đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo phát triển công nghiệp địa phương từ 1997 2007 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------*-------------

NGUYỄN THÙY DUNG

ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2007

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LỊCH SỬ

HÀ NỘI – 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------*-------------

1


NGUYỄN THÙY DUNG

ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2007
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Hoàng Hồng

̉ h
Bắ c Ninh trong nhƣ̃ng năm 2001 - 2007 ............................................... 47
2.1.1. Chủ trương chung của Đảng..................................................... 47
2.1.2. Chủ trương phát triển công nghiệp địa phương của Đảng bộ
tỉnh Bắc Ninh trong những năm 2001 - 2007 ..................................... 54
2.2. Quá trình chỉ đạo phát triể n công nghiêp̣ điạ phƣơng của Đảng
bô ̣ tin
̉ h Bắ c Ninh nhƣ̃ng năm 2001 - 2007 ............................................ 61
2.2.1. Ban hành các chiń h sách khuyế n công ..................................... 61
2.2.2. Đẩy mạnh phát triển làng nghề – tiể u thủ công nghiê ̣p............ 63
2.2.3. Xúc tiến mạnh mẽ việc xây dựng các KCN tâ ̣p trung.............. 71
127


Tiều kế t chƣơng 2.................................................................................... 79
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM....................... 80
3.1. Mô ̣t số nhâ ̣n xét ................................................................................ 80
3.1.1. Ưu điể m .................................................................................... 80
3.1.2. Hạn chế ..................................................................................... 86
3.2. Mô ̣t số bài học kinh nghiệm và nhƣ̃ng vẫn đề đă ̣t ra ................... 92
3.2.1. Mô ̣t số bài ho ̣c kinh nghiê ̣m ..................................................... 92
3.2.2. Những vấ n đề đă ̣t ra.................................................................. 95
KẾT LUẬN .................................................................................................... 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 101

128


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh từ nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ
3


sang công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp là định hướng đúng đắn nhằm phấn
đấu đến năm 2015 Bắc Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp như Nghị
quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVI (2001-2005), lần thứ XVII
(2006-2010) đề ra. Như vậy, tỉnh Bắc Ninh phải có đường lối phát triển công
nghiệp và quan trọng là xây dựng chính sách phát triển công nghiệp địa
phương phù hợp.
Phát triển kinh tế công nghiệp địa phương chính là yếu tố sẽ tạo ra sự
thay đổi mạnh mẽ cho tỉnh. Do đó, ngay sau khi tái lập tỉnh, Đảng bộ Bắc
Ninh đã lãnh đạo phát triển công nghiệp địa phương, phấn đấu đến năm 2015
Bắc Ninh trở thành một tỉnh công nghiệp. Với đường lối đó, chặng đường từ
năm 1997 đến 2007, Bắc Ninh đã thu được nhiều thành tựu, làm chuyển biến
tích cực đời sống nhân dân trong tỉnh. Đồng thời, đường lối lãnh đạo này cũng
phù hợp với đường lối lãnh đạo của Đảng.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn ấy tôi chọn đề tài “Đảng
bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển công nghiệp địa phƣơng từ năm 1997
đến năm 2007” làm luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản
Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu
Hiện nay, nghiên cứu sự phát triển công nghiệp địa phương đang ngày
được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Thời gian qua đã có một số công
trình nghiên cứu về vấn đề này ở những khía cạnh khác nhau. Thực tế có rất
nhiều nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển công nghiệp địa phương.
Các nhà khoa học đề cập đến nội dung về công nghiệp nói chung như:
“Lý thuyết về lợi thế so sánh: Sự vận dụng trong chính sách công nghiệp và
thương mại của Nhật Bản” (Trần Quang Minh, Nhà xuất bản Khoa học xã hội,
Hà Nội, 2000); “Kinh tế học phát triển về công nghiệp hoá và cải cách nền

