ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ THANH
ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO
SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2006
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ THANH
ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO
SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2006
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:
60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. TRIỆU QUANG TIẾN
dục và đào tạo ................................................................................. 69
3.1.2 Về quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ Vĩnh Phúc đối với sự
nghiệp giáo dục và đào tạo ............................................................. 70
3.1.3. Những thành tựu đạt được .............................................................. 73
3.1.4. Những hạn chế chính và nguyên nhân ............................................ 77
3.2. Những kinh nghiệm chủ yếu ...................................................................... 79
3.2.1. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp phát
triển giáo dục - đào tạo ................................................................... 79
3.2.2. Không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị và trình độ chuyên
môn của đội ngũ giáo viên .............................................................. 82
3.2.3. Tăng cường công tác quản lý giáo dục ............................................ 85
3.2.4. Tăng cường các nguồn lực, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho
giáo dục và đào tạo, thực hiện xã hội hoá giáo dục ......................... 87
KẾT LUẬN .................................................................................................... 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 93
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 98
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình xây dựng đất nước, cha ông ta đã xác định: Hiền tài là nguyên
khí của quốc gia. Tiếp nối truyền thống đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt
Nam, nhất là từ khi Cách mạng tháng Tám thành công đến nay, Đảng ta luôn quan
tâm đến sự nghiệp GD-ĐT, quan tâm đến chiến lược phát triển con người. Như lời
căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm
năm trồng người.
Qua hơn 20 năm đổi mới (1986- 2006), ngành GD-ĐT đã có nhiều cố gắng và đạt
được những thành tựu quan trọng. Nước ta đã đạt chuẩn quốc gia về xoá mù chữ và
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở những người làm công tác giáo
dục phải nhận thức đúng đắn: "Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng"..."Giáo dục
nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân
dân ta. Do đó, các ngành, các cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương phải thực sự
quan tâm hơn nữa đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự
nghiệp giáo dục của ta lên những bước phát triển mới".
Như vậy, sự nghiệp phát triển của giáo dục ở từng địa phương có liên quan trực
tiếp đến nền giáo dục chung của đất nước và có vai trò quyết định đến sự hưng
thịnh của một quốc gia.
Từ những vấn đề cấp thiết nêu trên, với góc độ nghiên cứu Lịch sử Đảng, làm rõ
việc triển khai thực hiện những chủ trương của Đảng ở một Đảng bộ địa phương (cụ
thể là của tỉnh Vĩnh Phúc) đối với sự nghiệp phát triển giáo dục là một việc làm có
ý nghĩa thiết thực.
Là một tỉnh có truyền thống hiếu học, đời sống kinh tế những năm gần đây
có nhiều khởi sắc, nhu cầu học tập của người dân không ngừng được tăng lên... Có
được những điều đó là do có sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các
đoàn thể chăm lo, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành giáo dục phát triển. Song chất
lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu, đội ngũ giáo viên còn thiếu và yếu, trang
thiết bị phục vụ cho học tập giảng dạy còn nhiều bất cập, hiện tượng tiêu cực trong
giáo dục vẫn còn… Đó là vấn đề lớn đặt ra cho Đảng bộ Vĩnh Phúc phải có hướng
lãnh đạo, giải quyết đối với vấn đề giáo dục của tỉnh.
Từ những vấn đề cấp thiết nêu trên, để góp phần tổng kết thực tiễn quá trình
phát triển giáo dục của tỉnh Vĩnh Phúc trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH dưới sự
lãnh đạo của Đảng bộ Vĩnh Phúc, tôi đã chọn đề tài: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh
đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo từ năm 1997 đến năm 2006 làm luận văn thạc sỹ
khoa học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Do tầm quan trọng của GD-ĐT nên thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên
cứu, tổng kết về GD-ĐT. Có thể nêu ra một số công trình chính như sau:
* Của các đồng chí lãnh đạo:
- Hà Văn Định: “Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên (tỉnh Vĩnh Phúc) lãnh đạo sự nghiệp
GD-ĐT (1986-2000)”.
