Đảng bộ tỉnh ninh bình lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở 1998 2007 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------

TẠ THỊ MỸ LINH

ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO XÂY
DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở CƠ SỞ
(1998 – 2007)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ


Hà Nội – 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------

TẠ THỊ MỸ LINH

ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO XÂY
DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở CƠ SỞ
(1998 – 2007)
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: TS. Đinh Quang Hải

Hà Nội – 2009


2.3.3.4. Xây dựng các thiết chế văn hoá cơ sở ......................................................... 87

1


2.3.3.5. Phát động và thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa ở khu dân cư” .................................................................................... 90
Chương 3: THỰC TRẠNG, BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ Ở CƠ SỞ CỦA TỈNH NINH
BÌNH ........................................................................................................................ 97
3.1. Thực trạng xây dựng đời sống văn hoá cơ sở ở Ninh Bình trong những
năm 1998 – 2007 ..................................................................................................... 97
3.1.1. Những thành tựu trong công tác xây dựng đời sống vă hóa cơ sở ở Ninh
Bình ......................................................................................................................... 97
3.1.1.1. Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội ............. 97
3.1.1.2. Xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước nếp sống văn hoá và phong trào
xây dựng gia đình, làng, phố, cơ quan, trường học văn hoá, khu dân cư tiên tiến,
xuất sắc .................................................................................................................... 100
3.1.1.3. Xã hội hoá hoạt động văn hoá và thiết chế văn hoá ở cơ sở .................... 103
3.1.1.4. Thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo, làm giàu hợp pháp ở cơ sở ....... 105
3.1.1.5. Xây dựng môi trường cảnh quan, chấp hành nghiêm việc thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở ....................................................................................................... 108
3.1.1.6. Công tác phát triển sự nghiệp văn hoá ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và
vùng đồng bào có đạo ............................................................................................. 110
3.1.1.7. Đánh giá chung về nguyên nhân của những thành tựu đã đạt được ........ 111
3.1.2. Những tồn tại, hạn chế trong công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
của tỉnh Ninh Bình ................................................................................................ 112
3.1.2.1. Công tác chính trị tư tưởng chưa thật vững chắc ..................................... 112
3.1.2.2. Việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội còn
hạn chế .................................................................................................................... 112


CNH, HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

GDP

Gross domestic product (Tổng sản
phẩm quốc nội)

HĐND

Hội đồng nhân dân

KDC

Khu dân cư

NQTƯ 5

Nghị quyết Trung ương 5

MTTQ

Mặt trận Tổ quốc

UBND

Ủy ban nhân dân



5

Tr. 102


BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH NINH BÌNH

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình cung cấp

6


“Đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, bảo đảm mỗi nhà
máy, nông trường, lâm trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân,
cơ quan, trường học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi xã, hợp tác xã, phường, ấp đều có
đời sống văn hoá”.
(Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ V, tập 1, NXB Sự
thật, Hà Nội, 1982, tr 102)

7


PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam hơn hai mươi năm qua đã đạt được những
bước tiến vững chắc. Đi đôi với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đòi hỏi phải
gắn chặt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với việc xây dựng nền văn hoá mới
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang tạo ra

trương triển khai thực hiện Nghị quyết vào đời sống văn hoá ở cơ sở, tạo cho Ninh
Bình có những bước phát triển mới.
Những kết quả đạt được của tỉnh Ninh Bình trong việc xây dựng đời sống
văn hoá ở cơ sở đã có ý nghĩa thực tiễn hết sức sâu sắc đối với việc phát triển kinh
tế, văn hoá, xã hội; đồng thời khẳng định sự đúng đắn của đường lối, chính sách văn
hoá của Đảng và năng lực lãnh đạo xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở của Đảng bộ
tỉnh Ninh Bình.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc xây dựng đời sống văn
hoá ở cơ sở của Ninh Bình cũng đang gặp phải nhiều vấn đề bất cập do nhiều
nguyên nhân chủ quan và khách quan mang lại. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về
quá trình Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở
(1998 – 2007) là hết sức cần thiết. Trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm
và những giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả hơn nữa việc xây dựng đời sống
văn hoá ở cơ sở của tỉnh Ninh Bình hiện nay.
Với những ý nghĩa trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Ninh
Bình lãnh đạo xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở (1998 – 2007)” làm đề tài luận
văn Thạc sỹ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam..
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc xây dựng đời sống văn hoá cơ sở được triển khai rộng khắp trong cả
nước nên gần như tỉnh nào cũng có những công trình nghiên cứu hoặc những bài
viết về vấn đề này đăng tải trên các báo, tạp chí. Có thể nêu ra một số công trình
tiêu biểu sau đây:
Năm 1995, Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc xuất bản cuốn sách “Chủ động
sáng tạo xây dựng đời sống văn hoá ở sở sở”. Bên cạnh việc chỉ rõ vai trò của việc
xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, nội dung cuốn sách đã đề cập đến một số biện

