của thanh niên nông thôn là trên mặt trận thủy lợi. Đoàn viên, thanh niên
đóng vai trò là lực lượng nòng cốt trong các đội thủy lợi, thanh niên sẵn sàng
đảm nhận những khâu xung yếu, những công việc khó khăn, nặng nề nhất,
phấn đấu vượt chỉ tiêu định mức. Tỉnh Đoàn đã hướng dẫn và chỉ đạo các cơ
sở Đoàn xây dựng “Cánh đồng tăng sản”, triển khai hoạt động “Mở hội thi
tài”, khuyến khích thanh niên tích cực tham gia công tác khai hoang, mở rộng
diện tích đất nông nghiệp…
Phong trào “Lao động tình nguyện vượt mức kế hoạch” trong thanh
niên công nghiệp cũng được triển khai rộng khắp ở hầu hết các nhà máy, xí
nghiệp, công trường, nông trường… thu hút hàng vạn công nhân trẻ tham gia.
Các hoạt động “Luyện tay nghề, thi thợ giỏi”, “Tổ đội khoa học kỹ thuật trẻ”,
“Câu lạc bộ thanh niên”, “Xe máy thanh niên”… được tổ chức ở hầu hết các
cơ sở đoàn trong các nhà máy, xí nghiệp, công trường, nông trường quốc
doanh. Phong trào sáng tạo và tiết kiệm được duy trì và hoạt động tốt thông
qua các ban khoa kỹ thuật trẻ.
Cùng thi đua với đoàn viên, thanh niên trong khối công - nông nghiệp,
đoàn viên, thanh niên khối cơ quan hành chính, sự nghiệp đã không ngừng cải
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương, Đoàn thanh niên cộng
sản Hồ Chí Minh tỉnh đã chỉ đạo thanh niên thực hiện tốt các chương trình
hành động cách mạng của thanh niên:
Tuổi trẻ xung kích, sáng tạo trên mặt trận phát triển kinh tế, thực hiện
thắng lợi ba mục tiêu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
17
Tuổi trẻ đi đầu thực hiện các chính sách xã hội và đấu tranh cho công
bằng xã hội.
Tuổi trẻ xung kích trên mặt trận quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.
Tuổi trẻ học tập và tiến quân vào khoa học kỹ thuật
Nhìn chung, mặc dù còn nhiều hạn chế, song công tác thanh niên của
tỉnh Hải Dương đã có nhiều chuyển biến tích cực, thanh niên đã tham gia
vào mọi mặt của đời sống xã hội, góp phần đem lại sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Ngày 22-4-1992, Hội Liên Hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh Hải Hưng
tổ chức lễ ra mắt. Hội Liên Hiệp Thanh niên tỉnh ra đời nhằm tổ chức, đoàn
kết, tập hợp thanh niên, kịp thời đáp ứng các nhu cầu về học tập, hoạt động
của thanh niên. Hội hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, dân chủ,
hợp tác, bảo đảm tính thống nhất của phong trào thanh niên.
Từ ngày 28 đến ngày 30-5-1992, Đại hội Đại biểu Đoàn thanh niên
toàn tỉnh lần thứ V được tiến hành. Trên cơ sở phân tích những thành tựu và
hạn chế của công tác Đoàn, Đại hội đã tổng kết, đánh giá công tác Đoàn và
phong trào thanh, thiếu niên 5 năm (1987-1991), đề ra phương hướng, nhiệm
vụ của tổ chức Đoàn những năm tới.
Quán triệt Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (khóa VII) tháng 1 - 1993: “Về công tác thanh niên trong thời kỳ mới”,
Tỉnh ủy đã chỉ đạo trực tiếp tổ chức Đoàn và phong trào thanh, thiếu niên
trong tỉnh. Nhờ vậy, tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên trong tỉnh ngày
nước nhớ nguồn”, “Sưu tầm địa chỉ đỏ” được các cấp bộ Đoàn và đông đảo
đoàn viên, thanh, thiếu niên hưởng ứng tích cực. Các cơ sở Đoàn tổ chức
nhiều phong trào và nhiều cuộc vận động như “Vì điểm tựa tiền tiêu của Tổ
quốc”, “Vì Trường Sa thân yêu”.
