ĐẢNG BỘ HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015 - Pdf 38

ĐẢNG BỘ HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỸ LỊCH SỬ ĐẢNG
Hướng dẫn khoa học:

Hà Nội, tháng 10– 2015

A.MỞ ĐẦU


1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục phổ thông là nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước
ta, nó đặt những cơ sở ban đầu rất quan trọng cho sự phát triển toàn diện về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách
con người, cũng là tiền đề cho học sinh tiếp tục học lên những bậc cao hơn như:
trung cấp, cao đẳng, đại học, đi vào cuộc sống,…
Đảng và Nhà nước ta luôn coi công tác giáo dục và đào tạo có vai trò và tầm
quan trọng đặc biệt. Trước đây, mặc dù trong điều kiện chiến tranh, nhưng sự nghiệp
giáo dục và đào tạo vẫn giành được sự quan tâm đặc biệt và đã giành được những
thành tựu hết sức quan trọng. Thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn
khẳng định sự nghiệp giáo dục và đào tạo là ưu tiên hàng đầu trong chính sách phát
triển nguồn nhân lực. Bước sang thế kỉ XXI, khoa học công nghệ tiếp tục phát triển
như vũ bão và trở thành một yếu tố trực tiếp của lực lượng sản xuất. Sự hội nhập kinh
tế thế giới đòi hỏi trình độ ngày càng cao của các quốc gia. Nền kinh tế tri thức ra đời,
hàm lượng trí tuệ kết tinh trong sản phẩm ngày càng tăng.Chính vì thế, Đảng ta đã
sớm xác định: Giáo dục là quốc sách hàng đầu và là động lực đưa đất nước thoát khỏi
nghèo nàn, lạc hậu.Tại Hội nghị TW2 khóa VIII (1996), Đảng đã đưa ra định hướng
Chiến lược phát triển giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng trong

Vì những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Đảng bộ Huyện Gia Lâm, thành phố
Hà Nội lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm 2005 đến năm 2015” làm đề
tài luận văn tốt nghiệp cao học, chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam.Kết
quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn và những
giải pháp chủ yếunhằm tăng cường công tác quan trọng này ở địa phương.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ vị trí, vai trò của GD & ĐTnói chung, GDPT nói riêng đối với sự
phát triển KT – XH của đất nước, trong những năm qua, các tổ chức, học giả trong và
ngoài nước rất quan tâm, đã công bố một số công trình nghiên cứu, bài viết bàn về
thực trạng, phương hướng phát triển sự nghiệp GDPT. Sau đây là một số công trình
tiêu biểu:
Công trình nghiên cứu về giáo dục trên bình diện chung có liên quan đến
đề tài như:
Nhà trường phổ thông Việt Nam qua các thời kỳ lịch sửcủa Viện Khoa học
giáo dục, 2001;
Đổi mới nâng cao vai trò, trách nhiệm, đạo đức của đội ngũ giáo viên và cán


bộ quản lý giáo dục trong xu thế Việt Nam hội nhập quốc tế của nhiều tác giả, Nxb.
Lao động, 2006,
Những cuốn sách của tác giả Phạm Minh Hạc: Phát triển giáo dục - phát triển
con người - phục vụ phát triển kinh tế xã hội,Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội (1966).
Giáo dục nhân cách. Đào tạo nhân lực,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội (1997). Giáo
dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội (1999).
Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội(2001).
Nguyễn Hữu Châu (1999), Về định hướng chiến lược giáo dục đầu thế kỷ XXI
của một số nước trên thế giới, Viện Khoa học giáo dục; Quốc hội (2010).
Những cuốn sách này tựa chung lại đã nghiên cứu viết về vấn đề gì?
Nghiên cứu về sự lãnh đạo của các đảng bộ địa phương đối với giáo dục phổ