- Rút ra mô ̣t số kinh nghiê ̣m về lãnh đạo phát triển công nghiệp địa
phương của Đảng bô ̣ tỉnh Bắ c Ninh.
b. Nhiêm
̣ vu ̣
- Tập hợp và hệ thống các tư liệu có liên quan đến quá trình Đảng bộ
tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế công nghiệp điạ phương.
- Trình bày theo một hệ thống có tính lịch sử quá trình Đảng bộ tỉnh
Bắc Ninh lãnh đạo phát triển kinh tế công nghiệp.
5


- Phân tích, đánh giá quá trình lãnh đạo trên.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
a. Đối tƣợng nghiên cứu
Các chủ trương , biê ̣n pháp của Đảng bô ̣ tin̉ h Bắ c Ninh trong lañ h đa ̣o
phát triển công nghiệp địa phương

và các hoạt động chính của ngành công

nghiê ̣p điạ phương Bắ c Ninh từ năm 1997 đến năm 2007.
b. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu đường lố i chung của Đảng về pha
riể ń t tcông nghiê ̣p điạ phương
.
- Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong quá trình vận dụng
đường lố i phát triể n công nghiê ̣p điạ phương của Đảng vào thực tiễn điạ
phương từ năm 1997 đến năm 2007.
- Hoạt động của các ngành công nghiê ̣p trên điạ bàn điạ phương , do điạ
phương quản lí và các làng nghề – tiể u thủ công nghiê ̣p tỉnh Bắc Ninh từ năm
1997 đến năm 2007.

7. Bố cu ̣c của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo phát triển công nghiệp điạ
phương giai đoạn 1997 - 2000
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo đẩy mạnh phát triển công
nghiệp điạ phương trong những năm 2001 - 2007
Chương 3: Mô ̣t số nhâṇ xét và kinh nghiê ̣m

7


CHƢƠNG 1:
ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHIỆP ĐIA
̣ PHƢƠNG GIAI ĐOẠN 1997 – 2000
1.1. Khái quát điạ lý - hành c hính, nguồ n lƣ̣ c và tình hình phát
triể n công nghiêp̣ điạ phƣơng tỉnh Bắc Ninh trƣớc năm 1997
1.1.1. Điạ lý hành chính
Bắc Ninh xưa là tỉnh có từ lâu đời, bao gồm cả quận Long Biên, huyện
Đông Anh (Hà Nội), huyện Văn Giang (Hưng Yên) ngày nay. Bắ c Ninh và
Bắ c Giang trước đây là hai tỉnh đô ̣c lâ ̣p , ngày 27/10/1962 Quố c hô ̣i khó a II
quyế t đinh
̣ hơ ̣p nhấ t thành tin
̉ h Hà Bắ c . Ngày 06 tháng 11 năm 1996 tỉnh Bắc
Ninh được tái lập theo Nghị quyết của Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 10, với
diện tích 797,9 km2, dân số 922 210 người. Bắc Ninh lúc này có 6 đơn vị hành
chính, gồm thị xã Bắc Ninh và 5 huyện: Quế Võ, Yên Phong, Tiên Sơn,
Thuận Thành, Gia Lương, Thị xã Bắc Ninh trở thành tỉnh lỵ của Bắc Ninh.
Về điạ giới hành chin

Dân số TB
năm 2006
(ngƣời)

Mâ ̣t đô ̣ dân số
(ngƣời/km2)