9


pháp nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo trong xây dựng đời sống văn hoá ở cơ



- “Hỏi và đáp về phong trào toàn dân đoàn kết xây dụng đời sống văn
hoá” (2000), Ban chỉ đạo đời sống văn hoá, Hà Nội. Cuốn sách đã giải đáp những
vấn đề cơ bản về phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, từ nội
hàm khái niệm cho đến việc hướng dẫn việc thực hiện phong trào.
- “Vấn đề xây dựng môi trường văn hoá cơ sở” (2001), Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội. Xuất phát từ việc phân tích về khái niệm văn hoá, tác giả đã đưa
ra một cách nhìn nhận chi tiết về môi trường văn hoá cơ sở; đồng thời nhấn mạnh
đến những yếu tố cần thiết phải xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh ở cơ sở và
một hệ thống các giải pháp để làm được điều đó.
- “Hội nông dân Việt Nam với phong trào gia đình văn hoá, thôn ấp,
bản, làng văn hoá” của các tác giả Lê Quý Trấn, Nguyễn Văn Tam, Trần Thị Ánh
Tuyết, Nxb Lao Động, Hà Nội, 2001. Trong công trình này, nhóm tác giả đã nêu bật
được vai trò của Hội nông dân với phong trào xây dựng gia đình văn hoá, thôn, ấp,
bản, làng văn hoá; đồng thời đề cập đến những việc đã làm được và chưa làm được
của Hội nông dân đối với phong trào. Từ đó các tác giả rút ra những đánh giá tổng
kết, những bài học kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp cần thiết để nâng cao
vai trò của Hội nông dân với phong trào.
Tuy nhiên, viết về đời sống văn hoá ở cơ sở của Ninh Bình một cách toàn
diện và có hệ thống dưới góc độ lịch sử cho đến nay chưa có một cuốn sách chuyên
khảo nào. Về nội dung này mới chỉ có một số Kỷ yếu Hội thảo và Báo cáo bước đầu
tổng kết đời sống văn hoá ở cơ sở. Trong đó đáng chú ý có Kỷ yếu Hội nghị tổng
kết năm năm phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá tỉnh Ninh
Bình 2001- 2005”. Kỷ yếu bao gồm một hệ thống các Báo cáo tổng kết và Báo cáo
tham luận của các đại biểu ở các địa phương tiêu biểu trên địa bàn tỉnh về những
mặt đã làm được và chưa làm được của việc thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sống văn hoá” từ năm 2001 – 2005. Trên cơ sở tổng kết những bài
học kinh nghiệm, các Báo cáo tham luận cũng đưa ra những phương hướng để đẩy
mạnh phong trào trong những năm tiếp theo.

chủ trương của Đảng trong việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, góp phần xây
dựng nền văn hoá Việt Nam trong thời kỳ mới.
- Khẳng định tầm quan trọng và ý nghĩa thực tiễn của việc xây dựng đời sống
văn hoá cơ sở do Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo đối với sự nghiệp xây dựng và
phát triển kinh tế - văn hoá – xã hội của tỉnh.
- Trên cơ sở đánh giá những thành tựu và những tồn tại, hạn chế trong việc
xây dựng đời sống văn hoá cơ sở của Ninh Bình, luận văn rút ra một số bài học kinh
nghiệm và giải pháp đối với việc xây dựng đời sống văn hoá cơ sở của tỉnh Ninh
Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng
bộ tỉnh Ninh Bình trong việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là khoảng thời gian từ năm 1998 đến năm
2007. Đây là khoảng thời gian ghi nhận những nỗ lực rất lớn của Đảng bộ, các ban