Nhìn chung các công trình đều phản ánh một cách nghiêm túc thực trạng và đề
xuất nhiều kiến nghị, giải pháp đối với sự nghiệp GD-ĐT ở nước ta hiện nay. Tuy
nhiên để đi sâu vào giáo dục từng địa phương thì còn rất ít công trình đề cập. Đối
với tỉnh Vĩnh Phúc, vấn đề giáo dục chỉ được biết qua các báo cáo tổng kết năm
học, hoặc các bài viết ở các tập san của tỉnh… Hạn chế của các công trình này là sự
kiện, nhân chứng chưa nhiều, phân tích chưa sâu, chưa thấy được bước phát triển,
trưởng thành cũng như những mặt còn yếu kém, để từ đó tìm ra những giải pháp
khắc phục. Tuy nhiên, luận văn cũng có thể kế thừa những nhận định, đánh giá,
những nguồn tư liệu của các công trình, luận văn trên.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ Vĩnh Phúc để phát triển giáo dục - đào tạo ở
địa phương từ năm 1997-2006; bước đầu tổng kết một số kinh nghiệm lãnh đạo của
Đảng bộ.
* Nhiệm vụ:
- Luận văn trình bày một cách hệ thống đường lối, chủ trương của Đảng về giáo
dục - đào tạo;
3
- Phân tích quá trình vận dụng của Đảng bộ Vĩnh Phúc khi đề ra các chủ trương,
giải pháp thực hiện ở địa phương từ năm 1997 đến năm 2006.
- Đánh giá khách quan những thành tựu, hạn chế của giáo dục - đào tạo ở Vĩnh
Phúc.
- Trên cơ sở đó, luận văn tổng kết một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ
Vĩnh Phúc, làm cơ sở góp phần đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và phát triển giáo dục đào tạo.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn đã trình bày một cách hệ thống đường lối, chủ trương của Đảng về
giáo dục và đào tạo từ năm 1997 đến 2006.
- Làm rõ sự vận dụng sáng tạo của Đảng bộ Vĩnh Phúc trong quá trình lãnh đạo
phát triển giáo dục ở địa phương.
- Đánh giá khách quan thành tựu và hạn chế của sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở
Vĩnh Phúc từ năm 1997 đến năm 2006.
- Tổng kết một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ Vĩnh phúc về phát triển
giáo dục - đào tạo.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; nội dung
chính của luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo
những năm cuối thế kỷ XX (1997-2000).
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo phát triển giáo dục- đào tạo những
năm đầu thế kỷ XXI (2001 - 2006).
Chương 3: Nhận xét và những kinh nghiệm chủ yếu của quá trình Đảng bộ
tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo (1997 - 2006).
5
Chương 1
ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO
SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
NHỮNG NĂM CUỐI THẾ KỶ XX (1997 - 2000)
1.1. Tình hình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo trước 1997
Sau gần 10 năm tái lập tỉnh Vĩnh Phúc (1/1/1997 - 1/1/2006), thực hiện Nghị
quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, lần thứ XIII, lần thứ XIV và các nghị quyết
6
kỳ mới. Để tạo ra sự phát triển mạnh mẽ, đồng bộ trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo,
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996) đã đề ra mục
tiêu của giáo dục - đào tạo những năm 1996 - 2000 và phương hướng chiến lược
đến năm 2020. Chủ trương của Đảng mở rộng quy mô đào tạo, chú trọng việc nâng
cao hiệu quả và chất lượng giáo dục, gắn việc học với hành, đào tạo nhân tài gắn
liền với việc giáo dục đạo đức, thẩm mỹ và giáo dục thể chất. Đại hội nhấn mạnh
nhiệm vụ củng cố, phát triển ngành giáo dục ở những vùng dân tộc thiểu số và
những vùng đang gặp nhiều khó khăn. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật,chính sách của Nhà nước về giáo dục - đào tạo, tăng cường sự quản lý của Nhà
nước đối với các loại hình đào tạo. Mặt khác, Đại hội VIII đã coi trọng việc tổng kết
cải cách giáo dục, xây dựng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ
CNH, HĐH đất nước. Đảng ta nhấn mạnh sự cần thiết và tầm quan trọng của việc
giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức nhân văn,
lịch sử dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đẩy
mạnh giáo dục pháp luật, tăng cường giáo dục quốc phòng cho học sinh, sinh viên.