phát triển giáo dục phổ thông từ năm 2005-2015
- Trình bày quá trình thực hiện phát triển giáo dục phổ thông của huyện Gia Lâm từ
năm 2005-2015
- Rút ra ưu điểm, hạn chế , nguyên nhân, bài học kinh nghiệm của quá trình Đảng
bộ huyên Gia Lâm lãnh đạo chỉ đạo thực hiện phát triển giáo dục phổ thông từ năm 20052015
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1Đối tượng nghiên cứu: Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện Gia Lâm,
thành phố Hà Nội phát triển giáo dục phổ thông từ năm 2005 đến năm 2015.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Gia Lâm về giáo dục phổ
thông thể hiện ở 2 cấp học: Cấp học Tiểu học và THCS.
+ Về không gian: Luận văn nghiên cứu địa bàn thành phố Hà Nội, mà chủ yếu
là địa bàn huyện Gia Lâm
+ Về thời gian: Từ năm 2005 đến năm 2015
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận, thực tiễn:
- Luận văn nghiên cứu trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và quan điểm của Đảng CSVN về giáo dục. Đây là cơ sở lý luận cho việc
nghiên cứu quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội phát
triển GDPT từ năm 2005 đến năm 2015.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic và kết hợp sử dụng


một số phương pháp khác như: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống
kê, so sánh,…. để thực hiện đề tài.

6. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Đóng góp về mặt khoa học: Hệ thống hóa được những chủ trương, quá trình lãnh
đạo của Đảng bộ Huyện Gia Lâm về việc thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông từ

đẹp: cần cù, chịu khó, anh hùng, thông minh, sáng tạo. Từ khi có Đảng lãnh đạo, nhất
là sau cuộc Cách mạng tháng Tám -1945 lịch sử, chính quyền dân chủ nhân dân được
thành lập, nhân dân Gia Lâm cùng Thủ đô và đất nước lập thêm bao kỳ tích để xây
dựng và bảo vệ quê hương góp phần làm rạng rỡ truyền thống anh hùng bất khuất của
Thủ đô Hà Nội anh hùng và dân tộc Việt Nam quang vinh.
Vị trí địa lý
Huyện Gia Lâm nằm ở phía Đông của Thủ đô Hà Nội. Phía Bắc của Huyện là
quận Long Biên; phía Tây Nam có địa giới là dòng sông Hồng, bên kia bờ là huyện
Thanh Trì và quận Hoàng Mai; phía Đông Bắc và Đông giáp với các huyện Từ Sơn,
Tiên Du, Thuận Thành của tỉnh Bắc Ninh; phía Nam giáp với huyện Văn Lâm, tỉnh
Hưng Yên.
Diện tích: 114,79 km2.
Dân số: khoảng 243.957 người (năm 2011).
Lịch sử hình thành
Xa xưa, Gia Lâm thuộc vùng đất Long Biên
Thời Lý, Gia Lâm thuộc phủ Thiên Đức
Thời Trần, thuộc lộ Bắc Giang
Thời Hậu Lê, thuộc phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc
Thời Nguyễn, huyện Gia Lâm nằm trong trấn Kinh Bắc.
Năm 1831, huyện Gia Lâm có 10 tổng (79 thôn, sở) đó là các Tổng: Cổ Biện,
Kim Sơn, Đặng Xá, Gia Thuỵ, Đông Dư, Đa Tốn, Cự Linh, Nghĩa Trai, Như Kinh và
Lạc Đạo.


Sau năm 1858, ba Tổng là: Nghĩa Trai, Như Kinh và Lạc Đạo chuyển về huyện
Văn Lâm thuộc đạo Bãi Sậy (Hưng Yên).
Trước năm 1945, huyện Gia Lâm thuộc phủ Thuận An, rồi phủ Thuận Thành,
tỉnh Bắc Ninh.
Ngày 28/11/1948, Chủ tịch nước ra Sắc lệnh số 263/SL đưa huyện Gia Lâm (kể
cả đặc khu Ngọc Thuỵ) thuộc tỉnh Bắc Ninh sáp nhập vào Hưng Yên. Một năm sau, do

