đảng bộ tỉnh vĩnh phúc lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích trong kháng chiến chông pháp từ 1946 1954 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHÙNG THỊ NGỌC BÍCH

ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG CĂN CỨ DU KÍCH
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1946-1954)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà nội - 2010


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHÙNG THỊ NGỌC BÍCH

ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG CĂN CỨ DU KÍCH
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1946-1954)
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Vũ Quang Hiển

Hà nội - 2010


và căn cứ du kích, tiến lên giải phóng quê hương ..................................................................... 67
Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ ........................................... 80
3.1 Một số nhận xét ...................................................................................................................... 80
3.2 Một số kinh nghiệm lịch sử rút ra ......................................................................................... 90
KẾT LUẬN........................................................................................................................106
PHỤ LỤC.........................................................................................................................109
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................................115

2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xây dựng căn cứ du kích là một điển hình sáng tạo của Đảng trong việc vận
dụng lý luận Mác - Lê Nin về xây dựng hậu phƣơng của chiến tranh cách mạng,
nhằm huy động toàn dân tham gia kháng chiến làm cho mỗi ngƣời dân là một ngƣời
lính, mỗi làng xã là một pháo đài.
Căn cứ du kích là hậu phƣơng của chiến tranh du kích, cung cấp sức ngƣời, sức
của cho kháng chiến, đồng thời là cơ sở cho lực lƣợng vũ trang trụ bám tiêu diệt
sinh lực địch.
Thực hiện chủ trƣơng của Đảng về việc xây dựng chỗ đứng chân ở vùng sau
lƣng địch trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), Đảng bộ tỉnh
Vĩnh Phúc đã lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở địa phƣơng từ không đến có, từ
nhỏ đến lớn, từ các làng chiến đấu đơn lẻ đến khu du kích liên hoàn, biến hậu
phƣơng của địch thành tiền phƣơng và hậu phƣơng của ta, phá nát hệ thống chiếm
đóng, tạo cơ sở tiến công địch từ trong lòng chúng và khai thác sức ngƣời, sức của
cho kháng chiến.
“Căn cứ địa là một vùng tƣơng đối an toàn, ở đó ta đóng các cơ quan đầu não,
huấn luyện bộ đội chủ lực, đào tạo cán bộ, chế tạo vũ khí, đạn dƣợc, chữa chạy
thƣơng binh, vv…Có nhiều hạng căn cứ địa: căn cứ địa miền rừng núi, căn cứ địa

của việc xây dựng căn cứ du kích ở Vĩnh Phúc, một tỉnh trung du đồng bằng Bắc
bộ. Việc làm trên cũng ít nhiều bổ sung thêm tƣ liệu cho việc nghiên cứu phong trào
chiến tranh du kích trong kháng chiến chống Pháp. Bên cạnh đó các bài học rút ra
phần nào giúp ích cho công tác chỉ đạo cách mạng hiện nay ở địa phƣơng. Với lý do
trên, tôi đã chọn “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích trong
kháng chiến chống Pháp (1946-1954)” làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan trực tiếp đến đề tài có một số cuốn sách đã xuất bản:
- Cuốn “Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở Đồng bằng Bắc bộ” của
tác giả Vũ Quang Hiển do Nxb Chính trị quốc gia xuất bản năm 2001.
Đây là một công trình nghiên cứu có tính chất chuyên khảo về căn cứ du kích
ở Đồng bằng Bắc bộ dƣới góc độ lịch sử, đặc biệt cuốn sách đã giải đáp đƣợc một
cách khá toàn diện những vấn đề liên quan ở khu vực đồng bằng Bắc bộ, là tài liệu

4


quí giúp tác giả luận văn có cách nhìn tổng quát, so sánh, đối chiếu đƣợc khi thực
hiện đề tài xây dựng căn cứ du kích ở địa phƣơng.
- Tác phẩm “Lịch sử chiến tranh du kích Vĩnh Phúc” tập 1,2,3,4 lƣu tại thƣ
viện tỉnh Vĩnh Phúc; Tác phẩm : Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của
quân và dân tỉnh Vĩnh Phúc (1946-1954) do Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Vĩnh Phúc
thực hiện năm 1999. Hai cuốn sách là tài liệu quan trọng, cung cấp những thông tin
hữu ích về quá trình chuẩn bị lực lƣợng, những chủ trƣơng và chỉ đạo của Đảng bộ
Vĩnh Phúc về mọi mặt trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở địa phƣơng.
- Lịch sử Đảng bộ Vĩnh Phúc (1930-2005) - Nxb Chính trị quốc gia 2007. Đây là
tác phẩm mới xuất bản năm 2007, đƣợc tái bản và chỉnh lý khá hoàn chỉnh, cung cấp cho
luận văn những thông tin khái quát nhất về Vĩnh Phúc từ năm 1930 đến năm 2005, đặc
biệt là giai đoạn nhân dân Vĩnh Phúc kháng chiến chống Pháp.

