Đảng cộng sản việt nam lãnh đạo phát triển giáo dục mầm non từ năm 1986 đến năm 1996 - Pdf 52

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------

LÊ THỊ DUNG

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1996

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------

LÊ THỊ DUNG

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1996

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã Số: 60220315

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

cũng không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự giúp đỡ và
đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để tác giả nâng cao khả năng
nghiên cứu của mình trong thời gian tới.
Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 2017
Học viên

Lê Thị Dung

ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii
MỤC LỤC ....................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT............................................................. v
DANH MỤC BẢNG ....................................................................................... vi
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chƣơng 1. CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG Đ I VỚI
GIÁO DỤC MẦM NON TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1990 ......................... 9
1.1. Những căn cứ xác định chủ trƣơng và chủ trƣơng của Đảng ............. 9
1.1.1. Những căn cứ xác định chủ trương ......................................................... 9
1.1.2. Chủ trương của Đảng ........................................................................... 16
1 2 Chỉ đ o thực hiện ................................................................................... 19
1.2.1. Xây dựng bộ máy và đội ngũ làm giáo dục mầm non .......................... 19
1.2.2. T chức dạy và học ............................................................................... 26
1.2.3. Xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị ............................................. 31
Chƣơng 2 SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG Đ I VỚI GIÁO DỤC MẦM
NON TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 1996......................................................... 35
2.1. Hoàn cảnh lịch sử và chủ trƣơng của Đảng......................................... 35


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Cụm từ đầy đủ

Cụm từ viết tắt

Cơ sở vật chất

:

CSVC

Đảng Cộng sản Việt Nam

:

Đảng CSVN

Chủ nghĩa xã hội

:

CNXH

Giáo dục mầm non

:

GDMN


Bảng 1.3. Tình hình cơ sở vật chất ngành học mẫu giáo (1987 – 1989) ........ 33
Bảng 2.1. Số lượng trẻ đi học mẫu giáo (1990 – 1996) .................................. 54
Bảng 2.2. Bảng các nguồn đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục mầm non
(1991– 1993) ................................................................................................... 56

vi


MỞ ĐẦU
1. L do chọn đ tài
Theo quan điểm của Mác, con người không chỉ là lực lượng làm chủ tự
nhiên, là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất mà còn là yếu tố hàng đầu,
đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất của xã hội. Khi nguồn lực
con người được coi là yếu tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia thì
phát triển giáo dục chính là phương tiện chủ yếu để quyết định chất lượng con
người, là nền tảng của chiến lược con người. Vì vậy, giáo dục luôn giữ vị trí,
vai trò đặc biệt đối với sự tồn vong và phát triển của các quốc gia.
Từ thực tiễn với nền kinh tế thị trường hiện nay, các nước tiên tiến trên
thế giới đang trong quá trình thực hiện bước chuyển tiếp trình độ phát triển từ
kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức. Những thành tựu của cách mạng
khoa học và công nghệ hiện đại đã biến tri thức thành tài nguyên lớn nhất,
quan trọng nhất, không có tài nguyên nào có thể so sánh được. Xuất phát từ
điều đấy, các quốc gia trên thế giới đều nhận thức được rằng giáo dục không
chỉ là phúc lợi xã hội, mà thực sự là đòn bẩy quan trọng để phát triển đất
nước. Và chỉ có một chiến lược phát triển con người đúng đắn mới giúp các
nước ngày càng vững mạnh. Vì vậy, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng và trọng
dụng nhân tài là vấn đề có tầm chiến lược, là yếu tố quyết định tương lai của
đất nước. Giáo dục, đào tạo giữ vai trò cốt tử đối với mỗi quốc gia.
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của giáo dục, trong suốt tiến trình lịch
sử, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đặc biệt đến việc phát triển

trong thời k đó chiếm tớ 90

tiến trình giáo dục trẻ. Về sau việc giáo dục

đào tạo con người vẫn tiếp tục nhưng lúc đó là lúc bắt đầu nếm quả, còn
những nụ hoa thì được vun trồng trong 5 năm đầu tiên.
Do vậy, GDMN có một vị trí ngày càng quan trọng trong toàn bộ sự
nghiệp giáo dục- đạo tạo con người. Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng
luôn quan tâm đến việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em để đào tạo và bồi