109

16

1

9

26,3

87.115

3.307

2. Yên Phong

17

1

117,3

149.644


1

61,3

127.184

2.074

6. Thuâ ̣n Thành

17

1

117,9

145.842

1.237

7. Gia Bình

13

1

107,8

103.943

sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình rất thuận lợi cho vận chuyển hàng hoá
và du khách giao lưu với các tỉnh trong cả nước.
- Gần thủ đô Hà Nội được xem như là một thị trường rộng lớn hàng thứ
hai trong cả nước, có sức cuốn hút toàn diện về các mặt chính trị, kinh tế, xã
hội, giá trị lịch sử văn hoá... đồng thời là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao
công nghệ và tiếp thị thuận lợi đối với mọi miền đất nước. Hà Nội sẽ là thị
trường tiêu thụ trực tiếp các mặt hàng của Bắc Ninh về nông - lâm - thuỷ sản,
9


vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ... Bắc Ninh cũng là
địa bàn mở rộng của Hà Nội qua xây dựng các thành phố vệ tinh, là mạng lưới
gia công cho các xí nghiệp của thủ đô trong quá trình CNH, HĐH.
- Tài nguyên đất
Hiện nay, một trong những yếu tố làm hạn chế sự phát triển của công
nghiệp hiện đại chính là tài nguyên đất. Ở Hà Nội và một số tỉnh, thành khác,
tốc độ gia tăng dân số, tỉ lệ người nhập cư cao khiến nhu cầu về nhà ở cao, đất
chuyên dụng ngày một bị thu hẹp. Bắ c Ninh có diê ̣n tić h đấ t tự nhiên nhỏ nhấ t
so với các tin
̉ h trong cả nước. Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bắc Ninh là
82,271.2 km2; diện tích lớn nhất là đất nông nghiệp chiếm 65,85%, trong đó đất
lâm nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ chỉ với 0,81%; đất phi nông nghiệp chiếm 33,31%
trong đó đất ở chiếm 12,83%; diện tích đất chưa sử dụng chiếm 0,84% [26].
Tài nguyên đất cho công nghiệp còn không lớn, nhưng vẫn đủ điề u kiê ̣n
để xây dựng các KCN tập trung, các nhà máy phục vụ cho các ngành công
nghiệp, đặc biệt là các ngành công nghiệp có hàm lượng kĩ thuật cao. Đây
chính là một đặc trưng cơ bản của nền công nghiệp hiện đại.
- Tài nguyên nước:
Bắc Ninh có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, mật độ lưới sông khá
cao, trung bình 1,0 - 1,2 km/km², có 3 hệ thống sông lớn chảy qua gồm sông

nghề trở lên chiếm 22,9% lao động qua đào tạo từ công nhân kỹ thuật có bằng
trở lên chiếm 14,16%.
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, đặc điểm về dân số cũng gây ra
không ít khó khăn cho Đảng bộ tỉnh trong việc đề ra chính sách thích hợp về
nhân lực cho công nghiệp địa phương. Hiện nay, tỉ lệ lao động trong ngành
nông nghiệp còn khá cao. Thêm vào đó, tỉnh đang thiếu những cán bộ quản lý
doanh nghiệp giỏi và công nhân, kỹ thuật lành nghề. Để đáp ứng nhu cầu phát
triển nhanh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong giai đoạn tới đòi
hỏi lãnh đạo địa phương phải có phương án cụ thế để phải khẩn trương đào
tạo mới và đào tạo lại một đội ngũ lao động kỹ thuật trong tỉnh.
- Cơ sở hạ tầng
Hệ thống giao thông:
Bắc Ninh có hệ thống giao thông thuận tiện gồm 4 tuyến quốc lộ; 2
tuyến quốc lộ 1A, tuyến quốc lộ 18 và quốc lộ 38 với chiều dài 135 km.
11


Đường tỉnh lộ gồm 12 tuyến, chiều dài 255 km trong đó đã được dải nhựa
chiếm 88%, đường huyện và đường đô thị dài 295 km trong đó được dải
nhựa chiếm 53%, đường xã và đường thôn dài 3147 km trong đó được
ứng hoá 70%. Đường sông có 3 sông lớn là sông Cầu, sông Đuống, sông
Thái Bình và 3 cảng lớn trên sông Cầu. Đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn chạy
qua 20 km với 4 nhà ga.
Nhìn chung mạng lưới giao thông của tỉnh (đường bộ, đường sắt,
đường thủy) được phân bố tương đối đều và hợp lý, thuận tiện cho việc lưu
thông hàng hóa, hành khách nội, ngoại tỉnh.
Hê ̣ thố ng thông tin liên lạc
Hạ tầng thông tin liên lạc của tỉnh phát triển tương đối nhanh. Hệ thống
điện và bưu chính viễn thông tương đối hoàn chỉnh, 100% thôn xã có điện
lưới, đến năm 2007 đa ̣t 13,9 máy điện thoại /100 dân, dịch vụ Internet, hộp