Bƣớc đầu rút ra một số kinh nghiệm lịch sử về xây dựng căn cứ du kích tại
địa phƣơng.

Nhiệm vụ
-

Tập hợp những tƣ liệu lịch sử cơ bản có liên quan đến vấn đề nghiên cứu xây
dựng căn cứ kháng chiến ở Vĩnh Phúc.

-

Hệ thống hoá và trình bày những tƣ liệu ấy qua các giai đoạn phát triển gắn
liền với điều kiện cụ thể trong mỗi giai đoạn.

-

Rút ra nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng bộ Vĩnh Phúc, những thành công và
hạn chế của quá trình xây dựng căn cứ du kích ở Vĩnh Phúc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu
-

Những chủ trƣơng và biện pháp của Đảng bộ Vĩnh Phúc nhằm lãnh đạo, chỉ
đạo xây dựng căn cứ du kích ở địa phƣơng trong cuộc kháng chiến chống
Pháp.

-

Quá trình xây dựng và bảo vệ căn cứ du kích ở Vĩnh Phúc trong kháng chiến

Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, có ảnh hƣởng đến việc xây dựng căn cứ
du kích ở Vĩnh Phúc.

-

Quá trình triển khai thực hiện chủ trƣơng, biện pháp của Đảng ở huyện, xã.
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

Nguồn tài liệu
-

Các văn kiện của Trung ƣơng Đảng, các văn kiện của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc
trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

-

Tài liệu đã xuất bản của các cơ quan nghiên cứu ở Trung ƣơng và địa
phƣơng có liên quan.

-

Các tài liệu lƣu trữ của Tỉnh uỷ và uỷ ban nhân dân Tỉnh gồm các báo cáo
hàng năm của các cấp bộ đảng, chính quyền và các cơ quan quân sự tỉnh
Vĩnh Phúc.

-

Tài liệu khảo sát thực tế.

Các phương pháp nghiên cứu

Ngày 29-12-1899 do “tình hình chống đối liên miên của dân chúng và sự cần
thiết phải can thiệp trực tiếp vào cuộc cai trị” nên toàn quyền Đông Dƣơng Pôn Đume ra nghị định số 1124 thành lập tỉnh Vĩnh Yên. Điều 1 của Nghị định ghi: “ở
Bắc Kỳ thành lập một tỉnh mới mang tên : Tỉnh Vĩnh Yên. Trung tâm của khu vực
hành chính này đặt tại vùng đất thuộc xã Tích Sơn sẽ đƣợc gọi là Vĩnh Yên”. Điều 2
ghi : “ Tỉnh Vĩnh Yên bao gồm các huyện Bạch Hạc ( trong đó có Vĩnh Tƣờng),
Yên Lạc, Yên Lãng, Lập thạch, Tam Dƣơng và Bình Xuyên)”. Nhƣ vậy, tỉnh Vĩnh
Yên đƣợc lập lại và đi vào hoạt động từ năm 1900.
Tỉnh Phúc Yên
Ngày 6-10-1901, toàn quyền Đông Dƣơng ra Nghị định thành lập tỉnh Phù Lỗ.
Địa giới hành chính bao gồm địa bàn 3 huyện cắt từ Bắc Ninh sang là Đa Phúc, Kim
Ạnh và Đông Khê cùng phủ Yên Lãng nhƣ đã nói trên. Tỉnh lỵ đặt tại làng Phù Lỗ, nên
gọi là tỉnh Phù Lỗ. Ngày 18-2-1904 tỉnh lỵ rời làng lên làng Tháp Miếu, tổng Bạch Trữ,
Phủ Yên Lãng và đặt tên tỉnh là Phúc Yên.
Ngày 7-3-1913, chính quyền thực dân đƣa tỉnh Phúc Yên xuống cấp Đại Lý
(gọi là Đại Lý Phúc Yên) lệ thuộc tỉnh Vĩnh Yên.

