Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo chiến tranh du kích chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954 - Pdf 26



Đại học quốc gia Hà Nội
Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
*************

Nguyễn văn Dũng
Đảng bộ tỉnh vĩnh phúc lãnh đạo chiến tranh du kích
chống thực dân Pháp xâm lược
(1946 - 1954)

Luận văn thạc sĩ sử học
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số : 5. 03. 16

Luận văn thạc sĩ sử học Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Ngô Đăng Tri

Hà Nội - 2005 1
MỤC LỤC
Mở đầu 2

Phụ lục 2 126
Phụ lục 3 127
I. Tỉnh Vĩnh Yên 127
II. Tỉnh Phúc Yên 127
III. Tỉnh Vĩnh Phúc 127 1
Mở đầu

1.Ýý nghĩa của đề tài
Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
chiến tranh nhân dân và kế thừa truyền thống chống giặc ngoại xâm của tổ tiên,
trong cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược (1946 – 1954),
Đảng ta đã phát động, lãnh đạo một cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn, huy
động được sức mạnh của toàn dân đánh giặc với lực lượng vũ trang 3 thứ quân,
hình thức tác chiến linh hoạt, sáng tạo đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.
Trong cuộc chiến tranh đó, bên cạnh tác chiến chính quy của bộ đội chủ lực thì
lực lượng vũ trang địa phương bao gồm bộ đội địa phương, dân quân du kích, tự
vệ, với hình thức tác chiến du kích cũng đóng một vài trò hết sức quan trọng.
Chiến tranh du kích với nhiệm vụ tiêu hao và tiêu diệt một bộ phận quân địch,
phân tán lực lượng, phá thế kìm kẹp của chúng, đánh đổ chính quyền địch ở cơ
sở, làm rối loạn thế chiến lược của chúng, bảo vệ và rèn luyện quần chúng cách
mạng, có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho chiến tranh chính quy và đấu tranh
chính trị phát triển.
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Đảng ta vẫn luôn xác định phải huy
động sức mạnh của toàn dân, sức mạnh của từng địa phương để xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Vì vậy, nghiên cứu về cuộc chiến tranh nhân dân nói chung, về một đảng bộ
thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, lãnh đạo nhân dân ở địa phương

đề tài "Đảng bộ Vĩnh Phúc lãnh đạo chiến tranh du kích chống thực dân
Pháp xâm lược (1946 - 1954)" cho luận văn thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch
sử Đảng Cộng sản Việt Nam, của mình.

3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về chiến tranh du kích của
các học giả trong và ngoài nước, trong và ngoài quân đội. ở trong nước, có thể
tổng hợp các công trình nghiên cứu và tác phẩm có liên quan đến vấn đề này
thành những nhóm cơ bản sau:
Nhóm thứ nhất, là những công trình tổng kết mang tính chất lý luận về cuộc
chiến tranh nhân dân nói chung và chiến tranh du kích nói riêng. Tiêu biểu như:
Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thắng lợi và bài học do Ban
chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị tiến hành (Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1996); Sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân Việt Nam
trong thời đại mới của Võ Nguyên Giáp (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975); Dân quân
tự vệ một lực lượng chiến lược của Võ Nguyên Giáp (Nxb Sự thật, Hà Nội,
1974); Vị trí chiến lược của chiến tranh nhân dân ở địa phương và của các lực
lượng vũ trang địa phương của Võ Nguyên Giáp (Nxb Quân đội nhân dân, Hà
Nội, 1972)…Những tác phẩm này chủ yếu đi vào tổng kết mang tính chất lý
luận về cuộc chiến tranh nhân dân nói chung và chiến tranh du kích nói riêng mà
chưa đi sâu nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với chiến tranh du kích.
Tỉnh đội Vĩnh Phúc năm 1963 đã xuất bản cuốn Tổng kết chiến tranh du kích
Vĩnh Phúc trong kháng chiến chống thực dân Pháp , tuy đã có một số kết luận
về cuộc chiến tranh du kích của nhân dân Vĩnh Phúc trong cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp, nhưng do không đi sâu về sự lãnh đạo của Đảng bộ đối
với cuộc chiến tranh du kích trên địa bàn tỉnh, nên công trình này chưa rút ra
những kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ Vĩnh Phúc đối với cuộc chiến
tranh du kích ở địa phương.
Nhóm thứ hai, là những công trình nghiên cứu về vấn đề có liên quan tới


