Đảng bộ tỉnh hà tĩnh lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông và đào tạo nghề từ 1991 2012 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

PHẠM THỊ THÙY VÂN

ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TĨNH LÃNH ĐẠO PHÁT
TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG VÀ ĐÀO
TẠO NGHỀ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2012

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Hà Nội - 2013

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

PHẠM THỊ THÙY VÂN

ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TĨNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG VÀ ĐÀO TẠO NGHỀ TỪ
NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2012

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 602256


1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh về phát triển giáo dục phổ thông và
đào tạo nghề .................................................................................................................... 17
1.2.2. Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh .......................................... 30
Tiểu kết ............................................................................................................................ 38
Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TĨNH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG VÀ ĐÀO TẠO NGHỀ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2012 ......... 41

2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh về lãnh đạo đẩy mạnh phát triển
giáo dục phổ thông và đào tạo nghề từ năm 2001 đến năm 2012 ........................ 41
2.1.1.Chủ trương của Đảng bộ Hà Tĩnh về giáo dục phổ thông ................................ 48
2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh về đào tạo nghề .................................. 53
2.2 Quá trình chỉ đạo đẩy mạnh phát triển giáo dục phổ thông và đào tạo
nghề của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh ( 2001-2012).......................................................... 57

112


2.2.1 Đối với giáo dục phổ thông .................................................................................. 55
2.2.2 Đối với đào tạo nghề ............................................................................................. 64
Tiểu kết ............................................................................................................................ 66
Chương 3: NHẬN XÉT CHUNG VÀ CÁC KINH NGHIỆM CHỦ YẾU ................. 68
3.1 Nhận xét chung........................................................................................................ 68
3.1.1. Về những thành tựu cơ bản.................................................................................. 68
3.1.2. Về các hạn chế chủ yếu ........................................................................................ 81
3.2. Một số kinh nghiệm quan trọng ......................................................................... 84
3.2.1 Các kinh nghiệm trong xác định chủ trương ............................................ 84
3.2.2 Các kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện ........................................................... 86
Tiểu kết ............................................................................................................................ 88
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................... 94

HĐBT

Hội đồng Bộ trưởng

HĐND

Hội đồng nhân dân

KTTH-HNDN

Kỹ thuật tổng hợp – Hướng
nghiệp dạy nghề

NQ/TW

Nghị quyết Trung ương

Nxb

Nhà xuất bản

PGS

Phó Giáo sư



Quyết định

THCS


111


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước, giáo dục và đào tạo luôn
là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Điều
đó được thể hiện rõ nét trong các văn kiện cũng như trong thực tiễn cách
mạng của Đảng và Nhà nước từ trước đến nay. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh,
“Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” mà “dốt thì dại, dại thì hèn”. Vì vậy
ngay từ buổi đầu mới giành được chính quyền, Người kêu gọi: “Một trong
những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân
trí”[38,tr.36]. Học tập tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với ý thức: Bồi
dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết,
sự nghiệp giáo dục - đào tạo của chúng ta ngày càng đi lên và góp phần quan
trọng trong việc thống nhất đất nước, mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc cho nhân dân.
Cùng với vấn đề giáo dục về trí tuệ, thẩm mỹ trong hệ thống giáo dục
phổ thông thì đào tạo nghề cũng là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các
cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động, đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Bước vào thời kỳ tiến hành công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa với
mục tiêu xây dựng nền văn hoá mới, xã hội mới thì vấn đề con người và chiến
lược con người được Đảng quan tâm sâu sắc. Do đó, trong đường lối phát
triển kinh tế - xã hội của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, Đảng đã đưa giáo dục đào tạo thành “quốc sách hàng đầu” và “gắn giáo
dục đào tạo với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội” và khẳng định “Dù khó
khăn đến đâu cũng quyết không để giáo dục đào tạo rơi vào kém phát triển, tất
cả các ngành, các cấp, mỗi gia đình và từng cá nhân cần nhận thức rõ đầu tư

chung và vấn đề phát triển giáo dục phổ thông nói riêng, điển hình là một số
tác phẩm như:
- Tổ chức Văn hóa - Khoa học - Giáo dục của Liên Hợp Quốc
(UNESCO), chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (undp) với dự án:
4