2


dưỡng thế hệ trẻ trở thành những người chủ tương lai của đất nước, đưa Việt
Nam sánh vai với các cường quốc năm châu. Điều này hoàn toàn phù hợp với
chủ trương đẩy mạnh phát triển giáo dục của UNESCO bao gồm 21 điểm, ở
điểm 5 đã nhấn mạnh: Giáo dục trẻ em trước tu i đến trường phải là mục tiêu
lớn nhất trong chiến lược giáo dục.
Vì vậy, việc t ng kết thực tiễn quá trình phát triển của GDMN sau hơn
10 năm đ i mới dưới sự lãnh đạo của Đảng; chỉ rõ những thành tựu, hạn chế,
nguyên nhân và một số kinh nghiệm phục vụ sự nghiệp đ i mới giáo dục
mầm non đã và đang là công việc hết sức cần thiết. Trên ý nghĩa đó, tôi chọn
đề tài “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đ o phát triển giáo dục mầm non
từ năm 1986 đến năm 1996” làm luận văn Thạc s , chuyên ngành Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu luận văn còn góp
phần vào việc phục vụ giảng dạy và nghiên cứu các vấn đề có liên quan.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đ
GD&ĐT có vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước. Nghiên
cứu giáo dục đào tạo nói chung và GDMN nói riêng là đề tài được các nhà
khoa học quan tâm nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau. Trong đó có một

những tri thức, phương pháp, giúp giáo viên, phụ huynh hiểu được sự phát
triển trí tuệ của trẻ; đồng thời nắm được các phương pháp giáo dục trí tuệ cụ
thể như biết cách thiết lập các câu hỏi, các bài tập/ tình huống/ nhiệm vụ... kĩ
năng t chức trò chơi để trẻ tích cực khám phá, tương tác, trải nghiệm nhằm
kích hoạt sự phát triển trí tuệ ngay từ tu i ấu thơ, nuôi dưỡng phát triển thành
tài năng khi trẻ trưởng thành.
Bộ sách “Giáo dục Việt Nam 1945 – 2010” gồm 2 tập, do Trung tâm
thông tin giáo dục và khuyến học biên soạn, được Nxb. Giáo dục phát hành
năm 2010. Bộ sách đã khái quát thành tựu của nền giáo dục Việt Nam, chiến
lược phát triển giáo dục và toàn cảnh về giáo dục cả nước trong 65 năm. Đây

4


là công trình được biên soạn rất công phu, chính sách từ nguồn tin cụ thể của
từng đơn vị giáo dục trên các tỉnh, thành trong cả nước.
Những công trình chuyên khảo trên đã khái quát được lịch sử của nền
giáo dục Việt Nam. Từ đó, các tác giả đưa ra những định hướng phát triển nền
giáo dục đất nước. Tuy nhiên, những công trình này chưa đề cập cụ thể đến
tình hình, thực trạng riêng của GDMN qua các giai đoạn cụ thể.
2.2. Nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng và Đảng bộ địa phương đối với
giáo dục và giáo dục mầm non
Dưới góc độ khoa học lịch sử, những năm gần đây đã có một số khóa
luận và luận văn tốt nghiệp, luận án của sinh viên, học viên chuyên ngành
Lịch sử Đảng CSVN nghiên cứu về sự lãnh đạo của một số Đảng bộ địa
phương trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục - đào tạo. Một số
luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng CSVN viết về lĩnh vực này như:
Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục – đào tạo (1991 2000) của tác giả Lương Thị Hòe, luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Đại học Quốc gia
Hà Nội, 1998; Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp phát triển giáo
dục phổ thông (1975 – 2000) của tác giả Trương Thị Hoa, Luận văn Thạc sĩ

Các công trình nghiên cứu trên là cơ sở quan trọng để tác giả kế thừa,
tiếp cận các sự kiện lịch sử và cung cấp những gợi ý cần thiết để phân tích và
so sánh trong quá trình thực hiện luận văn.
3. Mục đ ch và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.