5
một cách toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh chứ không đi sâu nghiên
cứu về cuộc chiến tranh du kích.
Như vậy, cho đến nay, đã có khá nhiều công trình, tác phẩm đề cập đến
chiến tranh du kích nói chung và chiến tranh du kích của quân dân Vĩnh Phúc
trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 - 1954) nói riêng,
nhưng vẫn còn một số vấn đề chưa được làm rõ như:
- Sự lãnh đạo của Đảng bộ Vĩnh Phúc đã lãnh đạo nhân dân xây dựng lực
lượng, tiến hành chiến tranh du kích trên địa bàn tỉnh.
- Vai trò của chiến tranh du kích trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong việc cản
bước tiến công của thực dân Pháp lên căn cứ địa Việt Bắc, cũng như sự phối hợp
của Vĩnh Phúc với các chiến trường khác.
- Những hạn chế trong lãnh đạo xây dựng lực lượng, và tiến hành chiến
tranh du kích của Đảng bộ Vĩnh Phúc.
- Đặc điểm và một số kinh nghiệm về lãnh đạo chiến tranh du kích của Đảng
bộ Vĩnh Phúc.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ những kết quả nghiên cứu nói trên và theo yêu cầu nhiệm vụ đề tài, luận
văn có nhiệm vụ là:
- Làm rõ sự lãnh đạo xây dựng lực lượng và tiến hành chiến tranh du kích
trên địa bàn tỉnh của Đảng bộ Vĩnh Phúc thời kỳ 1946 - 1954 trên cơ sở quán
triệt, thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng, Liên khu uỷ Việt Bắc.
- Nhận xét những ưu điểm và những mặt còn hạn chế trong lãnh đạo chỉ đạo
xây dựng lực lượng, tổ chức chiến tranh du kích chống thực dân Pháp của Đảng
bộ Vĩnh Phúc.
- Nêu lên một số đặc điểm và rút ra các kinh nghiệm trong lãnh đạo của
Đảng bộ Vĩnh Phúc đối với việc xây dựng lực lượng và tổ chức chiến tranh du
kích chống thực dân Pháp thời kỳ 1946 – 1954 để góp phần phục vụ nhiệm vụ


- Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, tập 1 (1928 - 1968), Lịch sử đảng bộ các
huyện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc thời kỳ 1946 – 1954; Lịch sử Đảng bộ tỉnh
Vĩnh Phú, tập 1 (1930 - 1945) do Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ biên soạn và xuất bản
năm 1985; Lịch sử đảng bộ các xã trên địa bàn tỉnh, đặc biệt những xã nằm
trong vùng tạm chiếm; Các tổng kết về chiến tranh du kích và các sách lịch sử
kháng chiến chống thực dân Pháp của Tỉnh đội Vĩnh Phúc, Ban Tuyên giáo Tỉnh
uỷ Vĩnh Phúc.
- Những nhân chứng lịch sử hiện đang còn sống. Nguồn tư liệu này chủ yếu
để tham khảo, đối chiếu nhằm củng cố thêm nguồn tư liệu thành văn.
Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và trình bầy luận văn, tác giả đã vận dụng hai
phương pháp chủ đạo là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc. Ngoài ra,
còn sử dụng phương pháp thống kê, phân loại, so sánh và một số phương pháp
khác trong quá trình thực hiện đề tài.
6. Đóng góp của luận văn
Thực hiện đề tài này, luận văn có thể có các đóng góp như sau:
- Trình bày có hệ thống về sự lãnh đạo chiến tranh du kích chống thực dân
Pháp xâm lược (1946 - 1954) của Đảng bộ Vĩnh Phúc bằng những nguồn tư liệu
phong phú, đáng tin cậy.
- Nêu lên một số đặc điểm, ưu điểm và hạn chế của Đảng bộ Vĩnh Phúc
trong việc lãnh đạo chiến tranh du kích chống thực dân Pháp xâm lược (1946 –
1954). Qua đó, rút ra được các kinh nghiệm góp phần vào việc xây dựng và bảo
vệ địa bàn ở các địa phương trong toàn quốc nói chung và Vĩnh Phúc nói riêng
hiện nay.
- Tập hợp, hệ thống hoá các tư liệu để dùng cho việc nghiên cứu, giảng dạy,
học tập lịch sử truyền thống địa phương ở Vĩnh Phúc.
7. Kết cấu của luận văn