“Nghiên cứu tổng thể giáo dục - đào tạo, phân tích nguồn nhân lực
VIE89/022” và dự án: “Báo cáo đánh giá tình hình giáo dục và đào tạo của
Việt Nam hiện nay”, được tiến hành trong 2 năm (1991-1992).
- Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, giới nghiên cứu, các
chuyên gia đầu ngành về GD - ĐT đã đã tìm hiểu, nghiên cứu trên nhiều góc
độ khác nhau như: Tác phẩm “Vấn đề giáo dục” của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
Nxb Giáo dục, Hà Nội (1990); “Sự nghiệp giáo dục trong chế độ xã hội chủ
nghĩa” của Phạm Văn Đồng, Nxb Sự thật, Hà Nội (1978); “Phát triển mạnh
mẽ giáo dục và đào tạo phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước” của tổng bí thư Đỗ Mười, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
(1991)...Các tác giả là những người giữ cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng
và Nhà nước; hệ thống những quan điểm, tư tưởng của Đảng về GD - ĐT.
Nhóm 2 là những văn kiện, chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam
nói chung và của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh nói riêng về vấn đề phát triển giáo
dục – đào tạo cũng như phát triển giáo dục phổ thông..
Đảng Cộng sản Việt Nam với các Nghị quyết chuyên đề bàn về thực trạng và
phương hướng đổi mới GD - ĐT như: NQTw 4 (khóa VII), NQTw 2 (khóa
VIII), NQTW 6 (khóa IX). Những tài liệu này là một hệ thống những quan
điểm, tư tưởng khoa học, bao gồm cả khái niệm, mục đích, nội dung, cách
dạy, cách học, cách quản lý, cách lãnh đạo ngành giáo dục. Đây là cơ sở lý
luận cho đường lối chính sách giáo dục đã và đang tiến hành ở nước ta, cho
nền khoa học giáo dục Việt Nam, cho chiến lược xây dựng con người mới của
đất nước Việt Nam XHCN.

Tĩnh bắt đầu tách ra từ tỉnh Nghệ Tĩnh và đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
- Cơ sở lý luận: Những quan điểm của chủ nghĩa Mac – Lenin, tư tưởng
Hồ Chí minh về phát triển giáo dục đào tạo nói chung và phát triển giáo dục
phổ thông đào tạo nghề nói riêng

6


- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp logic và phương pháp lịch sử,
phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp..
- Nguồn tư liệu: Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ lịch sử Đảng, tác giả
sử dụng nguồn tư liệu chủ yếu sau:
- Các Văn kiện, Nghị định, Chỉ thị, Quyết định của Đảng và Nhà nước;
của Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Hà Tĩnh về GDPT và đào tạo nghề.
- Một số bài phát biểu, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà
nước, Bộ GD - ĐT; Tỉnh ủy, Sở GD - ĐT tỉnh Hà Tĩnh.
- Các văn bản, báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Các báo cáo của Sở GD - ĐT tỉnh Hà Tĩnh, Phòng Giáo dục các
huyện, thị xã trong tỉnh.
- Các công trình, bài viết của các chuyên gia nghiên cứu, các luận văn,
luận án về lĩnh vực GDPT và đào tạo nghề đã được công bố.
- Các tài liệu, sách báo nước ngoài của các tổ chức, học giả bàn về GD
- ĐT ở Châu á, Việt Nam trong những năm gần đây.
- Các bài báo, Tạp chí số ra hàng ngày, hàng tháng có liên quan đền
giáo dục, đào tạo được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng…
6. Đóng góp của luận văn
- Trình bày một cách tương đối toàn diện, cụ thể các chủ trương, biện
pháp của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh về phát triển giáo dục phổ thông và đào tạo