Văn kiện Đại hội VIII chỉ rõ, muốn CNH, HĐH thắng lợi phải phát triển mạnh
giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển
nhanh và bền vững…
Nghị quyết đã nêu ra 6 tư tưởng chỉ đạo phát triển giáo dục - đào tạo trong thời
kỳ CNH, HĐH.
Một là, giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong giáo dục và đào tạo.
Hai là, thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu.
Ba là, gáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của
toàn dân.
Bốn là, phát triển giáo dục - đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội,
những tiến bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh.
cấp bằng, mở lớp, tệ nghiện hút… Đây là chương trình trọng điểm, phải làm ngay
và trên thực tế các đơn vị đã làm có kết quả.
- Tăng cường cơ sở vật chất trường học. Đây là chương trình lớn, mang ý nghĩa
xã hội sâu sắc.
- Các chương trình khác như: Khảo sát, điều tra lập kế hoạch, đào tạo nguồn
nhân lực kỹ thuật, chương trình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, phổ cập THCS vào
năm 2000. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, đổi mới phương pháp dạy
học, chuyển đổi hệ thống trường Chuyên cấp 2, hệ thống lớp chọn thành các trường,
lớp phổ thông đang được Sở và cơ sở thực hiện.
Một số kết quả đạt được
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, sự phối hợp chặt chẽ của các cấp,
các ngành, các đoàn thể xã hội và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, sự nghiệp giáo
dục - đào tạo của Vĩnh Phúc đã đạt được kết quả trên các lĩnh vực sau:
Về quy mô và chất lượng đào tạo các ngành học, bậc học.
Kết quả của quá trình hoạt động là chất lượng giáo dục được tăng lên rõ rệt thể
hiện ở các ngành, bậc học sau:
Ngành học mầm non:
Giáo dục phổ thông.
Bậc trung học phổ thông (THCS và THPT):
Công tác giáo dục thường xuyên:
Về giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề:
Công tác xây dựng cơ sở vật chất:
8
Công tác xã hội hóa giáo dục:
Tuy nhiên giáo dục và đào tạo Vĩnh Phúc cũng còn bộc lộ những yếu kém và bất
cập:
Giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục thường xuyên còn hạn chế cả về quy mô lẫn
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (4-2006) đã quyết định mục tiêu và phương
hướng tổng quát đến năm 2010 là đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với phát triển kinh tế tri thức, sớm đưa nước ta
ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ Vĩnh Phúc về phát triển giáo dục - đào tạo
(2001 - 2006)
Ngày 29-7-2002, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ra Nghị quyết số 04/NQ/TU, Về phát triển
giáo dục - đào tạo thời kỳ 2001 - 2005. Đánh giá việc thực hiện Nghị quyết Trung
ương 2 (khóa VIII) về phát triển giáo dục - đào tạo, Nghị quyết Tỉnh ủy nhận định:
"Đề án 01 của tỉnh ủy đã xác định đúng hướng mục tiêu, giải pháp phát triển giáo
dục - đào tạo và phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh, trở thành động lực thúc đẩy
phát triển giáo dục - đào tạo; đồng thời tạo niềm tin trong Đảng bộ và nhân dân, sự
đồng tình ủng hộ của các tầng lớp nhân dân và toàn xã hội đối với sự nghiệp giáo
dục - đào tạo. Về cơ bản, giáo dục Vĩnh Phúc đã có bước phát triển mới, toàn diện
trên tất cả các mặt, thực hiện được phần lớn các mục tiêu của Đề án 01, tạo các tiền
đề quan trọng để có bước đi nhanh chóng hơn trong tương lai. Tuy vậy, so với yêu
cầu trong giai đoạn mới công tác giáo dục - đào tạo vẫn còn những yếu kém, bất
cập, nhiệm vụ đặt ra là phải tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội vì
10
sự nghiệp phát triển giáo dục, tạo sự tăng trưởng nhanh chóng, đáp ứng những yêu
cầu cao của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa".