8
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn

nhập vào tỉnh Phù Lỗ (1901). Từ 1901, tỉnh Vĩnh Yên còn lại một phủ là Vĩnh
Tường và 4 huyện là Yên Lạc, Bình Xuyên, Tam Dương, Lập Thạch.
Còn đối với tỉnh Phúc Yên, ngày 6/10/1901, Toàn quyền Đông Dương ra
Nghị định thành lập tỉnh Phù Lỗ. Địa bàn tỉnh Phù Lỗ bao gồm 3 huyện cắt từ
tỉnh Bắc Ninh sang là phủ Đa Phúc, huyện Kim Anh và huyện Đông Khê (năm
1903 huyện Đông Khê đổi tên là huyện Đông Anh); phủ Yên Lãng cắt từ tỉnh
Vĩnh Yên sang. Tỉnh lị đặt tại làng Phù Lỗ huyện Kim Anh nên tỉnh có tên gọi
là Phù Lỗ.
Ngày 18/2/1904, tỉnh lị rời lên làng Tháp Miếu thuộc tổng Bạch Trữ phủ
Yên Lãng và từ đó tên của tỉnh là Phúc Yên.
Tháng 3/1913, chính quyền thực dân đưa tỉnh Phúc Yên xuống cấp đại lý, lệ
thuộc vào tỉnh Vĩnh Yên. Hai năm sau, tháng 12/1915, chúng xoá bỏ cấp đại lý,
lập lại tỉnh Phúc Yên gồm hai phủ là Đa Phúc, Yên Lãng và hai huyện là Kim
Anh, Đông Anh, đây là tỉnh nhỏ nhất xứ Bắc Kỳ.
Sau cách mạng tháng Tám, thực hiện chủ trương của Chính phủ, các tỉnh
đều bỏ cấp tổng, các làng xã nhỏ hợp nhất thành xã lớn và bỏ tên phủ, gọi chung
là huyện. Tháng 2/1950, hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên hợp nhất thành một tỉnh
lấy tên là tỉnh Vĩnh Phúc. Đến tháng 2/1968, hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ đã
hợp nhất thành tỉnh Vĩnh Phú.
Tháng 10/1977, các huyện trong tỉnh đều hợp nhất thành huyện lớn. Trên
phạm vi tỉnh Vĩnh Phúc cũ, hai huyện Đa Phúc và Kim Anh hợp nhất thành
huyện Sóc Sơn; huyện Vĩnh Tường và Yên Lạc hợp nhất thành huyện Vĩnh Lạc;
hai huyện Tam Dương, Lập Thạch hợp nhất thành huyện Tam Đảo; hai huyện
Yên Lãng, Bình Xuyên hợp nhất thành huyện Mê Linh trong đó có thị trấn Phúc
Yên.

10
Tháng 3/1979, toàn bộ tỉnh Phúc Yên cũ gồm hai huyện Sóc Sơn và Mê
Linh chuyển về thành phố Hà Nội. Tháng 10/1991, huyện Mê Linh lại tách về
Vĩnh Phú.