ục đ ch nghiên cứu
Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong

lãnh đạo phát triển GDMN từ năm 1986 đến năm 1996; đúc rút một số kinh
nghiệm lịch sử.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích các căn cứ, dựa trên đó, Đảng CSVN xác định chủ trương về giáo
dục nói chung, về GDMN nói riêng.

6


- Trình bày và phân tích chủ trương của Đảng về GDMN từ năm 1986
đến 1996.
- Phân tích quá trình chỉ đạo và kết quả thực hiện phát triển GDMN từ
năm 1986 đến 1996.
- Nêu lên nhận xét về thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế và đúc
rút một số kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham khảo cho hiện tại.
4 Đối tƣ ng và ph m vi nghiên cứu
Đối tư ng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu chủ trương của Đảng và quá trình t chức thực
hiện phát triển GDMN từ năm 1986 đến năm 1996.
hạm vi nghiên cứu
- Về nội dung khoa học: Nghiên cứu những chủ trương và sự chỉ đạo

cung cấp.

hương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn đã kết hợp

nhiều phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp lịch sử, lôgic để làm sáng tỏ đường lối của Đảng Cộng
sản Việt Nam về GDMN.
- Phương pháp phân tích, t ng hợp, thống kê, so sánh để làm rõ những
thành tựu, hạn chế, lí giải nguyên nhân và một số bài học kinh nghiệm.
6. Đ ng g p của luận văn
- Luận văn góp phần hệ thống hóa quan điểm, chủ trương của Đảng và
chỉ đạo phát triển giáo GDMN giai đoạn 1986 – 1996.
- Đúc rút một số kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham khảo cho hiện tại.
- Ở mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm
phong phú tài liệu nghiên cứu về giáo dục hoặc phục vụ công tác giảng dạy
cho một số môn học có liên quan.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn
được chia thành 3 chương:
Chương 1. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với giáo dục mầm
non từ năm 1986 đến năm 1990
Chương 2. Sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển giáo dục mầm non
từ năm 1991 đến năm 1996
Chương 3. Nhận xét và kinh nghiệm

8


Chƣơng 1

nền kinh tế, xây dựng một bước nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, đặt nền
móng cho sự nghiệp công nghiệp hóa nước nhà. Kế hoạch 5 năm đầu tiên sau
khi thống nhất đất nước nhằm hai mục tiêu cơ bản và cấp bách: xây dựng
bước đầu cơ sở vật chất k thuật của CNXH, hình thành bước đầu cơ cấu kinh
tế mới trong cả nước và cải thiện một bước đời sống nhân dân. Nhằm thực
hiện nhiệm vụ trên, kế hoạch 5 năm 1976 – 1980, Việt Nam đã tiến hành củng
cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, cải tạo xã hội chủ nghĩa ở
miền Nam, thống nhất nền kinh tế theo mô hình chung của thời k quá độ lên
CNXH trong phạm vi cả nước. Đại hội V (1982) tiếp tục khẳng định đường
lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng kinh tế xã
hội chủ nghĩa trong thời kì quá độ do Đại hội IV đề ra. Tuy nhiên, Đại hội V
bắt đầu có sự điều chỉnh, b sung phát triển, cụ thể cho từng chặng đường,
từng giai đoạn phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Đại hội xác định thời kì
quá độ lên CNXH ở Việt Nam phải trải qua nhiều chặng đường trong đó
chặng đường trước mắt gồm 5 năm (1981 – 1985) và những năm còn lại của
thập niên 80 nhằm “ n định tình hình kinh tế và xã hội, đáp ứng yêu cầu cấp
bách và thiết yếu nhất của đời sống nhân dân, giảm nh sự mất cân đối trọng
của nền kinh tế, khắc phục một bước đáng kể tình trạng không bình thường về
phân phối, lưu thông, tăng thêm tiền đề và điều kiện để tiến lên mạnh mẽ và
vững chắc hơn trong những năm sau” 46, tr.300].
Thực hiện đường lối trên, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu
quan trọng như thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, thiết lập hệ thống
chính trị mới cả nước. Nhân dân Việt Nam đã anh dũng chiến đấu chống lại
hai cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, bảo vệ vững chắc
T quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế với nhân dân Campuchia. Trong lĩnh
vực kinh tế cũng đạt được một số kết quả như: nông nghiệp đã góp phần giải