8


Ngày 28-12-1915, Thống sứ Bắc Kỳ ra Nghị định xoá bỏ Đại lý, lập lại tỉnh
Phúc Yên gồm hai phủ Đa Phúc và Yên Lãng, hai huyện là Đông Anh và Kim Anh.
Phúc Yên trở thành một tỉnh độc lập và là tỉnh nhỏ nhất xứ Bắc Kỳ.
Theo thống kê của chính quyền thực dân Pháp, năm 1905, hai tỉnh Vĩnh Yên
và Phúc Yên có 9 phủ, 83 tổng, 569 làng. Trong suốt thời kỳ thực dân Pháp thống
trị nƣớc ta đến cách mạng tháng 8, đơn vị hành chính Vĩnh Phúc cơ bản ổn định, chỉ
có thay đổi chút ít về điều chuyển, thêm bớt một số làng. Còn về tên của hai tỉnh,
theo giải thích của sách Địa chí Vĩnh Yên và Địa chí Phúc Yên xuất bản năm 1932
và 1933 là do ghép tên của hai phủ hoặc hai huyện to nhất của mỗi tỉnh mà thành:
Đa Phúc với Yên Lãng thành Phúc Yên; Vĩnh Tƣờng với Yên Lạc thành Vĩnh Yên.
Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945 đã mở ra một trang mới cho

đây một trƣờng huấn luyện lính khố xanh toàn Bắc Kỳ.
Địa bàn hai tỉnh hình thành ba vùng: rừng núi, gò đồi và đồng bằng. Vùng
rừng núi nằm ở phía Bắc tỉnh, tiếp giáp với núi rừng của hai tỉnh Tuyên Quang và
Thái Nguyên, trong đó có hai dãy núi quan trọng: dãy Tam Đảo (ngọn cao nhất
1.591m), và dãy Sáng Sơn cao 633m.
Vùng Đồng bằng nằm phía nam tỉnh bao bồm các huyện : Mê Linh, Vĩnh
Tƣờng, Yên Lạc. Giữa vùng rừng núi và vùng đồng bằng và vùng đồi gò xen kẽ
nhau từ đông sang tây.
Sông Lô ở phía tây dài 37km, sông Hồng chảy từ phía tây xuống phía nam tỉnh
dài 40km. Trong địa phận tỉnh còn có nhiều sông ngòi nhỏ chảy qua từ chân núi Tam
Đảo xuống vùng đồng bằng, trong đó có hai con sông chảy dọc giữa tỉnh là sông Phó
Đáy và sông Cà Lồ. Ngoài ra, tỉnh còn có nhiều đầm hồ lớn nằm phía nam nhƣ đầm Vạc,
đầm Rƣợu, đầm Đông Mật, đầm Rƣng…
Để khai thác tối đa mọi nguồn tài nguyên của đất nƣớc ta, thực dân Pháp đã
chú trọng xây dựng hệ thống giao thông vận tải ngay từ buổi đầu đến xâm lƣợc. Với
vị trí chuyển tiếp giữa các vùng của Bắc bộ, Vĩnh Phúc có hệ thống giao thông khá
thuận lợi bao gồm cả đƣờng bộ, đƣờng sắt và giao thông gồm đƣờng quốc lộ số 2
Hà Nội - Hà Giang chạy qua Vĩnh Phúc hơn 50 km, song song với đƣờng sắt Hà
Nội - Lao Cai. Quốc lộ 2B Vĩnh Yên đi khu nghỉ mát Tam Đảo, quốc lộ 2C Vĩnh
Yên qua Tam Dƣơng - Lập Thạch đi Tuyên Quang. Bên cạnh quốc lộ, các đƣờng
nội tỉnh chạy từ vùng đồng bằng lên vùng rừng núi nhƣ đƣờng 12,13, 23, 40, 129…
với tổng chiều dài hơn 200km cũng đƣợc xây dựng rất sớm.
Sông ngòi ở Vĩnh Phúc nhiều nên mạng lƣới giao thông đƣờng thuỷ trên các
sông nhƣ sông Hồng, sông Lô tƣơng đối phát triển. Khi phát xít Nhật chiếm đóng
10


Vĩnh Phúc (1941), chúng cho xây dựng sân bay Hƣơng Gia (huyện Kim Anh) làm
sân bay quân sự, phục vụ cho nhu cầu chiến tranh.
Những đặc điểm về địa lý, địa hình trên đây nói lên Vĩnh Phúc là một tỉnh có