quyền tỉnh. Đảng bộ Bắ c Ninh có tiền thân từ Đảng bộ tỉnh Hà Bắc ra đời từ rất
sớm, từng bước trưởng thành trong chiến đấu và xây dựng đất nước. Trải qua
mấy chục năm, Đảng bộ tỉnh đã tích lũy được những kinh nghiệm quý báu trong
lãnh đạo xây dựng và bảo vệ tỉnh. Từ năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới của
Trung ương Đảng, Tỉnh ủy, chính quyền và nhân dân tỉnh đã xác định phát triển
kinh tế là nhiệm vụ hàng đầu hiện nay. Trong đó, việc phát triển công nghiệp địa
phương luôn được coi là trọng tâm của chính sách kinh tế. Ủy ban nhân dân dưới
sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đã, đang và sẽ tiếp tục rà soát, điều chỉnh, bổ sung,
từng bước hoàn thiện hệ thống các chính sách, quy chế, đặc biệt là các chính
sách về kinh tế, tài chính, đất đai, tạo môi trường pháp luật về đầu tư thực sự hiệu
quả và thông thoáng cho các nhà đầu tư.
Tóm lại, với vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên tương đối đầy đủ, nguồn
nhân lực dồi dào, hệ thống cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng đang dần được hoàn
thiện… Bắ c Ninh có được những điều kiện thuận lợi để phát triển một nền
công nghiệp hiện đại. Nhiệm vụ của Đảng bộ tỉnh là làm thế nào để lãnh đạo
phát triển công nghiệp địa phương cho tương xứng với tiềm năng hiện có,
nhanh chóng hội nhập vào cơ chế thị trường, vươn lên ngang tầm với cả nước
và khu vực.
1.1.3. Tình hìnhcông nghiê ̣p điạ phƣơng tỉnhBắ c Ninh trƣớc năm1997
13


Ngày 27-10-1962, Quốc hội khoá II quyết định hợp nhất tỉnh Bắc Ninh
và Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc. Công nghiệp địa phương của các vùng thuộc
tỉnh Bắ c Ninh, từ đây, được sự lãnh đạo của Đảng bộ Hà Bắc.
Hà Bắc là m ột địa phương có công nghiệp phát triển tương đối sớm so
với các tỉnh phía Bắc. Cùng với sự ra đời các nhà máy, xí nghiệp do Trung
ương quản lí, các xí nghiệp công nghiệp địa phương lần lượt được xây dựng và
phát triển. Từ khi thành lập tỉnh đến những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ
XX, công nghiệp của Hà Bắc đã có 30 nhà máy, xí nghiệp do Trung Ương

xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp
lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ ... làm cho nước Việt
Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa có kinh tế công - nông nghiệp hiện
đại, văn hóa và khoa học, kỹ thuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, có đời
sống văn minh, hạnh phúc. Những tư tưởng cơ bản của Đại hội IV của Đảng
được coi là cơ sở để xác định phương hướng, nhiệm vụ của kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội đất nước 5 năm (1976-1980).
Quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng,
căn cứ vào thực tiễn địa phương, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã có những
chỉ thị, nghị quyết nhằm cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ
III trên các lĩnh vực công tác quan trọng. Tỉnh ủy chủ trương tiếp tục quán
triệt quan điểm coi việc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng
tâm, trong đó chú trọng phát triển công nghiệp địa phương.
Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp những năm
1976 -1980 gặp nhiều khó khăn. Việc cung cấp điện, nguyên, nhiên, vật liệu
chậm và thiếu, nguồn hàng nhập từ bên ngoài vào bị giảm sút, một số nhà
máy, xí nghiệp quốc doanh sản xuất cầm chừng, công nhân thiếu việc làm, thu
nhập thấp. Đến năm 1979, tình hình kinh tế - xã hội trong nước cũng như
trong tỉnh ngày càng khó khăn hơn do chiến tranh biên giới phía Tây Nam và
phía Bắc. Sản xuất trì trệ, nhiều đơn vị sản xuất không đạt kế hoạch, hàng hóa
khan hiếm, giá cả thị trường tăng vọt, lạm phát cao, thu chi mất cân đối. Đứng
trước khó khăn thách thức và yêu cầu của sản xuất, Tỉnh ủy chủ trương chỉ
đạo đẩy mạnh phát triển các hợp tác xã kinh doanh làm hàng thủ công xuất
khẩu; khôi phục các làng nghề, sản xuất các mặt hàng phục vụ trực tiếp sản
xuất, xuất khẩu và đời sống của nhân dân.
15


Thực hiện chủ trương của tỉnh, các cơ sở sản xuất đã khắc phục khó
khăn, vươn lên sản xuất nhiều mặt hàng thủ công xuất khẩu như: mây tre đan,


Tương Giang (huyện Tiên Sơn) năm 1977, tổng giá trị thu nhập mới đạt 1,9
triệu đến năm 1982 đạt 17,6 triệu; Hợp tác xã Tân Hồng (huyện Tiên Sơn) giá
trị thu nhập từ các nghề thủ công chiếm 43% tổng thu nhập của hợp tác xã;
Hợp tác xã Hoài Thượng (huyện Thuận Thành) năm 1981 giá trị sản xuất
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 2,5 triệu đồng, đến năm 1984 đạt 5,5
triệu đồng, chiếm 70% tổng giá trị thu nhập của toàn hợp tác xã [1, tr 270].
Đảng bộ và nhân dân Hà Bắ c đã đi cùng hướng đi chung của đất nước.
Công nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh được chú trọng đầu tư để tạo nguồn
hàng xuất khẩu. Hoạt động xuất khẩu được chú ý. Năm 1985 xuất khẩu được
3 triệu Rúp - đôla, so với năm 1983 tăng 15,8%. Hàng hóa xuất khẩu chủ yếu
là lợn hơi, lạc nhân, tỏi, cà rốt... Các huyện có doanh thu cao là Tiên Sơn, Gia
Lương, Thuận Thành. [1, tr 271].
Bên cạnh những thành tựu đạt được, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp cũng gặp không ít khó khăn, sản xuất có chiều hướng giảm sút,
nhất là công nghiệp quốc doanh. Sản phẩm công nghiệp phục vụ cho nông
nghiệp còn ít. Công nghiệp chế biến còn quá nhỏ, phần lớn nông sản, thực
phẩm tiêu dùng và xuất khẩu còn dưới dạng thô, hàng tiêu dùng chưa được
chú trọng. Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chưa vươn lên đáp ứng yêu
cầu cho sản xuất và tiêu dùng. Sản phẩm chất lượng thấp, giá thành cao, chưa
khuyến khích được người tiêu dùng.
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ VII được tiến hành từ
ngày 10 đến ngày 15-10-1986 tại hội trường tỉnh (thị xã Bắc Giang). Đại hội
đã kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội V của Đảng,
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VI, xác định mục tiêu,
phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm 1986-1990 là:
“Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân, nêu cao tinh thần
tự lực tự cường, chủ động, sáng tạo, khai thác tốt tiềm năng lao động đất đai,
ngành nghề để phát triển nông nghiệp toàn diện, coi nông nghiệp là mặt trận
hàng đầu. Đẩy mạnh sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành

truyền thống như sắt Đa Hội (huyện Tiên Sơn), giấy Phong Khê (huyện Yên
Phong) và một số cơ sở khác ở trong tình trạng quá khó khăn về nguyên nhiên
vật liệu và thị trường tiêu thụ. Nhìn chung công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

