Đảng bộ tỉnh hải dương lãnh đạo sự nghiệp phát triển giáo dục phổ thông ở tp hải dương tu nam 1996 den nam 2010 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN VŨ CẨM GIANG

ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ
HẢI DƯƠNG TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN VŨ CẨM GIANG

ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ
HẢI DƯƠNG TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. PHẠM HỒNG TUNG

HÀ NỘI - 2012

2.1.5. Công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông ..................... 59
2.1.6. Việc đề ra và thực hiện và quy chế giữa tổ chức đảng và Ban Giám
hiệu ........................................................................................................ 60
2.2. Những thành tựu và hạn chế của sự phát triển giáo dục phổ thông ở

thành phố Hải Dương ................................................................................. 61
2.2.1. Những thành tựu cơ bản ............................................................................ 62
2.2.2. Những tồn tại, hạn chế ............................................................................... 67


2.3. Nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế ................................................................. 69
2.3.1. Nguyên nhân của những ưu điểm ........................................................... 69

2.3.2. Nguyên nhân của tồn tại, khuyết điểm................................................... 70
Chương 3. BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG CỦA
ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG NHỮNG NĂM TỚI ......................................... 73

3.1. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn ......................................................... 73
3.1.1. Tổ chức tốt việc học tập, triển khai các nghị quyết của Đảng về

giáo dục và đào tạo trong nội bộ Đảng và trong nhân dân. Cần coi
đây là yếu tố đầu tiên, tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận
thức tư tưởng, trong việc quán triệt các quan điểm của Đảng về
giáo dục và đào tạo thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Hải
Dương............................................................................................................. 73
3.1.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng để tham mưu, theo dõi, kiểm

tra việc thực hiện nghị quyết của Đảng về giáo dục và đào tạo ở
các địa phương, ngành đặc biệt là ngành giáo dục và đào tạo. Kịp

giáo dục phổ thông ở thành phố Hải Dương............................................ 89
3.2.5. Xây dựng các chi bộ, Đảng bộ cơ sở trong sạch vững mạnh; bố trí
đúng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong ngành giáo dục phổ thông ở
thành phố Hải Dương ............................................................................. 94
3.2.6. Tăng cường cơ sở vật chất cho các trường phổ thông ............................ 100
3.2.7. Đổi mới công tác quản lý giáo dục phổ thông ........................................ 102
3.2.8. Làm tốt công tác thanh tra, giám sát, xử lý kịp thời sai phạm trong
ngành giáo dục phổ thông ở thành phố Hải Dương ............................... 104
KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 110

1


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CNH, HĐH:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNXH:

Chủ nghĩa xã hội

GD & ĐT:

Giáo dục và đào tạo

GDTX:


Bảng 2.5: Kết quả xếp loại hai mặt giáo dục năm học 2005-2006 .................... 47
Bảng 2.6: Kết quả xếp loại hai mặt giáo dục năm học 2009-2010 .................... 47
Bảng 2.7: Thống kê số lượng học sinh đạt giải Quốc gia của trường THPT
Chuyên Nguyễn Trãi, Thành phố Hải Dương.................................. 65

1


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển
với những bước tiến nhảy vọt, đưa thế giới bước vào kỷ nguyên văn minh trí
tuệ và kinh tế tri thức. Khoa học - công nghệ đã trở thành một động lực phát
triển trực tiếp của kinh tế - xã hội. Trong quá trình đó, giáo dục và đào tạo giữ
vai trò vừa cơ bản, quan trọng vừa tiên phong nhất.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Một dân tộc dốt là một dân
tộc yếu" (Trích trong Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên). Đảng
và Nhà nước ta cũng luôn coi sự nghiệp giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng
đầu. Thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định sự
nghiệp giáo dục và đào tạo là ưu tiên hàng đầu trong chính sách phát triển
nguồn nhân lực. Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm khắc phục những hạn chế, tồn
tại của giáo dục đang đặt ra hết sức cần thiết, trong đó có vấn đề đổi mới sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục và đào tạo.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã xác định: giáo dục
và đào tạo phải thật sự trở thành quốc sách hàng đầu. Tiếp đó, tại Hội nghị lần
thứ hai, Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII), Đảng đã đề ra Nghị
quyết về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ
CNH, HĐH và nhiệm vụ đến năm 2010.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định:

quyết định để đưa giáo dục và đào tạo của tỉnh Hải Dương phát triển. Năm
1997 là năm tái lập tỉnh Hải Dương (tách tỉnh Hải Hưng thành Hải Dương và
Hưng Yên như hiện nay) nhưng từ năm 1996, các chủ trương, đường lối đổi
mới giáo dục của Đảng đã tác động rất sâu sắc tới địa phương. Chính vì vậy,
tôi chọn vấn đề "Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo sự nghiệp phát triển
giáo dục phổ thông ở thành phố Hải Dương từ năm 1996 đến năm 2010"
làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam.

1


2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm vừa qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan
đến vấn đề sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục và đào tạo. Các
công trình nghiên cứu này đã đề cập đến vấn đề sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác giáo dục và đào tạo dưới nhiều góc độ khác nhau, chủ yếu theo hai
hướng chính:
* Hướng thứ nhất là những đề tài nghiên cứu về sự phát triển của giáo
dục và đào tạo ở Việt Nam trong khuôn khổ bộ môn khoa học giáo dục, chủ
yếu đề cập tới việc đánh giá, nghiên cứu nội dung chương trình, phương pháp
đào tạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Đây là nguồn tài liệu quan trọng
cho quá trình nghiên cứu của tôi. Tiêu biểu có thể kể tới các công trình như:
- Phạm Minh Hạc (1966), Phát triển giáo dục - phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế xã hội, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
- Phạm Minh Hạc (1999), Giáo dục Việt Nam truớc ngưỡng cửa thế kỷ
XXI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Vũ Đình Cự (chủ biên), (1999), Giáo dục hướng tới thế kỷ XXI, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Nguyễn Đăng Tiến (chủ biên), (1996), Lịch sử giáo dục Việt Nam,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
- Phan Quốc Huy (1996), Đảng cộng sản Việt Nam với sự nghiệp đổi

toàn diện những nội dung cơ bản của giáo dục và đào tạo: vai trò của giáo dục
và đào tạo; giáo dục Việt Nam trên bước đường đổi mới; sự lãnh đạo của
Đảng trên lĩnh vực giáo dục. Những tri thức khoa học này đã giúp tác giả
nhận thức rõ bản chất, vai trò của giáo dục và đào tạo, đồng thời cung cấp
nguồn tư liệu làm cơ sở để thực hiện đề tài.
3. Mục đích, nhiệm vụ
3.1. Mục đích
- Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Hải Dương cụ thể hoá và vận
dụng đường lối lãnh đạo của Đảng với sự nghiệp phát triển giáo dục đào tạo
bậc phổ thông ở thành phố Hải Dương từ năm 1996 đến năm 2010.
- Rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất những khuyến nghị, giải
pháp phát triển giáo dục phổ thông ở thành phố Hải Dương giai đoạn tới.
3.2. Nhiệm vụ
1


- Phân tích làm sáng tỏ vị trí sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp
giáo dục phổ thông trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
- Đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân của những ưu, khuyết điểm
và bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương đối với
sự nghiệp phát triển giáo dục phổ thông ở thành phố Hải Dương.
- Đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng bộ tỉnh Hải Dương đối với sự nghiệp phát triển giáo dục phổ thông
ở thành phố Hải Dương.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tương nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự lãnh đạo sự nghiệp phát triển
giáo dục phổ thông ở thành phố Hải Dương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương từ
năm 1996 đến năm 2010.
4.2. Phạm vi nghiên cứu