Nghị quyết 04/NQ/TU cũng đề ra chỉ tiêu cụ thể cho từng ngành học, cấp học:
Đối với giáo dục mầm non:
Giáo dục phổ thông:
Bậc Tiểu học:
Bậc học trung học:
11
Thứ tư: Tiếp tục hoàn chỉnh cơ cấu các loại hình GD-ĐT, phát triển quy mô của
các cấp học, ngành học; nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập
THCS và chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện phổ cập giáo dục trung học.
Thứ năm: Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, tăng cường khai thác và thu
hút mọi nguồn lực đầu tư phát triển GD-ĐT, xây dựng xã hội học tập.
Thứ sáu: Đổi mới mạnh mẽ quản lý Nhà nước về giáo dục.
2.2.2. Những kết quả đạt được
Được sự chỉ đạo trực tiếp, sâu sát của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; được sự
quan tâm giúp đỡ của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, của các sở, ban,
ngành, đoàn thể và các lực lượng xã hội, trong những năm học từ 2001-2006, toàn
ngành giáo dục Vĩnh Phúc đã nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn hoàn thành tốt
các nhiệm vụ chính trị của ngành với những kết quả nổi bật sau:
1. Thực hiện có hiệu quả đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục
ở tất cả các cấp học, ngành học; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và hiệu
quả giáo dục.
2. Tiếp tục hoàn thiện, củng cố mạng lưới cơ sở giáo dục và thực hiện các chỉ
tiêu về phát triển quy mô các cấp học. Đẩy mạnh xây dựng trường chuẩn quốc gia,
trường chất lượng cao.
3. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục được đào tạo, bồi dưỡng thường
xuyên nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.
4. Cơ sở vật chất trường học tiếp tục được quan tâm xây dựng theo hướng kiên
cố hoá, chuẩn hoá, hiện đại hoá phục vụ nhu cầu nâng cao chất lượng giáo dục.
5. Công tác xã hội hoá giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh đã thu hút nhiều nguồn
lực đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo, xây dựng xã hội học tập.
6. Công tác quản lý giáo dục tiếp tục được đổi mới, năng lực, trách nhiệm của
cán bộ quản lý giáo dục các cấp được nâng cao; công tác thanh tra giáo dục được
đẩy mạnh; cuộc vận động “Dân chủ - Kỷ cương - Tình thương - Trách nhiệm” thực
nghiệp giáo dục và đào tạo
Quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ Vĩnh Phúc đối với công tác GD-ĐT
trong toàn ngành đã tạo được chuyển biến rõ nét về chất lượng, hiệu quả giáo dục, về
phát triển quy mô giáo dục và thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục. Một số chỉ
tiêu, kế hoạch, nhiệm vụ đề ra trong từng năm học đã được thực hiện và đạt kết quả.
Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục, nhiều giải pháp về quản lý, tổ chức giáo
dục đã được nghiên cứu bổ sung cho phù hợp với tình hình, đặc điểm giáo dục trong
hoàn cảnh mới. Đặc biệt sau khi có Đề án 01/ĐA-TU “Về nhiệm vụ phát triển giáo
dục và đào tạo đến năm 2000”. HĐND, UBND tỉnh đã có các nghị quyết, quyết định
quan trọng về cơ chế chính sách nhằm tạo thêm động lực để giáo dục Vĩnh Phúc phát
triển.
