đảng bộ tỉnh vĩnh phúc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa nông thôn tu nam 1997 den nam 2010 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN HỒNG QUÂN

ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ Ở NÔNG THÔN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học : PGS, TS. Đỗ Ngọc Ninh

HÀ NỘI, 2012


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
PHẦN MỞ ĐẦU.........................................................................................................

1

Chương 1: ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỜI
SỐNG VĂN HOÁ Ở NÔNG THÔN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000......................


14

1.2.1.2. Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời
sống văn hóa ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2000....................................................

17

1.2.2. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn
từ năm 1997 đến năm 2000 và kết quả.............................................................................

23

1.2.2.1. Về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội,
mừng thọ............................................................................................................................

1

23


1.2.2.2. Về xây dựng Gia đình văn hoá, Làng văn hoá. ..................................

30

1.2.2.3. Về xây dựng hương ước, quy ước......................................................

35

1.2.2.4. Về xây dựng thiết chế văn hoá...........................................................



2.2.1. Về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ.

55

2.2.2. Về Xây dựng Gia đình văn hoá, Làng văn hoá. .........................................

61

2.2.3. Về Xây dựng hương ước, quy ước...............................................................

67

2.2.4. Về xây dựng thiết chế văn hoá.....................................................................

71

Tiểu kết.......................................................................................................................

74

Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM......................................

77

3.1. Một số nhận xét về Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời sống
văn hóa ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2010.........................................................

77


87

3.1.2.2. Khách quan................................................................................................

88

3.2. Một số kinh nghiệm về Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời
sống văn hóa ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2010................................................

89

3.2.1. Kinh nghiệm về nhận thức và chỉ đạo.........................................................

89

3.2.2. Kinh nghiệm về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang,
lễ hội, mừng thọ.................................................................................................................

90

3.2.3. Kinh nghiệm về xây dựng Gia đình văn hoá, Làng văn hoá........................

92

3.2.4. Kinh nghiệm về xây dựng hương ước, quy ước..........................................

93

3.2.5. Kinh nghiệm về xây dựng thiết chế văn hoá...............................................


HĐND

Hội đồng nhân dân

LVH

Làng văn hoá

MTTQ

Mặt trận Tổ quốc

UBND

Ủy ban nhân dân

UBMTTQ

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc

4


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết đề tài.
Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đi qua chặng
đường hơn 25 năm, thu được những kết quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Cùng với
những thành tựu quan trọng về kinh tế, an ninh - quốc phòng, đối ngoại, vấn đề
phát triển văn hoá - xã hội và xây dựng con người luôn luôn được Đảng coi trọng
và đạt kết quả đáng khích lệ.

Nhận thức sâu sắc về vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết về xây dựng
đời sống văn hóa ở nông thôn và việc thực hiện chủ trương, đường lối, nghị
quyết của Đảng, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai mạnh mẽ công tác này.
Trong thời gian qua, đời sống văn hóa ở nông thôn Vĩnh Phúc đã có nhiều thay
đổi theo hướng tích cực, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc. Tuy nhiên nông
thôn Vĩnh Phúc phải đối diện với những thách thức lớn như: tình trạng mê tín dị
đoan, các hủ tục, những thói quen lạc hậu, nạn bạo hành, ô nhiễm môi trường
vẫn còn diễn biến phức tạp. Bên cạnh đó, việc cưới, việc tang vẫn còn rờm rà
gây phiền hà trong khu dân cư; ở nhiều nơi truyền thống gia đình, hàng xóm
đang bị xem nhẹ. Nhiều nơi đã gắn bảng Khu dân cư văn hóa, song còn mang
tính hình thức, ở đó còn nhiều vấn đề văn hóa chưa đạt yêu cầu. Tình hình nêu
trên do nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân chủ yếu thuộc về sự lãnh đạo của
Đảng bộ Tỉnh đối với xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn, nhất là từ năm
1997 (năm tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập) đến nay. Nghiên cứu sự lãnh đạo của
Đảng bộ tỉnh đối với việc xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ năm 1997
đến nay, mà trọng tâm từ năm 1997 đến năm 2010 là rất cần thiết, để rút ra
những điều bổ ích, làm cơ sở cho việc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hoá của
Đảng bộ tỉnh trong những năm tới đạt kết quả cao hơn.