10




văn hóa của đất nước. Thực hiện Nghị quyết Đại hội IV của Đảng, ngày
11/1/1979, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 14/NQ-TW về
cải cách giáo dục. Nghị quyết đề ra cho ngành giáo dục trong những năm tới
phấn đấu đạt được mục tiêu: Làm tốt việc chăm sóc và giáo dục trẻ ngay từ
tu i thơ ấu cho đến lúc trưởng thành, nhằm tạo cơ sở ban đầu rất quan trọng
của con người Việt Nam mới, người lao động làm chủ tập thể. Đặc biệt đối
với Giáo dục mầm non, Nghị quyết đã ghi rõ: “Việc chăm sóc giáo dục các
em từ tu i sơ sinh cho đến 6 tu i có tác dụng cực kì quan trọng trong sự hình
thành con người mới xã hội chủ nghĩa. Cần có kế hoạch dài hạn và biện pháp
tích cực động viên và t chức toàn xã hội gánh vác sự nghiệp chăm sóc và
giáo dục thế hệ mầm non của dân tộc, phát triển mạng lưới nhà trẻ và lớp mẫu
giáo từ thành thị đến nông thôn, xây dựng mạng lưới đó thành một bộ phận
khăng khít của hệ thống giáo dục quốc dân

” 64, tr.168]. Sau Nghị quyết

của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục, ngày 14/11/1979, Chủ tịch Ủy ban
Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trường
Chinh đã kí Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Pháp lệnh là
cơ sở pháp lý đầu tiên của Việt Nam về việc đảm bảo thực hiện các quyền cơ
bản của trẻ em. Việc quản lí GDMN trong giai đoạn này do hai cơ quan Ủy
ban Bảo vệ bà m và trẻ trẻ và Bộ giáo dục phụ trách, đến năm 1987 mới
thống nhất về Bộ Giáo dục quản lí.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (3/1982) trên cở sở phân tích toàn
diện những thành tựu cũng như hạn chế trong công tác giáo dục trong suốt
thời gian thực hiện Nghị quyết Đại hội IV, đã xác định nhiệm vụ chiến lược
và chủ trương lớn trong chặng đường 5 năm tiếp theo (1981-1985). Đại hội
xác định cần cải cách giáo dục và phát triển sự nghiệp giáo dục một cách tích
cực, vững chắc theo bước đi phù hợp với yêu cầu thực tiễn đất nước, ra sức

lượng trẻ đến lớp không thay đ i (có 1.587.338 trẻ). Ở miền Bắc, các tỉnh ở
đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh nơi phát triển số lượng trường lớp
mẫu giáo cao, đã có tới 800 ngàn trẻ đến lớp, chiếm trên 50

t ng số trẻ đã đi

học mẫu giáo của cả nước. Các tỉnh có GDMN phát triển là Hải Hưng (69
trẻ trong độ tu i đến lớp), Thái Bình (65 ), các tỉnh khác đều đạt tỷ lệ từ
45

trở lên trong đó có các xã đạt tới 90 , 95

số trẻ trong độ tu i tới lớp

mẫu giáo 8,tr.9]. Thế nhưng, nếu nhìn vào tốc độ xây dựng bậc học này ở địa
bàn miền Nam sẽ thấy một bước tiến khá xa. Trước ngày giải phóng, bậc học
mẫu giáo chưa thực sự hình thành, lớp mẫu giáo chủ yếu tập trung ở khu vực
Sài Gòn cũ. Năm 1975, số trẻ đến lớp mẫu giáo ở miền Nam là 36 ngàn. Sau
10 năm, cả miền Nam đã có 2.030 trường với 19.791 lớp và 612.537 trẻ trong
độ tu i đi học. Như vậy, số lượng trẻ đến lớp đã tăng 17 lần so với năm 1975.
Riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, từ trên 30 ngàn trẻ đến lớp sau ngày giải
phóng đã tăng lên 114.791 trẻ trong năm học 1983 – 1984, đạt tỷ lệ 47

số

trẻ trong độ tu i. Ở Tây Nguyên và ở miền núi miền Nam Việt Nam trước đây
chưa có mẫu giáo, nay đã phát triển khá cao: Lâm Đồng 48 , Đắc Lắc 45%,
Gia Lai – Kon Tum 33%...[8, tr.9].