Viên và hệ thống đường sắt ngược lên phía Bắc, Đông Bắc và xuôi cảng biển Hải
phòng. Trên địa bàn Huyện có nhiều khu đô thị, khu công nghiệp và các trung tâm
thương mại được hình thành; nhiều làng nghề nổi tiếng, thu hút đông khách thập
phương trong và ngoài nước như làng gốm sứ Bát Tràng, dát vàng, may da Kiêu Kỵ,
chế biến thuốc bắc Ninh Giang. Đây chính là những động lực và tiềm năng to lớn để
phát triển kinh tế thương mại, du lịch, dịch vụ giao thông, giao lưu hàng hoá hiện nay
và và trong tương lai.
Đất và người Gia Lâm gắn liền với truyền thống lịch sử dựng nước và giữ nước
của dân tộc; kiên cường bất khuất đánh đuổi giặc ngoại xâm; cần cù, thông minh, sáng
tạo trong xây dựng cuộc sống. Gia Lâm tự hào là quê hương của hai vị thánh: Phù
Đổng Thiên Vương và Chử Đồng Tử, là hai trong "Tứ bất tử" trong tín ngưỡng dân
gian Việt Nam. Gia Lâm còn gắn liền với tên tuổi của Nguyên Phi Ỷ Lan, Ngọc Hân
công chúa, Cao Bát Quát, Lý Thường Kiệt và biết bao anh hùng hào kiệt khác mà công
tích của họ đã góp phần viết lên những trang sử vàng chói lọi của dân tộc.
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, truyền thống cách mạng hào hùng, tinh
thần yêu nước, vì độc lập dân tộc của cha ông tiếp tục được các thế hệ con cháu trên
mảnh đất Gia Lâm nối tiếp. Gia Lâm tự hào bởi từ tháng 8/1929 đã có Chi bộ Đảng
Cộng sản được thành lập ở Nhà máy gạch Cầu Đuống. Sau khi Đảng bộ Thành phố
được thành lập (tháng 6/1930), các chi bộ Đảng ở Gia Lâm lần lượt ra đời và không
ngừng phát triển, lãnh đạo, chỉ đạo phong trào quần chúng cách mạng. Những năm 40
của thế kỷ 20, xã Trung Mầu đã trở thành một điểm “An toàn khu” của Trung ương và
Xứ uỷ Bắc Kỳ. Khi thời cơ cách mạng đến, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngày
18/8/1945 nhân dân Gia Lâm đã đồng loạt đứng lên khởi nghĩa, đập tan chế độ cũ
giành chính quyền về tay nhân dân.
Trong công cuộc kháng chiến anh dũng và lâu dài của dân tộc, dưới sự lãnh đạo
của Đảng bộ huyện, quân và dân Gia Lâm mưu trí, dũng cảm, kiên cường chiến đấu
chống kẻ thù, lập lên những chiến công vang dội, góp phần vào những chiến thắng
vang dội ở Bắc Ninh và Thủ đô Hà Nội. Trong các cuộc kháng chiến thần thánh của
dân tộc để bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc, hàng vạn thanh niên Gia Lâm đã hăng
hái lên đường tòng quân giết giặc bảo vệ Tổ quốc: 4.417 người con ưu tú của Gia Lâm

sự chỉ đạo của Thành ủy - HĐND - UBND thành phố, sư ủng hộ và phối hợp của các
sở, ban, ngành Thành phố, các đơn vị đóng trên địa bàn, tập trung có hiệu quả nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng, tăng cường hoạt động của
hệ thống chính trị từ Huyện đến cơ sở. Năm 2013, giá trị sản xuất các ngành kinh tế