Cùng sự phát triển kinh tế xã hội, cho đến trƣớc 1945 ở Vĩnh Phúc, xã hội có
sự phân hoá giai cấp sâu sắc. Trong xã hội có đầy đủ các tầng lớp, giai cấp: địa chủphong kiến, tƣ sản, tiểu tƣ sản, nông dân, công nhân.
Cũng giống nhƣ các vùng quê khác trong cả nƣớc, ở Vĩnh Phúc có phong tục
thờ cúng tổ tiên, các vị anh hùng dân tộc, tín ngƣỡng thờ thần…
Ngƣời dân Vĩnh Phúc cần cù chịu khó, bằng lao động sáng tạo, trí tuệ và cả
xƣơng máu của mình, từ hàng vạn năm, thế hệ sau tiếp nối thế hệ trƣớc đã bảo vệ và
xây dựng quê hƣơng ngày càng giàu đẹp. Kinh tế của Vĩnh Phúc trên cơ sở của
nghề nông và đánh bắt cá còn phát triển các nghề thủ công, xây dựng và giao lƣu
kinh tế. Đó là những sản phẩm đồ thủ công mỹ nghệ nổi tiếng ở Hải Lựu, ở Lý
Nhân, ở Thổ Tang…
Về tôn giáo, đại bộ phận dân cƣ chịu ảnh hƣởng của đạo Phật, vai trò của đạo
Thiên chúa giáo rất mờ nhạt, số ngƣời theo đạo Thiên chúa rất ít.
Là một trong những vùng đất thuộc nền văn minh sông Hồng, bởi vậy
Vĩnh Phúc là nơi chứng kiến những bƣớc chuyển biến quan trọng trong quá trình
phát triển của lịch sử loài ngƣời. Văn hoá Vĩnh Phúc thấm đẫm dòng văn hoá mẹ
của đồng bằng sông Hồng - đó là nền văn hóa nông nghiệp, lúa nƣớc. Văn hoá
lúa nƣớc từ ngàn xƣa đã ảnh hƣởng mạnh mẽ đến lối sống của cƣ dân đồng bằng
Bắc Bộ nói chung và cƣ dân Vĩnh Phúc nói riêng trong thời cận hiện đại. Nhân
dân Vĩnh Phúc không chỉ anh dũng trong chống giặc ngoại xâm , mà còn có
truyền thống cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế và văn
hoá. Sống ở địa bàn trung du, vừa có đồi núi, vừa có đồng bằng, ngƣời dân Vĩnh
Phúc qua bao đời nay đã cần cù cải tạo ruộng đồng, đồi nƣơng, chế ngự thiên tai,
để tạo nên những sản phẩm, những đặc sản đã đi vào ca dao truyền tụng trong
dân gian, mà nhân dân trong và ngoài tỉnh đều biết đến:
Dứa Hƣớng Đạo, gạo Long Trì (Tam Dƣơng),
Rau Ngô Đạo, gạo Cốc Lƣơng (Đa Phúc)…
Dù sống hàng nghìn năm dƣới ách đô hộ của phong kiến phƣơng Bắc và gần
một thế kỷ dƣới ách thống trị của thực dân Pháp, Phát xít Nhật, nhƣng nhân dân
Vĩnh Phúc vẫn giữ gìn, bảo tồn đƣợc bản sắc văn hoá dân tộc, vẫn duy trì, phát triển

khoảng 50m, lại xây điếm canh có tuần phiên canh gác, nhất là về đêm.
Trong lịch sử dựng nƣớc và giữ nƣớc, làng xã là nơi cung cấp sức ngƣời, sức
của cho đất nƣớc, gìn giữ bảo tồn văn hoá dân tộc, chống lại âm mƣu đồng hoá của
kẻ thù. Có thể coi làng xã là bộ khung tạo hình cho diện mạo nông thôn Việt Nam,
qua hàng ngàn đời kế tiếp nhau; dựa vào làng mạc, từ xƣa, dƣới sự lãnh đạo của các
13