19
Cùng với việc chú trọng lãnh đạo các phong trào Đoàn, các cấp ủy
đảng, chính quyền cũng quan tâm chỉ đạo công tác xây dựng, củng cố tổ chức
cơ sở Đoàn vững mạnh thông qua việc kiểm tra, phân loại tổ chức Đoàn cơ
sở, kiểm tra đội ngũ cán bộ Đoàn và mở rộng các hội thi cán bộ Đoàn, Đội
giỏi. Công tác tập huấn cho cán bộ Đoàn được tăng cường.
* Những vấn đề đặt ra đối với công tác thanh niên Hải Dương trong
thời kỳ mới
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác thanh niên tỉnh Hải Dương
còn đặt ra một số vấn đề cần giải quyết:
- Một bộ phận thanh thiếu niên chưa nhận thức được vai trò, vị trí của
mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh, chưa thực sự tin
tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nhận thức chính trị hạn chế,
không quan tâm đến sự thịnh suy của tỉnh, sống buông thả, không có trách
nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, sa vào các tệ nạn xã hội như ma túy,
mại dâm, trộm cướp… Do đó, Đoàn thanh niên phải làm tốt hơn nữa công tác
giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho thanh niên.
- Đội ngũ cán bộ Đoàn chưa được quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng một
cách có hệ thống. Chất lượng cán bộ Đoàn chưa đáp ứng được yêu cầu chỉ
đạo và tổ chức hoạt động cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay. Vai trò của
tổ chức Đoàn trong việc giúp thanh niên lập thân, lập nghiệp còn hạn chế.
- Mặc dù được các cấp chính quyền quan tâm nhưng vẫn còn một bộ
phận không nhỏ thanh niên có trình độ học vấn, năng lực lao động thấp kém,
Lênin luôn quan tâm tới việc định hướng cho thanh niên, ông cho rằng, có
được định hướng, thanh niên sẽ phát huy được khả năng sức mạnh của mình
trong các phong trào cách mạng. Lênin luôn nhấn mạnh cần phải có thái độ độ
lượng với thế hệ trẻ, đồng thời phải luôn nhắc nhở, đòi hỏi ở thanh niên nhiều
21
hơn nữa, cần phải phê phán một cách có nguyên tắc những khuyết điểm của
họ, phải giáo dục họ tinh thần trách nhiệm và nghĩa vụ đối với cách mạng
ngay từ thuở thiếu thời, vấn đề kế thừa giữa các thế hệ được coi là bộ phận
hữu cơ trong chính sách của Đảng, là phương hướng giáo dục quan trọng của
tổ chức Đoàn và các tổ chức xã hội. Các thế hệ trước có trách nhiệm tự giác
truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm của mình. Lênin luôn phản đối
sự đánh giá không đầy đủ về thanh niên trong xã hội, chống lại mưu đồ ve
vãn có tính chất cơ hội đối với thanh niên, phản đối sự lợi dụng nghị lực và tình
trạng thiếu kinh nghiệm của thanh niên nhằm thực hiện mục đích phản động.
Suốt cuộc đời cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành
cho thế hệ trẻ sự quan tâm đặc biệt. Người thường nói, thanh niên là rường
cột của nước nhà, là mùa xuân của xã hội: “Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay
mạnh, một phần lớn là do thanh niên” [50, tr. 24]. Là người tổ chức, giáo dục
và rèn luyện các thế hệ thanh niên Việt Nam, từ khi tìm được con đường cứu
nước, cứu dân, Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của thanh niên trong
quá trình vận động cách mạng. Ngay từ năm 1925, Người đã nhận thấy rằng
muốn hồi sinh dân tộc trước hết phải hồi sinh thanh niên. Nếu thanh niên
không chịu giác ngộ, không còn sức sống, không được tổ chức lại, chỉ chìm
đắm trong “rượu cồn và thuốc phiện” thì dân tộc có nguy cơ diệt vong. Vì
vậy, Người kêu gọi: “Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất,
nếu đám thanh niên khá già của Người không sớm hồi sinh” [49, tr.133].
Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy sức sống dân tộc đang tiềm ẩn bên
làm. Chủ trương của Đảng là: “chăm lo giáo dục bồi dưỡng, đào tạo và
phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hóa, sức
khỏe, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng và sức sáng tạo, phát
huy vai trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [24, tr.126].
23