của Đảng bộ tỉnh Hải Dương nói riêng đối với sự nghiệp phát triển giáo dục
phổ thông trong giai đoạn hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần giúp các cấp uỷ Đảng địa
phương trong việc lãnh đạo Sự nghiệp phát triển giáo dục phổ thông.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác
chỉ đạo, lãnh đạo thực tiễn đối với sự nghiệp phát triển giáo dục phổ thông
của địa phương đồng thời là tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy
ở các trường học thuộc địa bàn tỉnh Hải Dương.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu gồm 3 chương, 8 tiết:
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Hải Dương vận dụng đường lối đổi mới giáo
dục của Đảng và chính sách của Nhà nước vào thực tiễn lãnh đạo đổi mới
giáo dục và đào tạo ở tỉnh Hải Dương từ năm 1996 đến năm 2010.
Chương 2: Sự phát triển của giáo dục phổ thông ở Thành phố Hải
Dương dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng từ năm 1996 đến năm
2010.

1


Chương 3: Bài học kinh nghiệm và các giải pháp nâng cao chất lượng
giáo dục phổ thông ở Thành phố Hải Dương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương
những năm tới.

1


Chương 1
ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG VẬN DỤNG ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI

với yêu cầu thực tế qua các kỳ Đại hội Đảng lần VI, VII, VIII, XIX, X của
Đảng cộng sản Việt Nam.
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta lại càng phải quan tâm hơn nữa đến sự
nghiệp giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ và
nhân dân lao động để họ tham gia hội nhập mà vẫn giữ vững truyền thống văn
hóa dân tộc đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm chủ khoa học
tiên tiến.
Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang có bước phát triển
ngày càng nhanh, nền kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá
trình phát triển của lực lượng sản xuất. Trong bối cảnh đó, giáo dục đã trở
thành nhân tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Các nước trên
thế giới và các nước đang phát triển đều coi giáo dục là nhân tố hàng đầu
quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của các quốc gia. Đảng và Nhà
nước ta đã đặt giáo dục ở vị trí cao. Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, Nghị
quyết chuyên đề về giáo dục và đào tạo đã khẳng định: Giáo dục và đào tạo
cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực và điều
kiện để thực hiện những mục tiêu kinh tế, xã hội; là chìa khoá để mở cánh cửa
tiến vào tương lai; là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; là điều kiện để phát huy
nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững. Phải coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển,
phải tạo điều kiện cho giáo dục đi trước một bước để phục vụ đắc lực cho sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
Phải coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu
tư cho phát triển. Huy động toàn xã hội chăm lo, đóng góp cho sự nghiệp giáo
dục, động viên các tầng lớp nhân dân giúp sức xây dựng nền giáo dục quốc
dân dưới sự quản lý của Nhà nước. Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo ra những con người có kiến thức
1


1


Đến Đại hội IX, Trung ương Đảng một lần nữa nhấn mạnh rằng: “Nhà
nước có chính sách hỗ trợ đặc biệt những học sinh có năng khiếu, có hoàn
cảnh sống khó khăn được theo học ở các bậc học cao. Có quy hoạch và chính
sách tuyển chọn người giỏi đặc biệt chú ý tới con em công nhân và nông dân
để đào tạo ở các bậc đại học và sau đại học. Tăng ngân sách nhà nước cho
việc cử người đi học ở các nước có nền khoa học và công nghệ tiên tiến,
khuyến khích việc du học tự túc” [20, tr.87-88].
Đại hội Đảng lần thứ IX đã nêu rõ: “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường
lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện "chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội
hoá" [20, tr.29] nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục; tạo chuyển
biến cơ bản về chất lượng đội ngũ nhà giáo; thực hiện giáo dục toàn diện, đặc
biệt chú trọng giáo dục tư tưởng - chính trị, nhân cách, đạo đức, lối sống cho
người học.
Tăng cường giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình, phát huy vai trò
của giáo dục gia đình. Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục
theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, tăng cường giáo dục tư duy sáng tạo,
năng lực tự học, tự tu dưỡng, tự tạo việc làm. "Tăng cường giáo dục hướng
nghiệp, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của đất nước và các địa phương,
vùng miền. Nâng cao chất lượng giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân
văn nhất là các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh [20, tr.87].
Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách; phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng,
sử dụng nhân tài đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Sớm xây dựng chính sách sử dụng và tôn vinh các nhà giáo, cán bộ quản lý
giỏi, có công lao trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Nâng cao chất lượng
đào tạo sau đại học, chấn chỉnh việc phong chức danh, học vị, cấp phát văn
bằng. Phát triển quy mô giáo dục cả đại trà và mũi nhọn, trên cơ sở đảm bảo