1.1.1. Vài nét về tỉnh Hà Tĩnh
- Về vị trí địa lý
Hà Tĩnh là vùng thuộc Duyên hải Bắc trung bộ, có toạ độ địa lý từ
17053'50'' đến 18045'40'' vĩ độ Bắc và 105005'50'' đến 106o30'20'' kinh độ
Đông. Phía Bắc là tỉnh Nghệ An vốn từ xưa đã từng chung trong “xứ Nghệ”;
phía Nam, dãy Hoành Sơn từ Trường Sơn đổ ra biển làm đường phân giới với
tỉnh Quảng Bình, phía Đông là biển Đông trải rộng mênh mông, phía Tây
giáp với tỉnh Pôlykhămxay của nước bạn Lào.
- Về địa giới hành chính
Trong lịch sử Hà Tĩnh đã qua nhiều lần biến đổi. Hà Tĩnh được thành
lập vào năm 1831 thuộc niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 đời nhà Nguyễn, gồm 2
phủ là Đức Thọ và Hà Hoa. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, tên Hà Tĩnh
xuất hiện như một đơn vị hành chính cấp tỉnh trực thuộc triều đình trung
ương. Hơn 20 năm sau (1852) Tự Đức lại bỏ tỉnh Hà Tĩnh nhập vào Nghệ An
và lấy phủ Hà Hoa nhập thành một đạo gọi là đạo Hà Tĩnh gồm các huyện Kỳ
Anh, Cẩm Xuyên và Thạch Hà ngày nay. Đến năm 1875 do phong trào đấu
tranh của nhân dân Nghệ Tĩnh chống triều Nguyễn phản động phát triển một
cách mạnh mẽ, Tự Đức bỏ đạo Hà Tĩnh, lập tỉnh Hà Tĩnh gồm các phủ huyện
như trước. Từ đó, Hà Tĩnh có một số thay đổi về hành chính, như phân lại địa
giới hành chính giữa các huyện, cắt hoặc nhập một số khu vực để điều chỉnh
địa giới với tỉnh Nghệ An, nhưng về cơ bản vẫn giữ nguyên cơ cấu hành
chính đó cho đến tháng Tám năm 1945. Trong những năm 1976 - 1991, Nghệ

9


An và Hà Tĩnh là một tỉnh và được gọi là tỉnh Nghệ Tĩnh. Năm 1991, tỉnh
Nghệ Tĩnh lại tách ra thành Nghệ An và Hà Tĩnh như ngày nay.
Tổ chức hành chính của Hà Tĩnh hiện nay gồm có thị xã Hà Tĩnh ( từ
năm 2006 là thành phố Hà Tĩnh), thị xã Hồng Lĩnh và 10 huyện: Nghi Xuân,

thiếu việc làm cũng như thiếu lao động qua đào tạo cơ bản.
- Về đặc điểm địa hình
Địa hình Hà Tĩnh thoai thoải theo chiều dốc từ tây sang đông. Dãy
Trường Sơn sừng sững phía tây làm chỗ dựa, đồng thời cũng là đường phân
giới tự nhiên giữa Hà Tĩnh với các tỉnh Khăm Muộn và Pôlykhămxay của
nước Lào. Địa hình đồi núi chiếm gần 80% diện tích tự nhiên, đồng bằng có
diện tích nhỏ, bị chia cắt bởi các dãy núi, sông suối.
- Về tài nguyên khoáng sản
Hà Tĩnh là một trong những tỉnh có bờ biển dài nhất Việt Nam với 137
km, diện tích mặt nước 18.499 km2 phù hợp để sản xuất muối, đánh bắt thủy
hải sản, có mở sắt lớn nhất cả nước, chiếm 45% trữ lượng quặng sắt quốc gia.
Ngoài ra còn có các loại khoáng sản khác như titan, mangan, vàng, đá, cát…
Đó là những điều kiện thuận lợi để Hà Tĩnh phát triển đa ngành, đa lĩnh
vực…
Trong những năm qua, mặc dù chịu ảnh hưởng của lạm phát và suy
giảm kinh tế, nhưng nhờ sự quan tâm của các cấp, giúp đỡ của Trung ương và
bằng sự chỉ đạo điều hành quyết liệt của các cấp, các ngành, nỗ lực của các
doanh nghiệp và nhân dân, các mục tiêu kế hoạch hàng năm của tỉnh đều đạt
kết quả khá. Năm 2011, chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (CPI) vươn lên đứng thứ 7,
chỉ số sự hài lòng của nhân dân (PAPI) đứng thứ 4, thu hút đầu tư đứng thứ 6
trong toàn quốc, thu ngân sách vượt 125% kế hoạch Trung ương giao.
Năm 2012, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt trên 14%, trong đó nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp 3,8%; công nghiệp – xây dựng 20,4%,
thương mại – dịch vụ 10,8%. Cơ cấu kinh tế: công nghiệp – xây dựng
34,66%; nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 33,74%; thương mại – dịch vụ chiếm
31,1%. Bình quân thu nhập đầu người đạt 19,6 triệu đồng. Tổng thu ngân
sách đạt 4.100 tỷ đồng. Tạo việc làm cho 28.000 lao động. Phong trào xây
11