12


ngành và nhân dân Ninh Bình trong việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở. Việc
đẩy mạnh xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở của tỉnh Ninh Bình trong khoảng thời
gian từ năm 1998 đến năm 2007 chính là việc cụ thể hoá chiến lược xây dựng nền
văn hoá mới được đề ra tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ năm khoá
VIII (1998).
- Phạm vi nghiên cứu không gian của đề tài là toàn bộ địa bàn của tỉnh Ninh
Bình.
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tài liệu để thực hiện mục tiêu mà đề tài đưa ra, nguồn tài liệu chính
được sử dụng trong luận văn là:
- Các văn kiện của Đảng và Nhà nước: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ V, VI, VII, VIII, IX, X của Đảng; Văn kiện Hội nghị Trung ương lần

6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3
chương:
Chương 1. Vấn đề xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh Ninh Bình.
Chương 2. Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo xây dựng đời sống văn hoá ở cơ
sở (1998 – 2007).
Chương 3. Thực trạng, bài học kinh nghiệm và một số giải pháp trong việc
xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở của tỉnh Ninh Bình.

14


Chương 1
VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ Ở CƠ SỞ
TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
CỦA TỈNH NINH BÌNH
1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội của tỉnh Ninh Bình.
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Tỉnh Ninh Bình nằm ở cực Nam đồng bằng Bắc Bộ, nơi tiếp giáp và ngăn
cách với phía Bắc của miền Trung bởi dãy núi Tam Điệp đã đi vào lịch sử. Phía Bắc
của tỉnh giáp huyện Thanh Liêm (Hà Nam) với chiều dài 15 km; phía Tây Bắc giáp
hai huyện Yên Thuỷ và Lạc Thuỷ của tỉnh Hoà Bình với chiều dài 66 km; phía Tây
và Tây Nam giáp các huyện Thạch Thành, Hà Trung và Nga Sơn của tỉnh Thanh
Hoá với chiều dài 87 km; phía Nam là vịnh Bắc Bộ với chiều dài 16,5 km; phía
Đông và Đông Bắc giáp hai huyện Ý Yên và Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định, lấy
con sông Đáy làm ranh giới với chiều dài 87 km.
Trên bản đồ Việt Nam, tỉnh Ninh Bình tiếp giáp với tam giác châu thổ Bắc
Bộ, phía Đông là đồng bằng, phía Nam là biển Đông, dãy núi Tam Điệp là giải phân
cách giữa đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Là tỉnh nằm trong khu vực đồng

Ninh Bình có hệ thống sông khá phong phú với tổng chiều dài hơn 400 km.
Điển hình nhất là sông Đáy chạy dọc tỉnh và đổ ra biển. Hệ thống sông ngòi của
Ninh Bình ngoài tác dụng tạo nguồn sinh thuỷ lớn để cung cấp nước cho nhu cầu
của đời sống dân cư, còn có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình sản xuất nông
nghiệp và giao thông vận tải.
1.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội
Ninh Bình là một vùng đất có lịch sử lâu đời. Theo “Ninh Bình toàn tỉnh địa
chí khảo biên” của tác giả Nguyễn Tử Mẫn thì từ cổ xưa vùng đất này thuộc trấn
Nam Giao, nhà Tần thuộc Tượng Quận, nhà Hán gọi nơi đây là Giao Chỉ. Trải qua
nhiều biến đổi về địa danh, đến năm Minh Mạng thứ 10 (1829) trấn Ninh Bình
chính thức ra đời. Và đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831) đổi trấn Ninh Bình thành
tỉnh Ninh Bình [106, tr. 10].
Sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, tại kỳ họp thứ hai, ngày
27/12/1975, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá V đã quyết định hợp
nhất tỉnh Ninh Bình và tỉnh Nam Hà thành tỉnh Hà Nam Ninh. Trước khi tái lập
tỉnh, Ninh Bình có 6 huyện và một thị trấn trực thuộc tỉnh, đó là các huyện Nho
Quan, Gia Viễn, Gia Khánh, Yên Khánh, Yên Mô, Kim Sơn và thị trấn Tam Điệp.