Hội nghị TW 6 khoá IX đã đề ra ba nhiệm vụ để tiếp tục thực hiện Nghị
quyết TW 2 khóa VIII: Một là, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào
tạo nhân tài. Trong nhiệm vụ này, trọng tâm là đổi mới nội dung, chương trình,
phương pháp giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, ứng dụng công
1


nghệ thông tin vào các cấp học, bậc học. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế,
chính sách tổ chức; phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài. Hai là, phát
triển hợp lý quy mô giáo dục cả đại trà và mũi nhọn, phục vụ quá trình chuyển
đổi cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ, cơ cấu xã hội; vấn đề bổ túc tiểu học
cho người lớn và phát triển giáo dục không chính quy, xây dựng hệ thống trung
tâm học tập cộng đồng. Ba là, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo
cơ hội học tập cho mọi tầng lớp nhân dân nhất là cơ hội học cao đẳng và đại
học cho con em nông dân và các gia đình diện chính sách.
Nhìn lại tình hình đất nước, trải qua hơn 20 năm thực hiện đường lối
đổi mới, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử
sâu sắc. Tuy nhiên, cho đến nay nước ta vẫn chưa thoát khỏi tình trạng kém
phát triển.
Trong khi Việt Nam bước vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
thì nhiều nước đã vượt qua thời kỳ đại cách mạng công nghiệp đi vào thời đại
cách mạng công nghệ thông tin, xây dựng nền kinh tế tri thức và xã hội tri
thức. Khoảng cách về trình độ kinh tế, khoa học và công nghệ giữa nước ta
với các nước phát triển trên thế giới, kể cả một số nước trong khu vực có xu
hướng ngày càng rộng thêm mà một nguyên nhân quan trọng là do chất lượng
trí tuệ, năng lực sáng tạo và kỹ năng chuyên môn cũng còn nhiều bất cập của
nguồn nhân lực.
Trước những thách thức của thời đại cách mạng tri thức gắn với quá
trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, khi Việt Nam trở thành thành viên thứ
150 của tổ chức thương mại thế giới, trong cuộc đua tranh quyết liệt về mọi

thẩm định nghiêm túc, tránh sửa đi sửa lại, biên soạn kéo dài và thay đổi sách
triền miên. Một số nhà khoa học nêu ý kiến có thể giải quyết vấn đề chương
trình và sách giáo khoa chuẩn cho cả phổ thông và đại học trong một năm với
kinh phí 100 tỷ đồng. Những ý kiến như vậy nên được trao đổi, bàn bạc.
Ba là, cần nghiên cứu tổ chức hệ thống giáo dục quốc dân cho hợp lý.
Sớm chấm dứt tình trạng “vừa thừa vừa thiếu cả thầy lẫn thợ”. Nghiên cứu biện
pháp nâng cao chất lượng và thực hiện tốt viêc phân luồn ở cấp phổ thông. Phát
triển mạnh hệ thống các trường dạy nghề. Hết sức coi trọng phương châm học
gắn với hành. Tiếp tục chống gian lận trong thi cử, chạy theo thành tích giả,
sớm chấm dứt mọi hiện tượng tiêu cực trong ngành giáo dục.
1