6


Để góp phần vào công việc nêu trên, tôi chọn và thực hiện đề tài luận văn
Thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam: “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo
xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2010”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn.
Việc xây dựng đời sống văn hoá ở nông thôn được triển khai rộng khắp
trong cả nước, ở Trung ương cũng như các tỉnh đều có những công trình nghiên
cứu được đăng tải trên các sách, báo, tạp chí:
- Bộ Văn hóa Thông tin, Cục văn hóa Thông tin cơ sở (1997), Một số vấn

này, điển hình như:
- Ban chỉ đạo Trung ương (2000), Hỏi và đáp về phong trào Toàn dân xây
dựng đời sống văn hóa, Nxb Hà Nội, Hà Nội. Cuốn sách đã giải đáp những vấn
đề cơ bản về phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá", từ nội
hàm khái niệm cho đến việc hướng dẫn thực hiện phong trào.
- Văn Đức Thanh (2001), Về xây dựng Môi trường văn hóa cơ sở, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Xuất phát từ việc phân tích về khái niệm văn hoá,
tác giả đã đưa ra một cách nhìn nhận chi tiết về môi trường văn hoá ở nông thôn,
đồng thời nhấn mạnh đến những yếu tố cần thiết phải xây dựng môi trường văn
hoá lành mạnh và một hệ thống các giải pháp để làm được điều đó.
- Lê Quý Trấn, Nguyễn Văn Tam, Trần Thị Ánh Tuyết (2001),“Hội nông
dân Việt Nam với phong trào gia đình văn hoá, thôn ấp, bản, làng văn hoá", Nxb
Lao Động, Hà Nội. Trong công trình này nhóm tác giả đã nêu bật được vai trò
của Hội nông dân với phong trào xây dựng gia đình văn hoá, thôn, ấp, bản, làng
văn hoá. Đồng thời đề cập đến những việc đã làm được và chưa làm được của
Hội nông dân đối với phong trào. Từ đó các tác giả rút ra những giải pháp cần
thiết để nâng cao vai trò của Hội nông dân với phong trào.
- Bu Thoong Chít Ma Ni - Trưởng Ban tổ chức Trung ương, Đảng Nhân
dân Cách mạng Lào, Luận án tiến sĩ bảo vệ tại Học viện Chính trị - Hành chính

8


quốc gia Hồ Chí Minh (2010), “Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lãnh đạo xây
dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay”. Luận án đã trình bày một cách
hệ thống quá trình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của Đảng Nhân dân Cách
mạng Lào, trong đó vai trò của yếu tố văn hoá là rất quan trọng.
Đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ
thống về quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hoá
ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2010.

cáo của Ủy ban Nhân dân, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc, các văn
bản khác của các tổ chức, cơ quan trong tỉnh có liên quan đến văn hóa.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác – Lênin và sử dụng các phương pháp lịch sử - logic, phân tích – tổng
hợp, điều tra, khảo sát, tổng kết thực tiễn.
6. Đóng góp của luận văn.
- Những kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn từ
năm 1997 đến năm 2010 của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham
khảo cho Tỉnh uỷ và các cấp uỷ trong tỉnh trong quá trình lãnh đạo xây dựng đời
sống văn hoá ở nông thôn trong những năm tới và cho các nhà nghiên cứu quan
tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa
ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2000.
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở
nông nông thôn từ năm 2001 đến năm 2010.
Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm.

10


Chương 1
ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ Ở NÔNG THÔN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000
1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hoá tỉnh
Vĩnh Phúc và đời sống văn hoá ở nông thôn trước năm 1997.
1.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh

hoá mang đậm dấu ấn lịch sử và giá trị tâm linh như: danh thắng đền thờ Quốc
mẫu Tây Thiên, thiền viện trúc lâm Tây Thiên, tháp Bình Sơn, di chỉ khảo cổ
học Đồng Đậu... có gần 250 di tích lịch sử, văn hoá đã được xếp hạng. Những
làng nghề nổi tiếng như làng gốm Hương Canh, làng rèn Lý Nhân, làng mộc
Bích Chu, làng thương mại Thổ Tang...
Trong những năm qua Vĩnh Phúc đã đạt được những thành tựu nổi bật về
phát triển kinh tế - xã hội, nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và bền vững.
Vào thời điểm tái lập tỉnh, xuất phát điểm nền kinh tế rất thấp, kinh tế thuần
nông, tỷ trọng nông nghiệp chiếm trên 52% giá trị GDP, công nghiệp chiếm
12,86%; thu nhập bình quân đầu người là 140 USD; thu ngân sách gần 100 tỷ
đồng. Sau khi tái lập tỉnh, tăng trưởng bình quân GDP từ năm 1997 đến năm
2000 đạt 17,8%, giai đoạn 2001-2006 đạt 16,2%, giai đoạn 2006-2010 đạt là
18,0%/năm. Năm 2007 cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: công
nghiệp, xây dựng chiếm 61,06%; dịch vụ chiếm 24,68%; nông, lâm, thủy sản
14,25%. Các nguồn lực được khai thác hiệu quả, thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài đạt cao.
Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ. Đặc biệt trong lĩnh vực giáo
dục- đào tạo, Vĩnh Phúc sớm đạt được các chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng
độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở (từ năm 2002); tỷ lệ lao động qua
đào tạo năm 2007 đạt 36,4%. Duy trì được vị trí là một trong những địa phương
dẫn đầu cả nước về tỷ lệ học sinh đỗ vào các trường đại học, cao đẳng. Công tác

12


chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quan tâm, các dịch vụ y tế ngày càng được
đảm bảo, năm 2007, toàn tỉnh có gần 90% xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế
xã; 80% trạm y tế xã, phường có bác sỹ; tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi
giảm dần còn 18,7%.
Vĩnh Phúc cũng là xứ sở của nhiều làn điệu dân ca đặc sắc như: Xoan

trên những giá trị văn hóa truyền thống của gia đình. Đồng thời trong quá trình
xây dựng gia đình văn hóa phải biết giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Đó là cơ sở rất quan trọng để xây dựng tư tưởng, đạo đức lối sống tốt đẹp, xây
dựng đời sống văn hóa lành mạnh từ trong mỗi gia đình, chống lại sự xâm nhập
của các tệ nạn xã hội và những tác động xấu từ mặt trái của cơ chế thị trường
hiện nay đến đời sống văn hoá cộng đồng.
Xây dựng gia đình văn hóa là xây dựng mô hình gia đình phù hợp với tiến
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Xây dựng gia
đình văn hóa vừa phải kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt
đẹp của gia đình, vừa xây dựng những giá trị văn hoá của gia đình trong thời kỳ
mới phù hợp với sự vận động phát triển của xã hội văn minh, nhằm mục tiêu làm
cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi người.
Ba là, xây dựng hương ước, quy ước:
Hương ước là bản ghi chép các điều lệ liên quan đến đời sống của cộng
đồng dân cư sinh sống trong làng, được hình thành dần dần trong lịch sử, được
điều chỉnh và bổ sung khi cần thiết. Các điều ấy, trong các chế độ xã hội trước
đây thường gọi là lệ làng. Hương ước còn có cách gọi khác như: Hương biên,
hương lệ, hội đình, hội ước…
Trong xã hội hiện đại, hương ước có thể xem là hệ thống các quy định tồn
tại song song với pháp luật nhưng không đối lập với pháp luật. Hương ước đề
cập tới những nội dung cụ thể gắn với hoàn cảnh phong tục, tập quán lâu đời của
từng làng, là những nội dung mà các bộ luật của Nhà nước không đề cập đến.