km, diện tích chung chừng 452 km
2
ngăn cách vùng rừng núi phía bắc với vùng
đồng bằng phía nam. Đặc điểm của nó hầu hết là đồi núi trọc, ở giữa có các đỉnh
núi cao, phía nam thấp dần thành một dộ thoai thoải, đất pha lẫn đá sỏi, cấu trúc
công sự hoặc nguỵ trang khó khăn. Trên các mỏm đồi cao đều có một tầm kiểm
soát được xa và rộng, có nhiều điều kiện tốt phát huy được hiệu lực của vũ khí
kỹ thuật. Vì vậy trong kháng chiến, địch đã chiếm dải đồi trọc này thiết lập
thành tuyến phòng ngự vững chắc ngăn cách vùng tự do với vùng địch hậu [89,
8].
Trên địa bàn tỉnh có 2 đường quốc lộ chạy qua. Quốc lộ 2 (Hà Nội - Hà
Giang) chạy qua Vĩnh Phúc hơn 50 km. Đường này chạy song song với đường
sắt Hà Nội - Lào Cai qua Vĩnh Phúc dài hơn 40 km. Quốc lộ số 3 (Hà Nội đi
Cao Bằng) qua Vĩnh Phúc dài 16 km. Đường này chạy song song với đường sắt
Hà Nội - Thái Nguyên qua Vĩnh Phúc dài 16 km. Ngoài ra còn có các tỉnh lộ
như: đường 12, 129,23, 40, 35, 131, [12, 23]
Phí nam và tây nam còn có hai con sông lớn là sông Hồng (trên địa phận
tỉnh dài 57 km), sông Lô (dài 37 km), một phần sông Đuống bao bọc. Ngoài ra
còn có các sông nhỏ như sông Cầu (dài 24 km), sông Phó Đáy (dài 38 km), sông
Cà Lồ (dài 28 km). Riêng sông Hồng và sông Lô, các mùa đều có thể lưu thông
rất thuận tiện. Còn các sông khác, chỉ có thể vận chuyển vào mùa nước, nhưng
khúc khuỷu, nước chảy xiết, mùa khô có chỗ lại cạn, thuyền bè không qua lại
được. Riêng sông Đáy, từ Tuyên Quang chảy qua huyện Lập Thạch, bắc huyện
Vĩnh Tường, ra Việt trì, cắt đôi huyện Tam Dương, Vĩnh Tường, Lập Thạch. Do
vậy cũng tạo thêm cho xăn cứ huyện Lập Thạch có thế vững chắc.
Sông Cà Lồ từ cống Lồ (Yên Lạc) chạy qua tây Yên Lãng, nam Kim Anh ra
sông Cầu, cho nên đã chia cắt địa hình giữa nam Bình Xuyên với tây Yên Lãng;

12
giữa nam Kim Anh với tây Đông Anh. Mùa nước, gây nên khó khăn trong khi

một vị trí chiến lược quan trọng, là cầu nối giữa đồng bằng Bắc bộ với căn cứ
địa Việt Bắc. Vì vậy, trong kháng chiến, Vĩnh Phúc là địa bàn giành giật rất
quyết liệt giữa ta và địch, là nơi phải đương đầu với nhiều trận càn quét ác liệt
của thực dân Pháp nhằm củng cố và mở rộng vùng chiếm đóng.
Dân số của Vĩnh Phúc tính đến 1950 khoảng 47 vạn người, bao gồm 14 dân
tộc anh em, đông nhất là người Kinh (chiếm 98,4%). Đồng bào các dân tộc thiểu
số sống rải rác ở 17 xã dọc dãy Tam Đảo, Sáng Sơn của 5 huyện Tam Dương,
Bình Xuyên, Lập Thạch, Kim Anh và Đa Phúc. Đại bộ phận nhân dân theo đạo
Phật, có gần 2 vạn người theo đạo Thiên Chúa sống rải rác ở 72 xã, 2 thị xã,
trong đó có 26 thôn công giáo toàn tòng [12, 19].
Nhân dân Vĩnh Phúc chủ yếu sống bằng nghề làm ruộng. Ngay từ thời đế
quốc Pháp cai trị, toàn tỉnh không có một cơ sở công nghiệp nào. Ngoài khu nhà
máy hoả xa Đông Anh với vài trăm công nhân chuyên sửa chữa các bộ phận của
đầu máy xe lửa, nhưng không trực thuộc vào tỉnh Phúc Yên lúc đó mà là một bộ
phận của nhà máy hoả xa Gia Lâm.
Thủ công nghiệp cũng có một số cơ sở nhưng không tập trung vào một khu
vực nào mà rải rác ở một số huyện như: ép dầu ở Yên Lạc; 7 xưởng làm giấy ở
Vĩnh Tường, Lập Thạch; một số lò kéo mật làm đường ở Yên Lạc, Bình Xuyên,
Vĩnh Tường; đúc lưỡi cày, cang chĩnh, nồi đất ở Bình Xuyên, Tam Dương; một
số khung cửi dệt vỉa ở Yên Lạc, Vĩnh Tường và một số nghề phụ như: làm nón,
áo tơi, đan lát rải rác ở một số nơi. Nhưng dưới ách thống trị của đế quốc Pháp,
thuế má nặng nề, nguyên liệu thiếu thốn, nên những nghề đó không được phát
triển.