Bốn là, cần triển khai tích cực công tác phát hiện, tuyển chọn nhân tài,
tổ chức đào tạo trong nước và ngoài nước để sớm có một đội ngũ cán bộ khoa
học có trình độ cao, bồi dưỡng thành đội ngũ giảng viên đại học đáp ứng yêu
cầu bảo đảm chất lượng của cấp đại học. Nâng cao chất lượng cấp đại học là
cơ sở để nâng cao chất lượng cấp trung học phổ thông và dạy nghề. Đào tạo
đội ngũ thầy giáo có trình độ quốc tế là vấn đề quyết định để đổi mới, hiện đại
hoá nền giáo dục nước nhà.
Năm là, cần tăng thích đáng đầu tư và quan trọng hơn, cần quản lý và
sử dụng có hiệu quả ngân sách đầu tư cho giáo dục và đào tạo. Mức đầu tư
phải tạo điều kiện cho giáo dục và đào tạo đi trước một bước, phục vụ đắc lực
cho phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Những năm gần đây mức đầu tư cho
giáo dục và đào tạo (tính theo % GDP và % ngân sách nhà nước) đã tăng đáng
kể. Tuy nhiên cần thấy rõ là mức đầu tư cho giáo dục và đào tạo tính theo đầu
người của nước ta còn rất thấp so với nhiều nước trong khu vực và trên thế
giới, vì vậy cần tính toán các mặt để có một mức tăng đáng kể nhằm tạo nên
một sự chuyển biến căn bản về chất lượng và quy mô giáo dục và đào tạo.
Đầu tư ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng nhưng chắc chắn

thực hiện không thu học phí đối với giáo dục phổ thông theo đúng tinh thần
của Hiến pháp. Còn với những cấp học hoặc hệ đào tạo ngoài công lập cũng
cần xem xét để triển khai có hiệu quả các chủ trương, chính sách về thu, chi
học phí trong nhà trường.
Mặt khác, cần nghiên cứu kỹ chế độ học phí theo hướng không tăng mà
giảm dần, tiến tới bỏ học phí ở cấp phổ thông rồi tiến đến bỏ học phí ở cấp đại
học. Nên nghiên cứu vận dụng cơ chế khuyến khích cạnh tranh dạy tốt, học
tốt nhưng không nên phát triển tư nhân hoá trường công, phát triển xu hướng
thương mại hoá giáo dục, coi nhà trường là tổ chức kinh doanh để thu lợi
nhuận dưới danh nghĩa “xã hội hoá giáo dục”, không đúng với tinh thần, chủ
trương của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng nền giáo dục của
nhân dân, vì nhân dân.
Đổi mới toàn diện, sâu sắc và triệt để, có tính cách mạng nền giáo dục
và đào tạo là một điều kiện tiên quyết để đưa nước ta tiến lên nhanh và vững
1


trên con đường hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế và sánh vai cùng các
quốc gia tiên tiến trên thế giới trong kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hoá.
1.2. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Thành phố Hải Dương
1.2.1. Đặc điểm tự nhiên của Thành phố Hải Dương
Hải Dương là tỉnh thuộc trung tâm đồng bằng Bắc bộ, thuộc địa bàn
trọng điểm kinh tế của các tỉnh phía Bắc với diện tích tự nhiên là 1660,9 km2,
được tách ra từ tỉnh Hải Hưng (gồm Hải Dương và Hưng Yên ngày nay) vào
ngày 1 tháng 1 năm 1997 với hàng loạt các đặc điểm riêng về tự nhiên.
Thành phố Hải Dương nằm ở trung tâm của tỉnh Hải Dương. Phía Bắc
giáp huyện Nam Sách; phía Đông giáp các huyện Kim Thành, Thanh Hà; phía
Tây giáp huyện Cẩm Giàng; phía Nam giáp huyện Gia Lộc, Tứ Kỳ.
Thành phố Hải Dương là một thành phố loại II với tổng dân số đến năm
2009 là 213.096 người, trong đó số dân thành thị chiếm 79,97%, với mật độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status