Sau cách mạng tháng Tám, hệ thống giáo dục phổ thông được sửa đổi
thành hệ 11 năm (4 + 4 +3) với bậc tiểu học 4 năm và bậc trung học 7 năm,
trong đó trung học bậc cao (trung học chuyên khoa) (3 năm) có 3 ban là ban
Toán Lí Hóa, ban Lí Hóa Sinh và ban Văn Sử Địa.
Với cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất này, hệ thống giáo dục phổ thông
được cơ cấu lại thành hệ 9 năm (4 + 3 + 2) cho phù hợp với hoàn cảnh kháng
chiến, bao gồm 3 cấp học: cấp I, cấp II, cấp III. Cấp I: 4 năm (không kể vỡ
lòng) (lớp 1 - 4), thay cho cấp tiểu học; cấp II: 3 năm (lớp 5 - 7), thay cho bậc
trung học đệ nhất cấp gồm 4 năm và cấp III: 2 năm (lớp 8 - 9), thay cho bậc
trung học chuyên khoa (hay trung học đệ nhị cấp) gồm 3 năm.
- Cải cách giáo dục năm 1956.
Hệ thống giáo dục phổ thông từ 9 năm nâng lên 10 năm, bao gồm:
Cấp I: 4 năm, từ lớp 1 đến lớp 4;
Cấp II: 3 năm, từ lớp 5 đến lớp 7;
Cấp III: 3 năm, từ lớp 8 đến lớp 10.
Số tiết học trong tuần ở cấp I vẫn giữ như trước đây (17 - 19 tiết), ở cấp
II và cấp III tăng lên từ 20 giờ (cấp II), 21 giờ (cấp III) lên 29 - 30 giờ.
Dưới ánh sáng đường lối của Đảng thể hiện qua các sắc lệnh và bức thư
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nền giáo dục Việt Nam đã có những chuyển biến
mới sâu sắc trong những năm đầu sau khi giành được chính quyền, xác lập
quan điểm giáo dục mới phục vụ nhân dân, loại trừ những quan điểm giáo dục
lạc hậu, phản động, xem giáo dục là trung lập.
Là địa phương có truyền thống cách mạng và truyền thống hiếu học lâu
đời, lại được tôi luyện trong nhiều phong trào yêu nước, với khí thế hứng khởi
sôi sục của những ngày đầu sau khi giành được chính quyền, Hà Tĩnh đã phấn
đấu xây dựng nền giáo dục cách mạng khá toàn diện với nhiều chuyển biến
sâu sắc trong các ngành học.
Thực hiện khẩu hiệu “Đi học là kháng chiến, đi học là yêu nước”, cả

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, các nhà trường ở Hà
Tĩnh đã đào tạo được những thế hệ học sinh giỏi, cung cấp cho cả nước một