14
Như vậy, nông nghiệp ở Vĩnh Phúc đã giữ một địa vị chủ yếu nhất. Với diện
tích toàn tỉnh là 1.792 km2 bao gồm có 246.000 mẫu ruộng, 99.130 mẫu rừng
cây, 133.242 mẫu đồi trọc, 18.445 mẫu thổ cư và 11.759 mẫu hồ ao (mẫu Bắc
Bộ). Số đất còn lại là sông ngòi, đường giao thông, bãi hoang, đền chùa (theo số
liệu thông kê năm 1958). Nếu tính ruộng cày cấy và trồng trọt được, bình quân

Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống dưới triều Lý, nhân dân
vùng Kim Anh, Đa Phúc đã tích cực tham gia xây thành, đắp luỹ, tạo nên tuyến
phòng ngự chạy dài từ sườn đông bắc dãy Tam Đảo đến sườn tây nam dãy núi
Nham Biên (Bắc Ninh), góp phần cùng quân dân cả nước giành thắng lợi.
Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thế kỷ XIII, nhân dân Vĩnh
Phúc đã tham gia nghĩa quân, chiến đấu kiên cường cùng quân đội nhà Trần ở
Bình Lệ Nguyên (Tam Canh - Bình Xuyên), ở cầu Phù Lỗ thu thắng lợi ròn rã.
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, trên đất Vĩnh Phúc từ 1885 đến 1893,
hưởng ứng phong trào Cần Vương, các văn thân, thổ hào trong tỉnh đã dấy binh
nổi lên chống bọn thực dân được nhân dân các phủ huyện tham gia đông đảo.
Các vùng đất thuộc Lập Thạch, Tam Dương, Vĩnh Tường, nhất là vùng ven Tam
Đảo trở thành căn cứ của nhiều tướng lĩnh như Đốc Khoát, Đốc Giang, Đốc
Huỳnh, Đốc Thành. ở vùng Kim Anh, Đa Phúc có nghĩa quân của Đốc Két,
Tuần Bốn, Lãnh Giang hoạt động. Sau đó, nhân dân còn tích cực tham gia
nghĩa quân của Đề Thám từ vùng Yên Thế chuyển về Tam Đảo [42, 17].
Cuộc binh biến Thái Nguyên do Đội Cấn (tức Trịnh văn Cấn - người làng
Vũ Di huyện Vĩnh Tường) chỉ huy, sau bị đàn áp ông đã đưa nghĩa binh về hoạt
động vùng rừng núi Tam Đảo và nhiều nơi khác như Liễn Sơn, Đạo Trù, Hoàng
Xá Hạ, Thường Lệ, Cổ Bài, Đa Phúc
Vào những năm 1927 - 1930, nhiều người dân Vĩnh Phúc đã tham gia tổ
chức quốc Dân Đảng, một tổ chức theo xu hướng quốc gia tư sản tiến bộ yêu

16
nước do Nguyễn Thái Học (người làng Thổ Tang - Vĩnh Tường) khởi xướng và
lãnh đạo [42, 18].
Từ khi ra đời (2/1930) đến năm 1939, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát
động và lãnh đạo được hai cao trào rộng lớn trong cả nước là cao trào 1931 –
1931 và cao trào Dân chủ 1936 – 1939. Vĩnh Yên, Phúc Yên tuy chưa có Đảng
bộ, nhưng các đảng viên và các chi bộ đảng ra đời vào thời kỳ này đã lãnh đạo
nhân dân trong tỉnh đấu tranh theo chủ trương của Trung ương Đảng đề ra. Đến