3.1.3. Những thành tựu đạt được
13
Từ khi tái lập tỉnh, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ Vĩnh Phúc, ngành
GD-ĐT đã chủ động tham mưu với HĐND, UBND tỉnh ban hành các quy định, quy
chế, chính sách nhằm tạo cơ sở pháp lý cho GD-ĐT có điều kiện phát triển, đạt
được những thành tựu cơ bản sau:
Hệ thống giáo dục của tỉnh từng bước được hoàn thiện, mạng lưới quy mô phát
triển đáp ứng nhu cầu học tập của mọi tầng lớp nhân dân.
Các điều kiện phục vụ dạy, học không ngừng được tăng cường
Đội ngũ giáo viên:
Cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục
Chất lượng giáo dục:
a) Chất lượng giáo dục đạo đức:
b) Chất lượng dạy học:
Các hoạt động giáo dục khác:
3.1.4. Những hạn chế chính và nguyên nhân
gia.
- Mặc dù tỉnh đã quan tâm đến phát triển lĩnh vực giáo dục đào tạo, nhưng mức
đầu tư và chi ngân sách cho GD-ĐT mới đáp ứng yêu cầu tối thiểu.
Những hạn chế trên bắt nguồn từ những nguyên nhân chính sau:
Một là: Nhận thức và sự quan tâm của cấp uỷ Đảng, chính quyền về giáo dục
đào tạo ở một số địa phương chưa thật sự đầy đủ, thường xuyên, chưa chú ý lãnh
đạo công tác chính trị tư tưởng trong giáo viên, học sinh.
Hai là: Cơ chế quản lý của hệ thống giáo dục nói chung còn chậm đổi mới. Một
số giáo viên, cán bộ quản lý còn yếu về trình độ và năng lực tổ chức thực hiện.
Ba là: Quản lý Nhà nước về giáo dục còn nhiều yếu kém. Việc phân cấp quản lý
trong hệ thống giáo dục chưa hoàn thiện, có mặt chưa phù hợp với thực tiễn, gây
khó khăn trong hoạt động của ngành.
Bốn là: Đầu tư cho giáo dục trong những năm qua tuy lớn nhưng vẫn chưa
tương xứng vớí yêu cầu phát triển, dẫn đến mâu thuẫn giữa phát triển nhanh về số
lượng và yêu cầu cao của chất lượng trong khi các điều kiện đảm bảo còn nhiều bất
cập. Việc khuyến khích các nguồn lực đầu tư từ các tổ chức xã hội, các doanh
nghiệp, tài trợ quốc tế và đóng góp của nhân dân chưa có giải pháp thu hút có hiệu
quả.
3.2. Những kinh nghiệm chủ yếu
Quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo công tác GD-ĐT trong giai đoạn từ
năm 1997 đến 2006 đã để lại một số kinh nghiệm có ý nghĩa tham khảo trong giai
đoạn cách mạng mới như sau:
3.2.1. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp phát triển giáo
dục - đào tạo
Trong những năm gần đây, nhiều Nghị quyết của Đảng như NQTƯ-4, khoá VII;
NQTƯ-2, khoá VIII đặc biệt nhấn mạnh đến sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là
nhân tố quan trọng, quyết định sự phát triển của sự nghiệp GD-ĐT nước nhà. Điều
đó đã được thể hiện khá cụ thể ở tỉnh Vĩnh Phúc.
Những chủ trương của Đảng bộ Vĩnh Phúc trong thời gian qua đã phản ánh được
tâm tư, nguyện vọng, tâm lý của nhân dân địa phương, cũng như đã cập nhật được
3.2.3. Tăng cường công tác quản lý giáo dục
Với phương châm đổi mới về cơ bản tư duy và phương thức quản lý giáo dục
theo hướng nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước, phân cấp mạnh mẽ nhằm phát huy
tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của các địa phương, của các cơ sở giáo dục,
giải quyết một cách có hiệu quả các vấn đề bức xúc, ngăn chặn và đẩy lùi các hiện
tượng tiêu cực hiện nay. Ngay từ khi tách tỉnh, Vĩnh Phúc đã tăng cường công tác
đổi mới quản lý giáo dục nhằm đem lại hiệu quả thiết thực nhất.