14


Hương ước được xây dựng trên cơ sở những mối quan hệ giữa các thành
viên của cộng đồng làng, xã với nhau, giữa mỗi thành viên với cộng đồng, giữa
các cộng đồng nhỏ trong làng (xóm, họ…) và làng.
Hương ước không chỉ đề ra các hình thức trừng phạt với các việc làm sai

sống văn hoá ở nông thôn.
Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hoá ở nông thôn: Các địa phương đã
quan tâm đến vấn đề này, nhưng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hoá nhìn
chung chưa đáp ứng được yêu cầu trong điều kiện hiện nay. Ở cấp xã chỉ có một
cán bộ chuyên trách làm công tác văn hoá, ở nhiều thôn, xóm cán bộ làm công
tác văn hoá phải kiêm nhiệm hoặc không có. Cán bộ làm công tác văn hoá là bộ
phận cấu thành có tính quyết định vấn đề thiết chế văn hoá nông thôn. Vì vậy,
phải bắt đầu từ khâu cán bộ có năng lực, sở trường để đào tạo, đào tạo lại, đồng
thời có phương án tăng thêm về số lượng cán bộ văn hoá cho cấp xã, thôn xóm.
Các cơ chế, chính sách văn hoá nông thôn: Đảng và Nhà nước đã ban
hành nhiều chính sách để xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là cơ sở rất quan trọng để xây dựng cơ chế, chính
sách văn hoá nông thôn.
1.1.3. Khái quát về đời sống văn hoá ở nông thôn Vĩnh Phúc trước năm
1997.
* Thành tựu:
Đời sống văn hoá ở nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc so với thời kỳ trước đổi
mới đã có bước phát triển, tiến bộ rõ rệt, nhiều nét mới về giá trị văn hoá, đạo
đức và lối sống của nhân dân từng bước được hình thành. Đó là tính năng động,
tính tích cực của công dân, không khí dân chủ, cởi mở trong xã hội từng bước
được tăng lên.
Bước đầu hình thành một số nghi thức mới trong việc cưới, việc tang, lễ
hội, mừng thọ. Cải tạo có kết quả một bước phong tục tập quán lạc hậu, đạo lý
uống nước nhớ nguồn, hiếu thảo, thuỷ chung được phát huy.

16


Cuộc vận động xây dựng GĐVH, LVH đã đạt được những kết quả đáng
kể. Kinh tế có bước phát triển và tăng trưởng tương đối cao, đời sống nhân dân

thiếu sự phê phán, chọn lọc, đang có khuynh hướng phục hồi và phát triển.
Cuộc vận động xây dựng dựng GĐVH, LVH còn nhiều hạn chế, yếu kém,
kết quả đạt được không đồng đều. Đời sống nhân dân tuy có bước cải thiện,
nhưng nhìn chung vẫn còn khó khăn. Các tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn có
hiệu quả, ở nhiều nơi lại có chiều hướng gia tăng. Tình hình phạm pháp, mâu
thuẫn trong nhân dân, khiếu kiện đông người còn xảy ra phức tạp ở một số nơi.
Việc xây dựng hương ước, quy ước làng xã ở một số nơi chưa được sự
quan tâm thường xuyên của cấp uỷ, chính quyền và sự phối hợp của các ban
ngành, đoàn thể trong Tỉnh.
Thời lượng phát sóng, phát hình của Đài phát thanh và truyền hình Tỉnh
tuy đã tăng, nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu của nhân dân . Báo Vĩnh Phúc
tuần 3 kỳ, song số lượng phát hành còn ít. Kinh phí đầu tư cho xây dựng nhà văn
hoá thôn, xã, các công trình văn hoá, thể thao còn hạn chế. Các văn bản pháp quy
về hoạt động văn hoá còn chưa đầy đủ và đồng bộ nên hạn chế việc quản lý các
hoạt động văn hoá trên địa bàn Tỉnh. Bộ máy tổ chức và quản lý văn hoá chưa
đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển văn hoá trong thời kỳ mới.
1.2. Quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng đời
sống văn hóa ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2000 và sự lãnh đạo của
Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc.
1.2.1. Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời
sống văn hóa ở nông thôn từ năm 1997 đến năm 2000.
1.2.1.1. Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời
sống văn hóa ở nông thôn trước năm 1997.
Việt Nam có một nền văn hóa lâu đời, phát huy giá trị to lớn trong sự
nghiệp dựng nước và giữ nước. Từ khi Đảng ra đời, nhất là từ khi trở thành Đảng
18


cầm quyền, Đảng luôn quan tâm đến sự phát triển văn hoá dân tộc. Cùng với quá
trình thực hiện đường lối cách mạng, đường lối văn hóa của Đảng cũng dần được




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status