14


đội ngũ khá đông đảo những nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà quản lý, nhà
khoa học, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng khi bước vào giai đoạn mới.
Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi,
miền Bắc hoàn toàn được giải phóng và bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ
nghĩa xã hội. Hệ thống giáo dục dân chủ nhân dân được xây dựng trong kháng
chiến cần được chuyển hướng và là cơ sở cho việc cải tạo nền giáo dục 12
năm trong vùng mới giải phóng. Từ yêu cầu cấp thiết đó, năm 1956, cuộc cải
cách giáo dục lần thứ hai đã được triển khai với nội dung giáo dục toàn diện,
nhằm đào tạo thế hệ trẻ thành lớp người xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tỉnh Hà
Tĩnh với ưu thế của một vùng tự do trong kháng chiến chống thực dân Pháp,
chỉ trong một thời gian ngắn đã xây dựng được một hệ thống giáo dục khá
hoàn chỉnh, nhất là từ khi có ánh sáng Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ
III của Đảng. Tất cả các xã trong tỉnh đều có từ 1-2 trường cấp I, 3-5 xã có 1
trường cấp II; bình quân mỗi huyện có 1 trường cấp III. Toàn ngành có một
hệ thống trường phổ thông nông nghiệp, phổ thông công nghiệp và trường sư
phạm trung sơ cấp. Trong quá trình xây dựng và phát triển đó, hệ thống giáo
dục phổ thông của Hà Tĩnh nổi lên một số ngọn cờ tiêu biểu như: trường cấp
II Nguyễn Biểu, cấp II Đại Thành, cấp I Cẩm Bình, cấp III Đại Thành. Đó
chính là hình ảnh của những tổ đội lao động xã hội chủ nghĩa đầu tiên mà
ngành giáo dục đã dày công xây dựng trong phong trào thi đua Hai tốt do Chủ
tịch Hồ Chí Minh phát động, noi gương điển hình Bắc Lý với khẩu hiệu “Tất
cả vì học sinh thân yêu”.
Năm 1965, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước lan rộng ra
miền Bắc, ngành giáo dục – đào tạo lại một lần nữa phải chuyển hướng các

Tĩnh. Lịch sử Hà Tĩnh nói chung và lịch sử giáo dục Hà Tĩnh nói riêng bước
vào một thời kỳ mới.
Sau 2 năm nhập tỉnh, năm 1978, Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh đã ra Nghị quyết
130 Về công tác giáo dục trong giai đoạn mới, nhằm đưa ngành giáo dục phát
triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.
Trong thời gian nhập tỉnh, giáo dục Hà Tĩnh tuy còn gặp nhiều khó
khăn cả về khách quan cũng như chủ quan, nhưng toàn ngành đã phấn đấu
16


vượt qua bằng những chủ trương, biện pháp sáng tạo, thích hợp với từng
ngành học, cấp học nên đã đưa toàn ngành phát triển với số lượng chưa từng
có là 300.874 học sinh, tăng 93.655 em so với năm 1975. Số học sinh tốt
nghiệp phổ thông ra trường trở về phục vụ địa phương, tham gia nghĩa vụ
quân sự và đi học lên là 9.607 em. Công cuộc xây dựng nhà trường xã hội chủ
nghĩa, sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Hà Tĩnh phát triển với những thành
tựu đáng ghi nhận.
1.2. Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông và đào
tạo nghề trong những năm đầu tái lập tỉnh (1991-2000)
1.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh về phát triển giáo dục phổ
thông và đào tạo nghề
Theo nghĩa rộng, giáo dục phổ thông là một loại hình hoạt động xã hội
nhằm cung cấp cho mọi người dân những hiểu biết cơ bản về tự nhiên, về xã
hội và về con người để làm cơ sở cho sự hình thành thế giới quan, cho việc
tiếp thụ những kỹ năng cần cho cuộc sống và cho việc đào tạo nghề nghiệp.
Theo nghĩa hẹp, nó là một thể chế xã hội (tức nhà trường phổ thông) có nhiệm
vụ đào tạo thế hệ trẻ từ tuổi có khả năng học tập đến tuổi có khả năng lao
động thành những nhân cách của một chế độ xã hội nhất định, từ đó mà trở
thành người lao động, người công dân theo lý tưởng của xã hội đó.
Nhiệm vụ của giáo dục phổ thông trong chế độ xã hội chủ nghĩa là đào