vị anh hùng dân tộc nhân dân hai tỉnh đã bao lần khởi nghĩa chống xâm lƣợc, phong
kiến.
Trang sử hào hùng đầu tiên về đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân
Vĩnh Phúc là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trƣng nổ ra năm 40 sau công nguyên.
Nhân dân trong tỉnh, địa bàn gốc của cuộc khởi nghĩa do các tƣớng lĩnh cả nam lẫn
nữ do Hai Bà Trƣng lãnh đạo đã vùng dậy hƣởng ứng cuộc khởi nghĩa. Số tƣớng
lĩnh trên đất Mê Linh lên đến gần 40 ngƣời mà ngày nay tên tuổi vẫn còn lƣu truyền
nhƣ Tả đạo tƣớng quân Đạm Nƣơng, Hồng Nƣơng, Thanh Nƣơng, Quách A Tiên
Phong, tả Tƣớng Ả Lã, Lê Ngọc Trinh… ngày nay rất nhiều truyền thuyết, thần
tích, đền miếu thời Hai bà và các tƣớng lĩnh của hai bà còn truyền tụng trong dân
gian.
Thế kỉ VI, nhân dân Vĩnh Phúc nổi dậy theo Lý Bí khởi nghĩa chống quân
xâm lƣợc nhà Lƣơng với những chiến tích nơi Hồ Điển Triệt còn lƣu giữ. Cuộc
kháng chiến chống Tống dƣới triều Lý, nhân dân Kim Anh, Đa Phúc tham gia tích
cực vào đắp luỹ, phòng ngự…
Hết chống kẻ thù cũ phong kiến phƣơng bắc đến kẻ thù mới là thực dân Pháp
xâm lƣợc nƣớc ta, hòa chung không khí chiến đấu của dân tộc, các thế hệ nhân dân
Vĩnh Phúc lại một lần nữa vùng lên đánh Pháp.
Từ năm 1885 đến năm 1893, hƣởng ứng phong trào Văn Thân, các thổ hào
trong tỉnh gồm các ông Đề, ông Đốc, ông Tán… đã dấy binh nổi lên chống Pháp
khắp các huyện. Vùng rừng núi Tam Đảo từ năm 1885 trở đi trở thành căn cứ kháng
chiến của các đội nghĩa quân. Từ khu rừng Tam Đảo, nghĩa quân toả đi không chỉ

đƣờng lối cứu nƣớc và phƣơng pháp đấu tranh mới, phù hợp với xu thế của thời đại.
Đó là phong trào cách mạng do Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo.
Tháng 8-1945, khi các điều kiện tổng khởi nghĩa đã chín muồi, thời cơ tổng
khởi nghĩa đã tới, dƣới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân các huyện, địa phƣơng
đã kiên quyết vùng dậy giành chính quyền. Ngày 19-8-1945 khởi nghĩa giành chính
quyền ở Phúc Yên, ngày 20 khởi nghĩa ở Yên Lãng, ngày 21 ở Vĩnh Tƣờng, ngày
22 ở Yên Lạc, ngày 24 ở huyện Tam Dƣơng, riêng ở Vĩnh Yên khởi nghĩa đã không
giành đƣợc thắng lợi do mất thời cơ. Khởi nghĩa ở Vĩnh Yên để lại bài học sâu sắc
cho toàn Đảng bộ trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân
dân trong tỉnh.
Sau năm 1945, nhân dân hai tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên đã hăng hái tham gia
vào các đoàn thể cứu quốc, tạo cơ sở chính trị vững chắc cho chính quyền cách
15


mạng, tạo chỗ dựa để phát triển thực lực cách mạng, nhất là trong việc động viên
toàn dân, vũ trang toàn dân. Phong trào luyện tập quân sự, rèn sắm vũ khí phát triển
rộng rãi khắp nơi. Lực lƣợng vũ trang địa phƣơng đƣợc xây dựng nhanh chóng, bao
gồm các đội dân quân du kích ở nông thôn, tự vệ chiến đấu ở thành thị, các trung
đội vũ trang tập trung ở huyện... Quân dân Vĩnh Phúc nói riêng và quân dân đồng
bằng Bắc bộ nói chung vừa ra sức xây dựng lực lƣợng mọi mặt, vừa dốc lòng chi
viện cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, góp phần làm thất bại âm mƣu “đánh nhanh
thắng nhanh” của giặc Pháp.
Trong quá trình lịch sử dựng nƣớc và giữ nƣớc, trải qua nhiều thế hệ nối tiếp
nhau, nhân dân Vĩnh Phúc mà chủ yếu là nông dân đã xây dựng và thƣờng xuyên
bồi đắp những truyền thống tốt đẹp. Đó là tấm lòng thuỷ chung, đoàn kết gắn bó,
sớm tối có nhau trong tình làng nghĩa xóm; tinh thần lao động cần cù sáng tạo và
tiết kiệm; ý thức độc lập dân tộc và dân chủ tự do, kiên quyết chống ngoại xâm,
chống áp bức xã hội, là lòng yêu nƣớc thƣơng nòi, gắn nhà với nƣớc, “còn nƣớc còn
nhà”, “nƣớc mất nhà tan”, “vừa đánh giặc vừa cày ruộng”, vừa xây dựng vừa bảo vệ