18


và các làng nghề truyền thống trong tỉnh đứng trước những khó khăn thách
thức lớn.
Thực hiện chủ trương của Đảng là xây dựng kinh tế Trung ương, đồng
thời phát triển kinh tế địa phương, kết hợp cân đối giữa công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp với nông nghiệp; chú trọng phát triển làng nghề truyền thống
nhằm giải quyết tốt nhu cầu cấp bách của xã hội là hàng tiêu dùng và hàng
xuất khẩu”, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa VI, tháng 8-1987 đã quyết nghị: chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế
quốc doanh sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đổi mới quản lý nhà
nước về kinh tế. Hội nghị nhấn mạnh mục đích của đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế là phải tạo ra động lực mạnh mẽ, giải phóng mọi năng lực sản xuất,
thúc đẩy tiến bộ khoa học - kỹ thuật, phát triển kinh tế hàng hóa theo hướng đi
lên chủ nghĩa xã hội với năng suất, chất lượng hiệu quả ngày càng cao nhằm
phục vụ ba chương trình kinh tế lớn của Đảng. Từng bước thực hiện “bốn
giảm”, thiết lập trật tự, kỷ cương trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội, tạo tiền
đề để tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Cùng với việc xây dựng các cơ sở sản xuất, tỉnh Hà Bắc đã tiến hành rà
soát tổ chức, sắp xếp lại sản xuất, điều chỉnh cơ cấu sản xuất của các xí nghiệp
theo hướng 40% sản lượng là tư liệu sản xuất, 60% sản lượng là hàng tiêu
dùng. Các công ty, xí nghiệp đã sắp xếp lại bộ máy quản lý, hạ tỷ lệ gián tiếp
từ 12% xuống 10%, từng bước giao quyền chủ động cho giám đốc các đơn vị,
xí nghiệp trong sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm.
Nhìn chung sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và nghề

chưa cần thiết, Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt phương án từng đơn vị giải
quyết chính sách cho số lao động dôi dư, củng cố một bước các đơn vị cơ sở.
Nhìn chung các cơ sở sản xuất kể cả quốc doanh và tập thể, tư nhân đều gặp
khó khăn khi chuyển sang cơ chế mới, do thiết bị công nghệ lạc hậu, thiếu
vốn, thiếu công nhân lành nghề nên sản phẩm làm ra chất lượng kém, giá
thành cao, không cạnh tranh nổi trên thị trường.
Bảng: Phần đóng góp của các hoạt động kinh tế trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh trong tỉnh Hà Bắc (giai đoạn 1991-1996) theo một số chỉ tiêu
Đơn vị:%
Chỉ tiêu