16


Ngày 26/12/1991, Kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam khóa VII quyết định tái lập tỉnh Ninh Bình trên cơ sở chia tách tỉnh Hà
Nam Ninh. Tỉnh Ninh Bình chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/4/1992.
Đến nay tỉnh Ninh Bình có 1 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện bao gồm: thành
phố Ninh Bình, thị xã Tam Điệp (với 3 phường và 26 xã), huyện Yên Khánh (1 thị
trấn và 16 xã), huyện Nho Quan (1 thị trấn và 26 xã), huyện Gia Viễn (1 thị trấn và
20 xã), huyện Hoa Lư (1 thị trấn và 19 xã), huyện Kim Sơn (2 thị trấn và 25 xã),
huyện Yên Mô (1 thị trấn và 17 xã) [36, tr. 12].
Người dân Ninh Bình sống chủ yếu bằng nghề nông. Ngoài trồng lúa, người

15,6%, năm 2007 đạt 15,9%. GDP bình quân đầu người từ 6,4 triệu đồng/năm 2006
lên gần 7,9 triệu đồng/năm 2007, trong khi bình quân GDP tính theo đầu người của
các tỉnh khu vực đồng bằng sông Hồng năm 2007 là 6,965 triệu đồng. Như vậy đến
năm 2007 Ninh Bình đã đạt mức GDP tính theo đầu người cao hơn bình quân các
tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Hồng. Tuy vậy, so với yêu cầu và tiềm năng thì
như trong báo cáo Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã đánh giá: “Tốc độ chuyển dịch
cơ cấu kinh tế còn chậm”. Cơ cấu kinh tế trong GDP năm 2007: Công nghiệp - xây
dựng chiếm 40%; Nông - Lâm - Ngư nghiệp chiếm 26%; Dịch vụ chiếm 34%.
Nguyên nhân là do tuy công nghiệp đã tăng nhanh nhưng thu hút đầu tư nước ngoài
còn ít, chưa kêu gọi được những tập đoàn kinh tế mạnh, có năng lực lớn đầu tư vào
địa bàn tỉnh. Một số dự án triển khai chậm. Khả năng cạnh tranh của một số sản
phẩm công nghiệp còn yếu. Hiệu quả hoạt động du lịch chưa tương xứng với tiềm
năng và nguồn lực đã đầu tư [124, tr 1].
Sự tăng trưởng của nền kinh tế đã góp phần cải thiện đời sống nhân dân
trong tỉnh trên tất cả các lĩnh vực. Thu nhập bình quân trên đầu người đạt 4 triệu
đồng/năm. Mức chênh lệch giữa thành thị và nông thôn đã ngày càng được rút ngắn.
Nhiều hộ gia đình có thu nhập tương đối cao, đã mua sắm được những tiện nghi đắt
tiền phục vụ cho cuộc sống.
Sự nghiệp giáo dục của tỉnh cũng đạt được những thành tựu mới. Công tác
giáo dục đã thực sự được lãnh đạo chính quyền và nhân dân quan tâm đúng mức.
Hệ thống giáo dục phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu ở tất cả các cấp học và
ngành học.

18


Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân cũng có những tiến bộ đáng kể.
Năm 2004 toàn tỉnh đã có 52% số trạm y tế xã, phường có bác sĩ, đạt tỷ lệ 4,3 bác
sĩ/1 vạn dân [36, tr 39].
Hoạt động văn hoá nghệ thuật cũng đạt được những thành công mới. Số buổi