định. Nó không cho phép ta chỉ dùng quân đội đánh theo cách dàn trận địa, có phân
tuyến rõ rệt giữa ta và địch, mà phải phát động đẩy mạnh chiến tranh du kích khắp
nơi, đi từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy, đánh địch ở cả mặt trận
chính diện và sau lƣng chúng. Nó không cho phép ta đánh nhanh thắng nhanh, dốc
hết lực lƣợng vào một trận sống mái với kẻ thù, mà phải đánh lâu dài, vừa kháng
chiến vừa kiến quốc, vừa kháng chiến vừa xây dựng hậu phƣơng, vừa kháng chiến
vừa vận động quốc tế; phát huy cao độ tinh thần độc lập, tự chủ, đồng thời ra sức
tranh thủ những điều kiện thuận lợi của thời đại mới, từng bƣớc làm thay đổi so
sánh lực lƣợng giữa ta và địch, tiến lên giành thắng lợi cuối cùng.
Chiến tranh càng phát triển thì vai trò lực lƣợng vũ trang càng quan trọng.
Để đảm bảo hoạt động xây dựng và tác chiến của lực lƣợng vũ trang phải xây dựng
một hậu phƣơng vững mạnh. LêNin nói: “ Muốn tiến hành chiến tranh một cách
thực sự, phải có một hậu phƣơng đƣợc tổ chức vững chắc. Một đội quân giỏi nhất,
những ngƣời trung thành nhất với sự nghiệp cách mạng cũng đều sẽ lập tức bị kẻ
17


thù tiêu diệt, nếu họ không đƣợc vũ trang, tiếp tế lƣơng thực và huấn luyện đầy đủ”
[48, tr.497]. Với cách nhìn toàn diện đó, Đảng và Hồ Chí Minh kiên quyết phát
động cuộc kháng chiến toàn quốc.
Cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp bùng nổ. Đảng ta khẳng định:
“Một khi chiến tranh đã không thể tránh đƣợc,thì phải dốc tất cả cho chiến
tranh…”[47, tr.374]. Khi khả năng hoà hoãn không còn nữa, mọi nhân nhƣợng đến
giới hạn cuối cùng, sự lựa chọn duy nhất của ta là cầm vũ khí chiến đấu, Trung
ƣơng Đảng và Hồ Chí Minh kiên quyết phát động cuộc kháng chiến toàn quốc.
Đƣờng lối kháng chiến của Đảng đƣợc xác định trong chỉ thị Toàn dân
kháng chiến của Trung ƣơng Đảng (12-12-1946), Lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến của Hồ Chí Minh (19-12-1946) và đƣợc giải thích cụ thể trong tác phẩm
Kháng chiến nhất định thắng lợi của Trƣờng Chinh. Đó là đƣờng lối chiến tranh
nhân dân, toàn dân, toàn diện.

quân. Đó “là cách hiệu nghiệm động viên toàn dân tham gia tác chiến; là cách tổ
chức và rèn luyện đội quân hậu bị hết sức dồi dào để bổ sung và tiếp ứng cho quân
chính quy, để dánh lâu dài” [18, tr. 314].
Trƣờng Chinh cũng nêu rõ:“ Đất ta hẹp, nhƣng không hẹp đến nỗi không thể
lập đƣợc căn cứ địa.Vả lại lực lƣợng quân địch có hạn, chúng từ xa đến quyết không
thể quét sạch và tiêu diệt đƣợc quân ta, cũng không đủ sức chiếm đóng khắp nƣớc ta
khiến cho ta hết chỗ đứng chân ... Không có căn cứ địa nào tuyệt đối vững chắc hết!
Vì vậy, không nên và không thể xây dựng nghênh ngang kềnh càng…” [18, tr. 311].
Để chọn một vùng làm căn cứ địa phải họp hội nghị cán bộ quân, chính, dân các
cấp vùng đó, bàn định kế hoạch thiết lập và bảo vệ căn cứ địa. Những việc cần phải
chú ý ngay từ lúc đầu là:
“1. Về hành chính và dân vận, phát triển và củng cố các cơ quan chính
quyền, các tổ chức quần chúng (chuẩn bị tiểu tổ bí mật); đào tạo cán bộ địa
phƣơng để lãnh đạo chính quyền và phát triển các tổ chức quần chúng trong
vùng.
“2. Về mặt quân sự, tổ chức rộng rãi dân quân và vũ trang toàn dân, huấn
luyện quân sự cho toàn bộ thanh niên nam nữ; bố trí đội quân chủ lực, tập trung vũ
khí cần thiết để cản bƣớc tiến của địch và tiêu diệt chúng khi chúng vào sâu; che
dấu mục tiêu đề phòng máy bay.
“3. Về dân sinh, tăng gia sản xuất theo kế hoạch định sẵn; tổ chức tốt công
tác hậu cần; cải thiện đời sống nhân dân.