chủ yếu do Huyện quản lý tăng 9,22% so với năm 2012; cơ cấu giá trị sản xuất của
Huyện: Công nghiệp, xây dựng 54,05%; Dịch vụ 30,95%; Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản
15,00%. Tổng số thu ngân sách nhà nước đạt 1.136,6 tỷ đồng; loại trừ kết dư, thu
chuyển nguồn, tổng thu ngân sách nhà nước đạt 1.017,5 tỷ đồng bằng 68,6% dự toán
Thành phố giao, bằng 67,8% dự toán Huyện giao và bằng 93,9% so với năm trước (đã
loại trừ các khoản thu thuế giãn, hoãn theo quy định); trong đó thu ngân sách nhà nước
trên địa bàn đạt 453,3 tỷ đồng, bằng 49,2% dự toán Thành phố giao, bằng 48,4% dự
toán Huyện giao và bằng 78% so với năm trước. Công tác đầu tư, thực hiện các dự án
trọng điểm, công tác giải phóng mặt bằng được chỉ đạo quyết liệt, thúc đẩy tiến độ
thực hiện; công tác xây dựng nông thôn mới, công tác quản lý trật tự đô thị, tài
nguyên, môi trường được tập trung chỉ đạo và triển khai tổ chức thực hiện tích cực.
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo, y tế, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân,
công tác Dân số - Gia đình & Trẻ em được quan tâm. Năm học 2012-2013, chất lượng
giáo dục và đào tạo tiếp tục được nâng lên, ngành giáo dục và đào tạo huyện Gia Lâm
đứng đầu khối Huyện, được UBND Thành phố tặng cờ thi đua; có thêm 3 trường được
công nhận đạt chuẩn Quốc gia (nâng tổng số trường đạt chuẩn Quốc gia lên 42/70
trường, đạt tỷ lệ 59,2%). Đã khám bệnh cho 201,217 lượt người, trong đó trẻ em dưới
6 tuổi 37,784 lượt; kiểm tra vệ sinh ATTP 1.585 lượt cơ sở, xử phạt 11 cơ sở với tổng
kinh phí 15,7 trệu đồng, cảnh cáo 85 cơ sở, phê bình, nhắc nhở 95 cơ sở và tiêu hủy
sản phẩm của 12 cơ sở. Thực hiện tốt chính sách xã hội; tổ chức thăm hỏi, tặng quà
cho 69.796 lượt người có công và các đối tượng xã hội với tổng kinh phí rên 17,3 tỷ
đồng. Triển khai xây dựng 12 và sửa chữa 6 nhà ở cho gia đình chính sách với tổng
kinh phí 1 tỷ đồng; cải tạo, nâng cấp 5 công trình ghi công liệt sỹ với kinh phí 85,5 tỷ
đồng; hỗ trợ sửa chữa 31 nhà đại đoàn kết với kinh phí 925 trệu đồng. Triển

tặng cờ thi đua xuất sắc; Ủy ban Kiểm tra, Ban Tuyên giáo, Ban Tổ chức, Văn phòng
Huyện ủy, Ủy ban MTTQ, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn
THCSHCM, Hội Cựu Thanh niên xung phong, phòng Giáo dục & Đào tạo, phòng
Lao động - Thương binh & xã hội, Hội Chữ thập đỏ, Trung tâm Dân số Gia đình &Trẻ em, Công an Huyện... được UBND Thành phố tặng cờ thi đua xuất sắc;
Ban Dân vận Huyện ủy được Ban Thường vụ Thành ủy tặng bằng khen; Liên đoàn lao
động huyện được Tổng Liên đoàn lao động tặng cờ thi đua; Ban chỉ huy Quân sự
huyện được Bộ Tư lệnh Thủ đô tặng cờ đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua quyết
thắng.....

1.1.2. Tình hình giáo dục phổ thông ở huyện Gia Lâm trước năm 2005.


Cùng nhìn lại tình hình giáo dục phổ thông Huyện Gia Lâm trước năm
2005. Trước năm 2005, điều kiện kinh tế của Huyện còn gặp nhiều khó khăn, đời
sống vật chất của người dân tuy đã được nâng cao nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu
cầu. Huyện Gia Lâm đã đạt được những thành tựu khả quan trước năm 2005,
trong đó có giáo dục và đào tạo. Đảng bộ Huyện qua các nhiệm kỳ lãnh đạo
nhân dân, các ban ngành đoàn thể từng bước thực hiện thắng lợi Nghị Quyết Đại
hội của Huyện. Hoàn thành nhiều chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội.
Trước năm 2005, Đảng bộ Huyện Gia lâm đã rất chú trọng trong công tác
lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân khách
quan, chú quan mà giáo dục huyện Gia Lâm trước 2005 vẫn cón rất nhiều tồn tại,
yếu kém.

Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện,
trong đó có đổi mới về vấn đề giáo dục: “Giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và
phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ
lao động có kĩ thuật, đồng bộ về ngành nghề phù hợp với yêu cầu phân công lao
động của xã hội ” [27 – tr.94]. Đối với giáo dục phổ thông Đại hội cũng nhấn
mạnh: “Các trường phổ thông phải dạy kiến thức phổ thông cơ bản, lao động kĩ

chăm lo giúp đỡ trẻ em nghèo, tàn tật, con thương binh, liệt sĩ… Coi trọng hơn
nữa việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Huy động mọi
lực lượng tham gia xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục, kết hợp giáo dục gia
đình - nhà trường - xã hội.
Giáo dục tiểu học. Số học sinh giảm dần và ổn định trong giai đoạn 2001
- 2005(do tỷ lệ tăng dân số ổn định). Trẻ ra lớp đúng độ tuổi đạt tỷ lệ 98 – 99%.
Quy mô phát triển trường lớp chuyển dần theo hướng 2 buổi một ngày. Nội
dung chương trình học do Bộ quy định, bên cạnh đó các trường tiểu học tổ chức
cho học sinh học thêm các môn tự chọn: làm quen với tiếng Anh, nâng cao toán,
tiếng việt, các môn năng khiếu như họa, nhạc, thể dục…Việc đổi mới phương
pháp giáo dục được triển khai sớm, chất lương giáo dục tốt, đáp ứng được nhu
cầu học tập của con em nhân dân trong Huyện.
Giáo dục THCS: Những năm 2001 - 2005 số học sinh tăng do đà tăng tự
nhiên của dân số, trường học được xây dựng ở những khu dân cư mới và ở
những xã có tác động tích cực làm cho số học sinh tăng lên “Tỷ lệ bỏ học giảm
từ 10% những năm trước xuống còn 0,7%. Bình quân 45 hs/ lớp; Chương trình


mới được biên soạn hợp lý. Giáo dục Huyện đã có những chủ trương biện pháp
giữ vững, đảm bảo chất lượng, xác định chuẩn kiến thức cho các môn học.
Chất lượng văn hóa đại trà của học sinh được giữ vững và phát triển, số
học sinh yếu kém giảm rõ rệt. Các trường có nhiều chuyển biển trong việc thực
hiện chương trình toàn diện các môn học. Chất lượng mũi nhọn được chú trọng.
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi được các trường quan tâm, các lớp chuyên,
lớp chọn tiếp tục thực hiện điều chỉnh về thời gian đối với một số môn để tăng
cường chất lượng môn chuyên. Chất lượng giáo dục đạo đức học sinh trong các
trường cũng được coi trọng. Ngành giáo dục chỉ đạo “Tăng cường giáo dục đạo
đức trong các trường học, tập trung giáo dục truyền thống” thông qua các giờ
sinh hoạt lớp, các hoạt động kỉ niệm ngày lễ lớn, giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật
nếp sống văn minh, giáo dục phát luật, an toàn giao thông.

Nhìn lại quan điểm, chủ trương của Đảng về chỉ đạo phát triển giáo dục giai
đoạn 2001 – 2005: Nhằm đáp ứng yêu cầu của đất nước và nâng cao hơn nữa chất
lượng giáo dục, sau khi Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) ra đời, tại kỳ họp ngày
10-12- 2000, Quốc hội khóa X đã thông qua hai Nghị quyết quan trọng về giáo dục là
Nghị quyết số 40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và Nghị
quyết số 41/2000/QH10 về thực hiện phổ cập trung học cơ sở. Tiếp đó, ngày 28-122000, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ra Chỉ thị 61/CT-TW “Về việc
thực hiện phổ cập Trung học cơ sở”. Chỉ thị nhấn mạnh: “Việc thực hiện phổ cập giáo
dục Trung học cơ sở giai đoạn 2001 – 2010 có ý nghĩa chiến lược quan trọng nhằm
góp phần phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [4 – tr.501].
Đại hội IX của Đảng (2001) tiếp tục khẳng định quan điểm: “Phát triển giáo
dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản
để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [27 – tr.654]. Đại hội đã
đề ra Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2001- 2010, trong đó xác
định: “Để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự
phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần tạo chuyển biến
cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo” [27 – tr.732]. Đại hội xác định mục tiêu của
giáo dục là phải: “Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và
tự tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh
thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn”, [27 – tr.732]. Đại
hội cũng nhấn mạnh phải nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới phương
pháp dạy và học, hệ thống hóa trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện
“chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”; Riêng đối với giáo dục phổ thông, nghị quyết