và đế quốc bên ngoài.
Cũng như cả nước, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Vĩnh Yên, Phúc Yên
đứng trước những thử thách nghiêm trọng. Nạn đói làm chết hàng vạn người còn
tiếp tục đe doạ. Nạn đê vỡ, ngập lụt gây thiệt hại lớn đến của cải và mùa màng
của nhân dân chưa được ngăn chặn. Nông nghiệp tiêu điều, thủ công nghiệp
đình đốn. Bộ máy chính quyền còn trứng nước. Cán bộ còn thiếu kinh nghiệm
trong việc quản lý kinh tế - xã hội
Trên những vị trí quan trọng của tỉnh như thị xã Vĩnh Yên và Phúc Yên, hơn
một vạn quân Tưởng kéo vào chiếm đóng. Chúng liên tiếp gây ra những hoạt
động nhằm làm rối loạn tình hình an ninh xã hội như: khiêu khích, cướp bóc,
thậm chí có hành động cướp vũ khí của tự vệ (ở thị xã Vĩnh Yên), bao vây uy
hiếp cơ quan chính quyền (huyện lị Bình Xuyên); giúp đỡ bọn Việt Quốc, Việt
Cách chiếm đóng, lập chính quyền phản quốc ở thị xã Vĩnh Yên. Bọn tay sai của
Tưởng lập ra các tổ chức phản động như Mặt trận quốc gia, Việt Nam thanh niên
đoàn, Quốc dân binh, rồi bắt cóc, tống tiền, cướp bóc của dân chúng. Tháng
10/1945, chúng đem quân đánh chiếm thị trấn Bạch Hạc và các làng Bồ Sao,
Diệm Xuân, nhằm từng bước biến Vĩnh Yên thành "Đệ tam, đệ nhất chiến khu",
chống đối ta lâu dài [42, 48].

18
Cùng với nhân dân cả nước, Đảng bộ Vĩnh Yên, Phúc Yên đã lãnh đạo nhân
dân tích cực đối phó với tình hình, tập trung vào nhiệm vụ chống đói, sản xuất
và tiết kiệm chống nạn mù chữ, lạc hậu; từng bước xây dựng và củng cố nền
móng của chế độ mới, để chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược mà chúng ta biết trước là không thể tránh
khỏi.
Cuộc vận động sản xuất và tiết kiệm đã nhanh chóng trở thành một phong
trào rộng lớn, thu hút mọi thành phần xã hội tham gia. Những khẩu hiệu như:
"Tấc đất, tấc vàng", "Hũ gạo cứu đói", "Ngày đồng tâm" đã biểu lộ ý chí thống
nhất toàn dân trong những ngày tháng khó khăn. Chỉ qua ba vụ sản xuất dưới

thuẫn giữa hai tập đoàn đế quốc Mỹ - Tưởng và Anh - Pháp để có những đối
sách phù hợp. Với chủ trương đó, Đảng thực hiện sách lược "Hoà với Tưởng" để
tập trung toàn lực chống kẻ thù chính là thực dân Pháp xâm lược.
Theo tinh thần hoà hoãn "Hoa - Việt thân thiện", khi Tưởng mới đến, ta tổ
chức đón tiếp, cung cấp lương thực và thực phẩm, bố trí nơi đóng quân, giải
quyết phương tiện đi lại chu đáo. Để tranh xung đột, mắc mưu khiêu khích của
địch, Đảng Bộ Vĩnh Yên, Phúc Yên giáo dục cán bộ, đảng viên, nhân dân bình
tĩnh, tỉnh táo, giữ nghiêm kỷ luật, đồng thời cho rút các cơ quan ở những nơi
Tưởng đóng quân về nông thôn. ở thị xã, Ban Liên kiểm được thành lập theo đề
nghị của Tưởng gồm đại diện của Việt Minh, của Tưởng và Việt Nam Quốc dân
đảng.
Về mặt ngoại giao, ta khéo léo đấu tranh vạch trần âm mưu của Tưởng, đòi
chúng phải chấm dứt khiêu khích, phá hoại, chấm dứt sự đồng loã với bọn tay
sai phản quốc và tôn trọng cam kết. Về chính trị, ta tổ chức đấu tranh dưới hình
thức biểu dương lực lượng. Các cuộc mít tinh, biểu tình có hàng vạn quần chúng
tham gia diễn ra liên tiếp ở các địa phương, nhất là gần những khu vực đóng