phần hữu cơ trong đời sống chung của xã hội.
Trong khi đó đơn vị cơ sở là nơi giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong tiến
trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia; là nơi quần chúng nhân dân lao
động hàng ngày, là địa bàn hội tụ lực lượng, tạo ra sức mạnh tổng hợp để phát triển
kinh tế, ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, xây dựng nền văn hoá, bồi dưỡng
con người mới, bảo đảm đời sống của nhân dân và tái sản xuất mở rộng. Bởi vậy
việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở được coi là một trong những nhiệm vụ cơ
bản và thường xuyên của công cuộc xây dựng nền văn hoá mới và con người Việt
Nam mới. Nó đáp ứng nhu cầu văn hoá ngày càng cao của nhân dân. Từ đó nâng
cao mức sống văn hoá tinh thần của con người đi đôi với việc nâng cao mức sống
vật chất.
Cơ sở còn là nơi trực tiếp động viên, giáo dục xã hội và phát triển cá nhân.
Việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở nhằm thực hiện nhiệm vụ đưa văn hoá
thâm nhập vào cuộc sống, làm cho văn hoá ngày càng trở thành yếu tố khăng khít
của đời sống xã hội và mọi hoạt động của quần chúng nhân dân, thành một lực
lượng sản xuất quan trọng. Vì vậy, việc xây dựng đời sống văn hoá cơ sở sẽ thực
hiện một phần nhiệm vụ của cuộc cách mạng tư tưởng văn hoá.
Ngày nay, việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở được xác định là một
trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm của toàn Đảng và toàn dân. Đồng thời nó
là một bộ phận cấu thành có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần thể
hiện chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng. Đơn vị cơ sở
trong việc tổ chức xây dựng đời sống văn hoá cơ sở được xác định theo tinh thần
NQTƯ 5 (khoá VIII) - Nghị quyết riêng về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt
Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc - là nhà máy, công trường, nông
trường, lâm trường, đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, cơ quan, trường
học, bệnh viện, làng, xã, phường, ấp, bản vùng dân cư, gia đình, họ tộc. Đó là
những cộng đồng người có địa bàn sinh sống hoặc lao động, công tác theo một tổ
chức hành chính, kinh tế – xã hội nhất định, có đời sống kinh tế và văn hoá tinh
thần lành mạnh, phong phú; xây dựng được những đơn vị văn minh, trong sạch,



Nâng cao trình độ dân trí.

21


-

Có các hoạt động giáo dục văn hoá về nhiều mặt: thông qua hoạt động

của các thư viện, những buổi sinh hoạt ở câu lạc bộ sẽ giáo dục những truyền thống
tốt đẹp, phổ biến kiến thức, trao đổi kinh nghiệm.
-

Có các hoạt động thông tin đại chúng rộng khắp và đều đặn như việc

nghe đài, đọc sách báo, hoạt động của đội thông tin.
-

Có sự chỉ đạo và thực hiện tốt việc xây dựng phong tục mới tốt đẹp,

tạo nên nếp sống mới có đạo lý và có văn hoá.
-

Có phong trào hoạt động văn hoá nghệ thuật theo hai chiều, bao gồm

việc truyền bá những giá trị văn hoá cao đẹp của dân tộc và nhân loại và phát động,
tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào sáng tạo văn hoá.
-


triệt để khi tạo ra được sự đổi mới trong thói quen và hành vi, trong cách ứng xử
của mọi người. Như vậy, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở đồng nghĩa với việc
xoá bỏ nguồn gốc sản sinh ra những hủ tục, tập quán xấu và lạc hậu, góp phần tạo
nên diện mạo mới cho cơ sở.
Nói cách khác việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở sẽ tác động trực tiếp
và ngay lập tức tới mọi tầng lớp nhân dân lao động, tới đời sống của mỗi người dân
và mang lại cho họ những yếu tố hạnh phúc của đời sống. Đồng thời nó tạo ra tính
tích cực, chủ động của nhân dân để thúc đẩy, hình thành và phát triển ý thức làm
chủ tập thể về văn hoá của nhân dân.
Bên cạnh đó, việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở sẽ góp phần làm cho
văn hoá thấm sâu vào cuộc sống, thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội
(nhất là ở nông thôn) theo hướng Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá (CNH, HĐH),
hình thành một đời sống chính trị tinh thần bền vững; tạo ra một bộ mặt xã hội ngày
càng văn minh, trật tự, ổn định; môi trường văn hoá tinh thần ngày càng lành mạnh
phong phú, nâng cao chất lượng cuộc sống ở mỗi cơ sở. Và đặc biệt, nó còn nâng
cao sức mạnh, khả năng đóng góp của người dân, thúc đẩy hình thành phẩm chất,
năng lực mới của người lao động cho quá trình CNH, HĐH.
1.3. Vấn đề xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở của tỉnh Ninh Bình trước
năm 1998.
Trong thời kỳ bao cấp kéo dài, các địa phương trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
đã lấy cấp xã làm đơn vị để xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở. Chương trình đó
được áp dụng trên 6 mặt hoạt động bao gồm: thông tin, cổ động, văn nghệ quần

23


Trích đoạn Xây dựng làng, bản, phố phường văn hoá, cơ quan, trường học văn hoá Nhóm giải pháp tổng thể
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status