13

dung, phương pháp và cơ sở vật chất phù hợp với tâm sinh lý lứa tu i phát
triển của trẻ. Dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền, các ngành,

14


các đoàn thể, các hợp tác xã, công, nông, lâm trường, xí nghiệp, cơ quan

đã

dựa vào phương châm “ Nhà nước và nhân dân cùng làm”, “ Trung ương và
địa phương cùng lo”, đã có nhiều biện pháp tích cực , sáng tạo để duy trì và
nâng cao chất lượng bữa ăn, mở rộng và t chức tốt hơn việc chăm sóc, bảo
vệ sức khỏe và dạy trẻ. Đặc biệt với các phong trào do ngành phát động như
“Bốn nguồn thu”, “Ba mục tiêu”, “Khâu giày giữ ấm đôi chân”, làm đồ dùng,
đồ chơi tự tạo đã được nhân nhân và các cô nuôi, dạy trẻ ở nhiều địa
phương hưởng ứng tích cực. Đến năm 1985, có 56

số nhà trẻ được t chức

cho các cháu ăn tại nhà trẻ, trong đó ăn 3 – 4 chế độ chiếm 20

[64, tr.173].

Chất lượng bữa ăn luôn được đặc biệt coi trọng. Ngoài ra, nhà trẻ ở một số địa
phương được cấp khẩu phần “PAM” theo dự án 2651 của Nhà nước. Số nhà
trẻ được cấp thuộc các thành phố và các tỉnh: Hà Nội, Hà Nam Ninh, Thanh
Hóa, Nghệ Tĩnh, Hải Phòng, Bình Trị Thiên, Quảng Nam, thành phố Hồ Chí
Minh. Hàng năm, nhà trẻ đã phối hợp với các Sở Y tế địa phương t chức
tiêm chủng, phòng dịch, phòng bệnh cho trẻ.

giáo đã có những bước phát triển tốt trong 10 năm qua, song sự phát triển của
các trường bán trú có phần giảm sút. Các chỉ số về chiều cao, trọng lượng đều
kém trước. Bữa ăn của trẻ không đảm bảo chất dinh dưỡng. Tình trạng thiếu
trang thiết bị cho trường lớp mẫu giáo còn rất ph biến. Phần lớn các giáo
viên mẫu giáo cần được bồi dưỡng tốt hơn nữa mới đáp ứng được yêu cầu.
Đội ngũ cán bộ quản lý từ trung ương đến các cơ sở và đội ngũ nghiên cứu
mẫu giáo còn mỏng, tình trạng thiếu chuyên gia, thiếu cán bộ chủ chốt rất rõ.
Đặc điểm chung của các cô mẫu giáo là yêu nghề, yêu trẻ nhưng đời sống bao
cấp quá khó khăn và không n định nên không ít người đã bỏ nghề. Điều đáng
lưu ý nữa là về phương diện khoa học giáo dục, ngành học này vẫn chưa được
xây dựng trên cơ sở lý luận cũng như cơ sở thực nghiệm đáng tin cậy. Việc
xây dựng phẩm chất nhân cách ban đầu cho lứa tu i mẫu giáo chưa được quan
tâm đúng mức. GDMN rơi vào tình thế bị động, chống đỡ, bấp bênh.
Những hạn chế này đã đặt ra yêu cầu bách của GDMN đó là cần có
những cách giải quyết kịp thời đồng thời hoạch định những phương hướng cụ
thể để phát triển GDMN trong thời k mới.
1.1.2.

hủ trương của Đảng
Nhận thức thực tiễn khó khăn của đất nước sau 10 năm thống nhất

(1975 – 1985), để làm chuyển biến tình hình, cải thiện tình trạng phát triển
giáo dục còn nhiều hạn chế, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của
Đảng xác định mục tiêu của giáo dục: “giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và
phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ
lao động có k thuật, đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công
lao động của xã hội” 29, tr.780]. Đại hội cũng đã hoạch định những phương

16





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status