đại hội IX chỉ ra cần phải củng cố thành tựu xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học,
phấn đấu ngày càng có nhiều trường tiểu học đủ điều kiện học ngày 2 buổi, học sinh
được học ngoại ngữ và tin học. Đẩy nhanh tiến độ phổ cập giáo dục THCS, tạo điều
kiện cho những địa phương có khả năng hoàn thành sớm việc phổ cập giáo dục bậc

giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và
hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa giáo dục.
Cũng tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương khóa IX đã đưa ra kết luận số 14
– KL/TW ngày 26 tháng 7 năm 2002 về việc tiếp tục thực hiện nghị quyết Trung ương
2 khóa VIII, phương hướng phát triển giáo dục đào tạo từ 2002 – 2005 và đến năm
2010. Nhưng riêng về giáo dục phổ thông. Kết luận số 14 – KL/TW sau khi khẳng
định lại những thành tựu của năm năm thực hiện NQTW 2 khóa VIII đã đề ra nhưng
nhiệm vụ mà toàn Đảng, toàn dân và nòng cốt là đội ngũ giáo viên, cán bộ giáo dục
cần tập trung như sau:
Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. Thực hiện công bằng xã hội trong giáo
dục. Để thực hiện các nhiệm vụ trên, cần tập trung làm tốt các việc chủ yếu sau : Đổi
mới mạnh mẽ quản lý nhà nước về giáo dục. Tiếp tục hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo
dục quốc dân và sắp xếp, củng cố, phát triển mạng lưới trường lớp, cơ sở giáo dục.
Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân [26 – tr.52 - 57]
Ngày 15 - 6 - 2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 40/ CTTW
về việc “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”.
Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa,
đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu; đặc biệt chú trọng nâng cao
bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo, thông qua
việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng
cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị
quyết số 05/2005/NQ ngày 18/4/2005 về “Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo
dục, y tế, văn hóa, thể thao” trong đó có nội dung khuyến khích đa dạng hóa các loại
hình đào tạo ngoài công lập ở các cấp học, bậc học, sự tham gia của toàn thể xã hội,
của các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội, cá nhân, nhằm đa dạng hóa các loại
hình trường lớp, thực hiện các mục tiêu mà các đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng đề
ra
Quan điểm, chủ trương chỉ đạo của Đảng giai đoạn 2005 – 2010: về cơ bản
vẫn giữ vững quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu. Trong bối cảnh mới của đất

mô các cấp bậc học và trình độ đào tạo, phù hợp với cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành
nghề, cơ cấu vùng miền của nhân lực. Nâng tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ở các trình
độ vào năm 2010 đạt 40%, trong đó từ cao đẳng trở lên 6%, trung học chuyên nghiệp
8%, công nhân kỹ thuật 26%. Thực hiện phổ cập trung học cơ sở trong cả nước.
+ Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và tạo cơ hội học tập ngày càng
tốt hơn cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là ở các vùng còn nhiều khó khăn.