19


“4. Về mặt trị an, quét sạch Việt gian, hạn chế và kiểm soát ngƣời đi lại, phong
toả tin tức”. [18, tr.312,313]
Nhƣ vậy, xây dựng căn cứ địa không chỉ ở rừng núi mà ở cả đồng bằng
trong cuộc kháng chiến chống Pháp là nhiệm vụ cần kíp của toàn Đảng toàn
dân ta. Vĩnh Yên và Phúc Yên là hai tỉnh có cả đồng bằng và đồi núi, lại tiếp

lãnh đạo kịp thời. Về chính trị, Phúc Yên đã có cơ sở cách mạng, có phong trào khá
sôi nổi trong các thời kỳ từ năm 1933 đến năm 1939 và chi bộ đảng đã hình thành.
Nhiệm vụ chủ yếu của ATK là bảo vệ các cơ quan trung ƣơng của Đảng
nhƣ cơ quan in ấn, cơ quan báo chí… Để thực hiện nhiệm vụ này, Trung ƣơng quy
định rất chặt chẽ phƣơng châm, phƣơng pháp hoạt động và đấu tranh trong ATK
nhằm tránh bộc lộ cơ sở, địch dễ theo dõi khủng bố. Đội công tác Trung ƣơng bố
trí mỗi ngƣời phụ trách một khu vực xây dựng cơ sở. Các cơ sở đề xây dựng theo
đơn tuyến, bí mật, có cơ sở chính thức, lại có thêm nhiều cơ sở dự bị. Vƣợt qua
nhiều khó khăn gian khổ, nhất là sau chiến dịch khủng bố ác liệt năm 1940 và
1941 của địch, nắm vững phƣơng châm hoạt động vùng ATK, đội công tác Trung
ƣơng từ chỗ lúc đầu chỉ khôi phục đƣợc một số cơ sở cũ, đến giữa năm 1943 trở đi
đã xây dựng đƣợc một hệ thống cơ sở liên hoàn dọc theo sông Hồng về đến Hà
Nội. Cơ sở thuộc các làng Cổ Loa, Võng La, Ngọc Giang, Viên Nội (Đông Anh),
Xuân Kỳ, Đình Phú (Kim Anh), Lâm Hộ, Tráng Việt (Yên Lãng)… đã trở thành
những cơ sở vững vàng, chỗ dựa tin cậy của Ban Thƣờng vụ trung ƣơng và các
Đảng bộ. Thời kỳ cao trào tiền khởi nghĩa, ATK đảm nhiệm cả nhiệm vụ chuyển
thuốc men, quần áo, vũ khí ra chiến khu. Mặt trận Việt Minh, các đoàn thể Cứu
quốc, đội tự vệ ATK phát triển mạnh về số lƣợng, các hội viên thƣờng xuyên đƣợc
giáo dục về tinh thần yêu nƣớc, căm thù giặc, về ý thức cảnh giác cách mạng, ý
thức bảo vệ cán bộ và các cơ quan của Đảng. Cùng với phát triển hội viên cứu
quốc, đội công tác Trung ƣơng đã chú ý đến tuyên truyền bồi dƣỡng kết nạp đảng
viên và thành lập các chi bộ Đảng. Từ năm 1942 đến khởi nghĩa trong cách mạng
tháng Tám năm 1945, vùng ATK Phúc yên đã có sáu chi bộ Đảng đƣợc thành lập.
Từ năm 1942 đến khởi nghĩa trong cách mạng tháng Tám, đồng chí Tổng bí thƣ
Trƣờng Chinh và các đồng chí trong Ban thƣờng vụ trung ƣơng nhƣ Hoàng Văn
Thụ, Hoàng Quốc Việt thƣờng xuyên qua lại, ăn ở trong các gia đình cơ sở ATK.
Các đồng chí cán bộ vƣợt ngục của Đảng ra cũng đƣợc đƣa về ATK Phúc Yên
nghỉ dƣỡng và chờ Đảng phân công công tác…
ATK Phúc Yên đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng tháng Tám
ở địa phƣơng nói riêng và cả nƣớc nói chung.