1991

1992

1993
20

1994

1995

1996


Tổng sản phẩm
theo giá năm 1989
Giá trị SXCN
Sản lượng lương
thực quy thóc


42,7

40,6

40,3

(Nguồn: Sở công nghiệp Bắc Ninh, năm 1997)
Cơ cấu kinh tế của phần lãnh thổ Bắc Ninh cũng có sự tiến bộ và
chuyển dịch nhanh hơn sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hà Bắc. Nếu so với năm
1991, tỉ trọng khu vực nông nghiệp tỉnh Hà Bắc giảm được 6,2% GDP và tỉ
trọng công nghiệp xây dựng tăng 3,9% thì ở phần lãnh thổ Bắc Ninh các con
số tương ứng là 7,1% và 5,4%. Do kinh tế trên địa bàn Bắc Ninh tăng hơn các
khu vực khác trong tỉnh Hà Bắc nên các mặt văn hóa xã hội và đời sống của
nhân dân có tiến bộ hơn. Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội trên địa bàn Bắc Ninh
được nhân dân quan tâm đầu tư.
Tổng GDP năm 1996 là 1.548,3 tỷ đồng (theo giá 1994); Cơ cấu kinh tế
GDP: công nghiệp – xây dựng là 24,1%, nông, lâm, thuỷ sản là 46% và dịch vu ̣ là
29,9%. Năm 1996, giá trị sản xuất công nghiệp theo giá cố định là 480,2 tỷ đồng,
toàn tỉnh có 8.138 cơ sở sản xuất công nghiệp - tiể u thủ công nghiê ̣p, trong đó 69
doanh nghiệp và hơ ̣p tác xã còn lại là hộ cá thể; Số lao động công nghiệp là
34.825 người. Các cơ sở sản xuất công nghiệp chủ yếu là một số doanh nghiệp
trung ương đóng trên địa bàn tập trung ở khu vực thị xã Bắc Ninh và các hộ sản
xuất kinh doanh cá thể trong các làng nghề. Là tỉnh có nhiều làng nghề thủ công
truyền thống, song sự phát triển của các làng nghề tự phát, chủ yếu là các hộ cá
thể hầu hết ở xen lẫn với khu dân cư, chưa có một khu, cụm công nghiệp nào
được quy hoạch và hình thành, các cơ sở sản xuất công nghiệp hầu hết ở xen lẫn
với khu dân cư trong thị xã, thị trấn, nông thôn.
Trên đây là những thuâ ̣n lơ ̣i căn bản cho


kinh tế – xã hội, Tỉnh ủy chưa có chủ trương , giải pháp đột phá nên chưa phát
huy hế t tiề m năng và lơ ̣i thế so sánh của tin̉ h . Công tác điề u hành của các cơ
quan chin
́ h quyề n còn thiế u kinh nghiê ̣m. Cải cách hành chính hiệu quả thấp.
Những ha ̣n chế trên do nhiề u nguyên nhân khách quan và chủ quan

.

Diê ̣n tić h đấ t nông nghiê ̣p bin
̀ h quân đầ u người thấ p , manh mún, phân tán gây
trở nga ̣i cho viê ̣c cơ giới hóa và áp du ̣ng c ác tiến bộ kỹ thuật để thâm canh ,
tăng năng suấ t ; ngành công nghiệp chưa có bề dày phát triển , quy mô nhỏ , tài
nguyên khoáng sản ít , các cơ sở công nghiệp chưa nhiều , nhấ t là công nghiê ̣p
chế biế n… Số lao đô ̣ng đươ ̣c qua đào ta ̣ o so với mă ̣t bằ ng chung của cả nước
tuy có cao hơn nhưng thực tế chưa đáp ứng đủ , nhấ t là đô ̣i ngũ cán bô ̣ quản lý ,
chuyên gia đầ u ngành , công nhân kỹ thuâ ̣t còn rấ t it́ . Mă ̣t khác , tỉnh bị chia
tách, thay đổ i điạ giới hành chính nhiều lần. Ngày 12/12/1996, Bô ̣ Chiń h tri ̣đã
ra quyêt đinh
̣ số 125/QĐ-TƯ thành lâ ̣p Đảng bô ̣ tin̉ h Bắ c Ninh và chỉ đinh
̣ Ban
chấ p hành lâm thời của Đảng bô ̣ tin̉ h.
Sau 10 năm (1986-1996) thực hiện đường lối đổi mới, quán triệt sâu sắc
các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các
chính sách của Chính phủ vào điều kiện thực tiễn địa phương, Đảng bộ và
nhân dân trong tỉnh đã đoàn kết khắc phục khó khăn, nắm bắt thời cơ phát huy
thuận lợi, phấn đấu vươn lên giành được những thắng lợi rất quan trọng. Kinh
tế phát triển với tốc độ khá cao, tăng trưởng kinh tế bình quân trong 5 năm
22



23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status