+ Giáo dục mầm non: Nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trước 6 tuổi,
tạocơ sở để trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; mở rộng hệ
thống nhà trẻ và trường lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệtở nông thôn và
những vùng khó khăn; tăng cường các hoạt động phổ biến kiến thức và tư vấn nuôi
dạy trẻ chocác gia đình. Tăng tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường từ 95%
năm 2000 lên 97% năm2005 và 99% năm 2010.
+ Trung học cơ sở: Cung cấp cho học sinh học vốn phổ thông cơ sở và những
hiểu biết banđầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để thực hiện phân luồng sau trung học
cơ sở,tạo điều kiện để học sinh tiếp tục học tập hoặc đi vào cuộc sống lao động. Đạt
chuẩn phổ cập trung học cơ sở ở các thành phố, đô thị vùng kinh tế phát triển vào năm
2005, trong cả nước vào năm2010. Tăng tỷ lệ học sinh trung học cơ sở trong độ tuổi từ
74% năm 2000 lên 80%vào năm 2005 và 90% vào năm 2010.
+ Trung học phổ thông: Thực hiện chương trình phân ban hợp lý nhằm đảm bảo
cho học sinh có học vấn phổ thông, cơ bản theo một chuẩn thống nhất, đồng thời tạo
điều kiện cho sự phát huy năng lực của mỗi học sinh, giúp học sinh có những hiểu biết
về kỹ thuật, chú trọng hướng nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân luồng sau
trung học phổ thông, để học sinh vào đời hoặc chọn ngành nghề học tiếp sau khi tốt
nghiệp.Tăng tỷ lệ học sinh trong độ tuổi vào trung học phổ thông từ 38% năm 2000
lên 45%vào năm 2005 và 50% vào năm 2010.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng họp từ ngày 18 - 4 đến ngày
25/4/2006. Đại hội đã kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 – 2005 và Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2001 – 2010, nhìn lại 20 năm đổi mới; quyết định phương hướng, mục

dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo được chuyển
biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ giáo dục của
khu vực và thế giới; khắc phục cách đổi mới chắp vá, thiếu tầm nhìn tổng thể, thiếu kế
hoạch đồng bộ. Xây dựng nền giáo dục của dân, do dân và vì dân; bảo đảm công bằng
về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt
đời.
+ Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học. Đổi mới phương
pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất
của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh
viên. Coi trọng bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên khát vọng mãnh liệt xây dựng đất
nước giàu mạnh, gắn liền lập nghiệp bản thân với tương lai của cộng đồng, của dân
tộc, trau dồi cho học sinh, sinh viên bản lĩnh, phẩm chất và lối sống của thế hệ trẻ Việt


Nam hiện đại. Triển khai thực hiện hệ thống kiểm định khách quan, trung thực chất
lượng giáo dục, đào tạo.
+ Hoàn chỉnh và ổn định lâu dài hệ thống giáo dục quốc dân; chú trọng phân
luồng đào tạo sau trung học cơ sở; bảo đảm liên thông giữa các cấp đào tạo. Đổi mới
cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng đào tạo.
+ Mở rộng quy mô dạy nghề và trung học chuyên nghiệp, bảo đảm tốc độ tăng
nhanh hơn đào tạo đại học, cao đẳng. Tăng nhanh tỉ lệ học sinh tốt nghiệp phổ thông
được học tiếp lên đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề.
+ Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục và đào tạo. Đi đôi với việc đổi mới cơ chế
quản lý, nâng cao chất lượng các trường công lập, cần bổ sung chính sách ưu đãi
đểphát triển các trường ngoài công lập và các trung tâm giáo dục cộng đồng. Có lộ
trình cụ thể cho việc chuyển một số cơ sở giáo dục, đào tạo công lập sang dân lập, tư
thục; xoá bỏ hệ bán công.
+ Sửa đổi chế độ học phí đi đôi với đổi mới cơ chế tài chính giáo dục và đào tạo
theo hướng xác định đầy đủ chi phí dạy và học, chia sẻ hợp lý trách nhiệm chi trả giữa
nhà nước, xã hội và người học; thực hiện miễn, giảm học phí và cấp học bổng cho học