quan quân sự và lực lƣợng vũ trang địa phƣơng, xây dựng hậu phƣơng, quan tâm tới
đời sống quần chúng, đẩy mạnh sản xuất...” [43, tr. 32].
Trong những năm đầu kháng chiến, Vĩnh Yên là một trong những tỉnh hậu
phƣơng, do vậy đƣợc Trung ƣơng giao nhiệm vụ vừa đóng góp sức ngƣời, sức của
22


cho tiền tuyến, vừa chuẩn bị đón tiếp các cơ quan Trung ƣơng, tỉnh bạn và đồng bào
các vùng địch chiếm sơ tán đến. Lập Thạch và một phần huyện Tam Dƣơng đƣợc
tỉnh chọn làm căn cứ địa của tỉnh.
Ngay từ năm đầu của cuộc kháng chiến, tỉnh ủy Vĩnh Yên đã nhận định Lập
Thạch là địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển lực lƣợng; vì nơi đây
trong thời kỳ tiền khởi nghĩa đã từng là khu căn cứ của tỉnh. Do vậy, tỉnh ủy Vĩnh
Yên chủ trƣơng xây dựng vùng núi Sáng Sơn là “Đất căn cứ kháng chiến”. Nhận rõ
vị trí của mình, Đảng bộ Lập Thạch xác định nhiệm vụ chủ yếu của huyện là đảm
bảo nhu cầu hậu cần tại chỗ và cung cấp đầy đủ cho chiến trƣờng. Đồng thời Lập
Thạch còn đƣợc giao nhiệm vụ quan trọng là tiếp nhận cơ quan Trung ƣơng, tỉnh,
huyện bạn, đồng bào vùng tạm chiếm đến sơ tán cùng nhiều đơn vị bộ đội đóng
quân trên địa bàn huyện. Bên cạnh việc xây dựng “Đất căn cứ”, Đảng bộ triển khai
công tác “tiêu thồ kháng chiến” và xây dựng làng chiến đấu ở khắp các thôn xã
trong huyện.
Thấm nhuần đƣờng lối kháng chiến của Đảng,Tỉnh bộ hai tỉnh đã xác
định trƣớc những nơi có thể trở thành khu du kích, căn cứ du kích hoặc các
làng chiến đấu nhƣ: Cổ Loa, Dục Nội, Thanh Lãng, Thạch Đà, Đại Đồng, Xuân
Phƣơng.
Để thực hiện khẩu hiệu “toàn dân kháng chiến, kháng chiến khắp nơi, mỗi phố
là một mặt trận, mỗi làng là một pháo đài…” tỉnh uỷ hai tỉnh chủ trƣơng phát động
một phong trào toàn dân thi đua lập làng kháng chiến, biến các làng xóm thời bình
chuyển thành các làng chiến đấu của thời chiến, dựa vào làng chiến đấu đánh Pháp
giữ vững cuộc kháng chiến lâu dài. Quân dân hai tỉnh đã tham gia làm làng kháng

quyết liệt. Sau khi bình định xong một số tỉnh ở đồng bằng Bắc bộ, thực dân Pháp
mở rộng phạm vi đánh chiếm ra các tỉnh trung du phía bắc nhằm cắt đứt đƣờng liên
lạc giữa các tỉnh với chiến khu Việt Bắc. Đến cuối năm 1949, chúng đã chiếm đƣợc
32 vị trí trên địa bàn hai tỉnh. Trung ƣơng Đảng đã kịp thời có chỉ thị “Về công tác
ở vùng địch chiếm” vạch rõ phƣơng châm, biện pháp cho các địa phƣơng chuyển
hƣớng đấu tranh trong tình hình mới. Các huyện của hai tỉnh đều nắm bắt chủ
trƣơng của Trung ƣơng và đã đề ra kế hoạc chỉ đạo cụ thể với các xã. Huyện ủy
Bình Xuyên đã đề ra kế hoạch: “ở vùng địch hậu, lấy đấu tranh chính trị là chủ yếu,
hết sức tránh địch khủng bố để giữ vững cơ sở bảo toàn lực lƣợng; đối với những xã
là khu du kích thì vừa đấu tranh chính trị vừa đấu tranh vũ trang, phá tề trừ gian; các
xã ở vùng tự do tập trung giữ vững chính quyền, xây dựng lực lƣợng, chống địch
càn quét” [4, tr.25].
24


Trích đoạn Phối hợp với chiến trường chính trong Đông Xuân 1953-1954, mở rộng khu du kích Một số kinh nghiệm lịch sử rút ra
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status