Sở GD-ĐT tiếp tục thực hiện đổi mới công tác quản lý giáo dục, thực hiện phân
cấp quản lý giáo dục nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, tạo điều kiện tốt
hơn để cán bộ quản lý các cấp phát huy tính năng động tự chủ, tự chịu trách nhiệm
trong tổ chức các hoạt động giáo dục toàn diện của đơn vị, nhà trường.
3.2.4. Tăng cường các nguồn lực, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho giáo
dục và đào tạo, thực hiện xã hội hoá giáo dục
Đảng ta xác định, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển, giáo dục là
quốc sách hàng đầu. Với phương châm đó, Đảng bộ tỉnh Vĩnh phúc đã đặc biệt chú
trọng đến việc đầu tư, thu hút các nguồn lực cho sự phát triển sự nghiệp giáo dục và
đào tạo.
16
Để đầu tư cho GD-ĐT, ngân sách chủ yếu là từ Nhà nước. Bên cạnh đó, phải
huy động mọi nguồn lực trong xã hội, đổi mới cơ chế quản lý tài chính để phát triển
giáo dục. Nhà nước phải ưu tiên đầu tư cho giáo dục trong tương quan với các
ngành khác. Nâng tỷ lệ chi cho giáo dục trong ngân sách Nhà nước từ 15% năm
2000 lên ít nhất 18% năm 2005 và 20% năm 2010; tranh thủ nguồn tài chính vay
với lãi suất ưu đãi cho giáo dục từ Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển
Châu Á (ADB), các tổ chức quốc tế và các nước.
Với chủ trương đó, lãnh đạo ngành giáo dục Vĩnh Phúc đã tập trung khai thác và
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội để phát triển GD-ĐT. Hàng năm tỉnh đều
phương pháp giáo dục; đảm bảo phát triển đồng đều và bình đẳng giữa các vùng,
miền trong tỉnh.
Từ việc làm rõ tư tưởng chỉ đạo của Đảng bộ Vĩnh Phúc về phát triển giáo dục
và đào tạo qua các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, đề án cùng một số kết quả đạt
được, đã khẳng định thành công bước đầu trong việc chỉ đạo phát triển giáo dục và
đào tạo của Đảng bộ Vĩnh Phúc.
2. Trong giai đoạn thứ hai, từ năm 2001 đến năm 2006, luận văn đã trình bày
khá cụ thể chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam về giáo dục và đào tạo trong
thời kỳ đổi mới với nhiều thuận lợi cũng như đầy thách thức, để từ đó thấy được
trách nhiệm nặng nề của toàn Đảng, toàn dân đối với sự nghiệp trồng người. Từ đó
đặt ra yêu cầu cần phải đổi mới, chấn chỉnh, hoàn thiện hệ thống giáo dục - đào tạo
Vĩnh Phúc cho phù hợp với tình hình mới.
Để đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp giáo dục và đào tạo, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
đã đưa ra quan điểm cụ thể: Nỗ lực phấn đấu làm cho giáo dục thực sự là quốc sách
hàng đầu; tạo bước chuyển biến mạnh mẽ đối với giáo dục đào tạo của tỉnh theo
18
hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện, đại trà ở tất cả các ngành học, bậc học theo hướng tiếp cận với trình độ tiên
tiến, phục vụ thiết thực cho phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnh, đáp ứng
yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; hướng tới một xã hội
học tập; phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ
sở; thực hiện tốt việc phân luồng sau THCS và THPT.
Với quan điểm trên, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã lãnh đạo, chỉ đạo công tác phát
triển giáo dục và đào tạo, trong đó chú trọng: Thực hiện có hiệu quả đổi mới
chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục ở tất cả các cấp học, ngành học; nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện và hiệu quả. Xây dựng và nâng cao chất lượng
đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Tăng cường cơ sở vật chất trường học