hội đến năm 2000.
Trên cơ sở đánh giá chung thực trạng giáo dục từ sau Đại hội VI đến nay,
Đại hội VII đã đề ra mục tiêu giáo dục và đào tạo như sau: “Mục tiêu giáo dục
và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình
thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự
chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu
chủ nghĩa xã hội. Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và có
năng lực chuyên môn sâu, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần”. [2, tr. 21].
Nhiệm vụ của 5 năm (1991 - 1995) là “tiếp tục đổi mới, ổn định phát
triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Coi trọng chất lượng giáo
18


dục chính trị, đạo đức cho học sinh và sinh viên; hiện đại hóa một bước nội
dung, phương pháp giáo dục; dân chủ hóa nhà trường và quản lý giáo dục; đa
dạng hóa các loại hình đào tạo và loại hình trường lớp, từng bước hình thành
những trường bán công, dân lập, tư thục (dạy nghề), phát triển loại hình vừa
học vừa làm. Mở rộng đào tạo nghề; bồi dưỡng nhiều người giỏi về khoa học,
công nghệ, kinh doanh, về quản lý kinh tế, xã hội và nhiều công nhân lành
nghề…” [2, tr. 21].
Về giáo dục phổ thông, báo cáo nêu rõ nhiệm vụ phải “Tập trung thực
hiện chương trình phổ cập giáo dục cấp I và chống mù chữ; phát triển cấp II,
cấp III phù hợp với yêu cầu và điều kiện của nền kinh tế. Củng cố và phát
triển trường phổ thông trẻ em có tật… Tăng cường đầu tư cho giáo dục ở
miền núi và dân tộc thiểu số, mở rộng các trường nội trú, quy hoạch đào tạo
cán bộ và trí thức người dân tộc” [2, tr. 22].
Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Đại hội VII của Đảng đối với giáo dục,
tháng 1/1993, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 4 (khóa VII) đã
được tổ chức. Hội nghị đã đánh mốc mới trong quá trình phát triển sự nghiệp

đại hóa đất nước. Nhiệm vụ của nhân dân là tập trung mọi lực lượng, tranh
thủ thời cơ, vượt qua khó khăn, thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một
cách toàn diện và đồng bộ” [36]. Trong đó “lấy việc phát triển nguồn lực con
người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [36].
Nhận thức tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục - đào tạo, Đại hội VIII
của Đảng đã xác định: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo
là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài. Coi trọng cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát
huy hiệu quả. Phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục trong 5 năm tới là
phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo
điều kiện cho nhân dân, đặc biệt thanh niên có việc làm; khắc phục những tiêu
cực, yếu kém trong giáo dục và đào tạo” [36].
Đảng chọn giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ làm “khâu đột
phá” của thời kỳ cách mạng mới. Giáo dục phải đi trước một bước: phát triển
20


giáo dục phải đi trước một bước hợp lý so với phát triển kinh tế. Đảng còn
khẳng định một tư tưởng nữa là đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản quan
trọng nhất. Đầu tư không chỉ về tài chính mà là đầu tư về mọi mặt.
Để thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp
hành Trung ương Đảng đã họp (tháng 12/1996) và ra Nghị quyết số 02NQ/HNTW “Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000”.
Đây chính là cái mốc quan trọng của sự phát triển giáo dục nước ta, mở
ra một thời kỳ mới của sự phát triển giáo dục và đào tạo - thời kỳ chấn hưng
nền giáo dục nước nhà.
Hội nghị đã phân tích sâu sắc thực trạng giáo dục và đào tạo, vạch ra
những nguyên nhân khách quan, chủ quan và nhận định: “Hiện nay sự nghiệp
giáo dục - đào tạo đang đứng trước mâu thuẫn lớn giữa yêu cầu vừa phát triển
nhanh quy mô giáo dục - đào tạo, vừa phải gấp rút nâng cao chất lượng giáo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status