20
quân của Tưởng. Quần chúng nhân dân hai tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên đã giương
cao khẩu hiệu: "Nước Việt Nam của người Việt Nam", "ủng hộ chính phủ Hồ
Chí Minh" Nắm được chỗ yếu của Tưởng là hậu cần, ta khống chế việc cung
cấp tiếp tế từ bên ngoài, đồng thời phá hoại bằng cách cắt dây điện thoại, làm
hỏng cầu đường, vận động nhân dân nơi chúng đóng quân sơ tán tài sản. Phối
hợp làm chỗ dựa cho các hoạt động ấy, các đơn vị vệ quốc đoàn được lệnh bố trí
xung quanh các thị xã, thị trấn, bao vây bí mật kiềm chế các hoạt động của địch.
Bằng tất cả những hành động phối hợp chặt chẽ, ta đã buộc quân Tưởng phải
co lại, xuống thang từng bước. Cuối cùng chúng phải cử người giao thiệp với đại
diện chính quyền ta, hai lần phải trả lại tự do cho cán bộ Việt Minh bị chúng
giam giữ từ trước, các hoạt động phá hoại và khiêu khích giảm đi.
Với các đảng phái phản động tay sai, ngay từ đầu tháng 9, Đảng bộ Vĩnh

quân vây bắt cán bộ và nổ súng đánh úp bộ đội Vệ quốc đoàn. Hành động tráo
trở của bọn tay sai đã đẩy cuộc đấu tranh của nhân dân ta đến chỗ quyết liệt.
Đầu năm 1946, theo sự dàn xếp của Mĩ - Anh, với mục đích để Pháp tái
chiếm Đông Dương, thay quân Anh và quân Tưởng ở Việt Nam. Trước tình
hình đó, Đảng ta chủ trương hoà hoãn với Pháp để đuổi quân Tưởng về nước,
đồng thời tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng kháng chiến chống Pháp.
Ngày 6/3/1946, Hiệp định Sơ bộ được ký kết giữa Chính phủ ta và Pháp.
Theo tinh thần Hiệp định, Tưởng phải rút quân về nước. Với sự kiện này ta đã
loại được một kẻ thù nguy hiểm, tránh được thế bất lợi cùng một lúc đối phó với
nhiều kẻ thù. Nhưng cố tình trì hoãn thời hạn rút quân để gây thêm khó khăn cho
ta, mãi tới 6/1946, chúng mới cuốn gói khỏi Vĩnh Yên, Phúc Yên. Mất chỗ dựa,
bọn tay sai hốt hoảng tìm đường theo quan thầy.

22
Song không ăn được thì đạp đổ, bọn Quốc dân đảng trước khi rút chạy còn
cố tình tháo dỡ máy móc ở nhà máy, cướp bóc tài sản và khủng bố nhân dân.
Tình hình đã đến lúc cho phép ta thanh toán bọn tay sai phản quốc. Lực lượng
vũ trang Vĩnh Yên, Phúc Yên được lệnh phối hợp với Vệ quốc đoàn nổ súng
tiêu diệt chúng.
ở Vĩnh Yên, trung tuần 6/1946, khi quân Tưởng rút khỏi Bạch Hạc, quân ta
lập tức tấn công bọn Quốc dân đảng ở đây. Bạch Hạc và các làng Bồ Sao, Diệm
Xuân được giải phóng, hơn 100 thanh niên trước đây bị chúng giam giữ được
cứu thoát. Hoảng hốt, bọn phản động ở ấp Tam Lộng vội rút quân về hợp với
bọn Quốc dân đảng ở thị xã Vĩnh Yên. Cuối tháng 6/1946, khi Tưởng rút khỏi
Vĩnh Yên, bọn Quốc dân đảng mất chỗ dựa buộc phải chấp nhận thống nhất
hành chính, thống nhất quân đội với ta, thực chất là chấp nhận sự đầu hàng cách
mạng. Ngày 30/8/1946, ta tổ chức tiếp nhận gần 2 tiểu đoàn Quốc dân đảng vào
Vệ quốc đoàn. Chính quyền cách mạng dưới hình thức liên hiệp được thành lập
ở thị xã Vĩnh Yên.
Như vậy, đến cuối tháng 8/1946, quân Tưởng và bọn phản động tay sai đã bị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status