định là khâu đột phá trong năm học 2006 – 2007 để toàn ngành giáo dục tự khẳng
định, đổi mới vì sự phát triển của ngành, vì sự nghiệp và cuộc sống của mỗi thầy giáo,
cô giáo, theo tinh thần và nhiệm vụ các Nghị quyết số 40; 41 Quốc hội khóa X và
Nghị quyết số 37 của Quốc hội khóa XI;
Luật Giáo dục năm 2005. Ngày 07-11-2006, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 06 CT/TW về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh”. Để thực hiện Chỉ thị trên trong ngành giáo dục, ngày 18-5-2007, Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã ra Chỉ thị số 2516/CT - BGDĐT “Về việc thực hiện cuộc vận
động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong ngành Giáo dục”.
Mục đích thực hiện cuộc vận động nhằm làm cho nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục,
viênchức, học sinh, sinh viên, học viên trong toàn ngành giáo dục nhận thức sâu sắc về
những nội dung cơ bản và những giá trị to lớn của tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh;
tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh, nâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
tư; đẩy lùi sự suy thoái về chính trị đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội, góp phần
thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng.
Để sự nghiệp giáo dục đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế, ngày 15/4/2009, Bộ
Chính trị ra Thông báo Kết luận số 242-TB/TW “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết
Trung ương 2 (Khóa VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm


2020”. Trên cơ sở đánh giá thực trạng giáo dục trên cả nước, để đáp ứng yêu cầu của
tình hình mới, Bộ Chính trị yêu cầu cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các
đoàn thể các cấp “cần tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo của Đảng trong Nghị
quyết Trung ương 2 (Khóa VIII), phấn đấu đến năm 2020 nước ta có một nền giáo dục
tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế” [5 - tr.3]. Bộ Chính trị yêu cầu
cần thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp phát triển giáo dục đến năm 2020 là: nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống cho
học sinh, sinh viên, mở rộng quy mô giáo dục hợp lý; cần coi trọng cả ba mặt giáo dục

cho hơn 183.700 đảng viên trong toàn Đảng. Với tinh thần “Đổi mới, trí tuệ, dân chủ,
kỷ cương, đoàn kết”, “Phát huy truyền thống văn hiến, anh hùng và thành tựu đổi mới,
xây dựng thủ đô phát triển toàn diện, bền vững, thiết thực kỷ niệm 1000 năm Thăng
Long – Hà Nội” [22 – tr. 9]. Đại hội đã đánh giá chính xác, khách quan kết quả thực
hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII, Đảng bộ Thành phố và 20 năm thực hiện công
cuộc đổi mới, chỉ rõ những khuyết điểm, hạn chế, rút ra những bài học kinh nghiệm,
xác định phương hướng, mục tiêu, đề ra các giải pháp chủ yếu, khả thi để phát triển
Thủ đô giai đoạn 2006 - 2010 và những năm tiếp theo. Đại hội nêu lên những nhiệm
vụ và giải pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục – đào tạo là:
+ Giáo dục và đào tạo phải đáp ứng nhu cầu cung cấp nguồn nhân lực chất
lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô và cả nước, là nòng cốt để xây dựng
người Hà Nội thanh lịch, văn minh, xây dựng xã hội học tập và tạo tiền đề phát triển
kinh tế tri thức. Tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về GD&ĐT, trước hết là
đổi mới phương pháp tổ chức, quản lý các hoạt động GD&ĐT, đổi mới phương pháp
dạy và học.
+ Đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện, quan tâm giáo dục mầm non, thực
hiện tốt đổi mới giáo dục phổ thông, tăng cường công tác hướng nghiệp, xây dựng hệ
thống giáo dục đa dạng, hiệu quả. Phấn đấu đạt chuẩn phổ cập giáo dục bậc trung học
và năm 2010, tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo.
+Tăng cường giáo dục chủ nghĩa yêu nước, yêu CNXH, lòng tự hào dân tộc,
truyền thống thủ đô văn hiến, anh hùng và nếp sống văn hóa cho học sinh. Coi trọng
giáo dục đạo đức, thẩm mỹ, thể chất, đưa môn Hà Nội học, ngoại ngữ, tin học vào
giảng dạy ở các trường thuộc hệ thống GD&ĐT của Thành phố.
+ Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, đảm bảo
100% có trình độ đạt chuẩn và tỷ lệ trên chuẩn cao. Phối hợp với Bộ GD&ĐT xây
dựng một số trường THPT, trung học chuyên nghiệp và đại học chất lượng cao, đạt
trình độ tiên tiến trong khu vực…




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status