Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời cảm ơn
Trong quá trình làm khoá luận tốt nghiệp, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn với
Ban giám hiệu cùng toàn thể các thầy giáo cô giáo những ngời đã hết lòng vì
học sinh thân yêu không tiếc mồ hôi công sức truyền thụ cho tôi lý luận và thực
tiễn. Đặc biệt là tôi xin chân thành cảm ơn thầy Vũ Đạt trờng Đại học Công
đoàn, thầy đã trực tiếp hớng dẫn tôi viết đề tài luận văn tốt nghiệp.
Cũng nhân dịp này tôi xin đợc chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo
Liên đoàn lao động quận Hai Bà Trng
Đồng chí Vũ Tiến Sửu Chủ tịch LĐLĐ quận Hai Bà Trng
Đồng chí Trần Văn Chín Phó chủ tịch LĐLĐ quận Hai Bà Trng
Đồng chí Lê Thuý Hoà - Thờng vụ LĐLĐ quận Hai bà Trng
đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thực tập tại cơ sở
Nhờ những sự giúp đỡ quý báu đó, tôi đã hoàn thành đợc khoá luận tốt
nghiệp này, nhng với lợng kiến thức còn hạn chế, chắc chắn khoá luận còn
nhiều thiếu sót, tôi mong nhận đợc sự chỉ đạo, góp ý của các thầy, cô
Tôi xin chân thành cảm ơn
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Phần 1: mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công tác xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở đợc nêu ra từ lâu nhng mãi
đến Đại hội lần thứ V của Đảng công tác này đợc đa vào nghị quyết với những
nội dung, mục tiêu cụ thể. Và từ đó đến nay, các ngành , các cấp đang nỗ lực
biến Nghị quyết của Đảng, chủ trơng của Nhà nớc thành kết quả cụ thể. Mục
tiêu của việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở chính là nhằm xây dựng nền
văn hoá mới, con ngời mới xã hội chủ nghĩa.
Trong nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ơng Đảng
khoá IX đã nhấn mạnh cần phải đẩy mạnh phong trào xây dựng đời sống văn
hoá - xã hội, phát triển văn hoá truyền thống, phát huy tình làng nghĩa xóm, sự
- Đa ra những đổi mới về nội dung và phơng pháp hoạt động nhằm tăng
cờng hiệu quả hoạt động của việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở.
- Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của hoạt động
xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở trong giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại
hoá đất nớc.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Với phạm vi đề tài hẹp nên tôi chỉ đi vào khía cạnh trong hoạt động của
tổ chức Công đoàn, đó là việc Công đoàn tổ chức việc xây dựng đời sống văn
hoá ở các cụm văn hoá thể thao hoạt động nh thế nào sao cho có hiệu quả phù
hợp với tình hình hiện nay.
Do thời gian thực tập có hạn nên địa điểm khảo sát tìm hiểu không thể
bao quát toàn bộ các cơ sở thành viên thuộc cụm văn hoá thể thao trong Quận
mà chỉ dừng lại trong phạm vi một số đơn vị có hoạt động xây dựng đời sống
văn hoá tiêu biểu và là hạt nhân của cụm văn hoá thuộc quận Hai Bà Trng, do
đó kết qủa thu đợc chỉ mang tính chất điển hình.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
4. Tổng quan vấn đề nghiên cứu:
Để viết đề tài này, tôi sử dụng những kiến thức lý luận từ các tác phẩm
kinh điển của chủ nghĩa Mác Lê nin, Hồ Chí Minh, những văn kiện của
Đảng cộng sản Việt nam và của tổ chức Công đoàn; những kiến thức trong sách
xuất bản mang tính lý luận của các tác giả nghiên cứu nhiều năm về vấn đề văn
hoá. Đồng thời còn có những t liệu thực tế mang tính kinh nghiệm quý báu từ
các cơ sở cũng đã đóng góp cho đề tài thêm phong phú sát với cuộc sống lao
động sản xuất và sinh hoạt của công nhân lao động trong tình hình mới hiện
nay.
5. Phơng pháp nghiên cứu:
Phơng pháp sử dụng để viết đề tài là phơng pháp phân tích và chứng
minh để nêu rõ các khái niệm và từ đó dùng phơng pháp hệ thống hoá để luận
giải những cơ sở lý luận và thực tiễn về việc tổ chức xây dựng đời sống văn hoá
Một số vấn đề lý luận về văn hoá và đời sống
văn hoá ở cơ sở
1. Văn hoá và vai trò của văn hoá
1.1 Khái niệm về văn hoá
1.1.1 Một số cách tiếp cận về văn hoá của các học giả phơng Tây:
Vào thế kỷ XIX, thuật ngữ văn hoá đợc những nhà nhân học phơng
Tây sử dụng nh một danh từ chính. Những ngời này cho rằng văn hoá (văn
minh) thế giới có thể phân loại ra từ trình độ thấp nhất đến cao nhất, và văn hoá
của họ chiếm vị trí cao nhất. E.B.Taylo cho rằng văn hoá là toàn bộ phúc thể
bao gồm hiểu biết, tín ngỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và
những khả năng tập quán khác mà con ngời có đợc với t cách là một thành viên
của xã hội.
ở thế kỷ XX, khái niệm văn hoá thay đổi. Theo F.Boas, ý nghĩa văn
hoá đợc quy định do khung giải thích riêng chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu
cao siêu nh trí lực, vì thế sự khác nhau về mặt văn hoá từng dân tộc cũng
không theo tiêu chuẩn trí lực. đó cũng là tơng đối luận của văn hóa. Văn hoá
không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt.
Theo Knoibơ (A.L.Knoeber) và Klúchôn (C.L.Kluc Khohn) quan niệm
văn hoá là loại hình hành vi rõ ràng và ám thị đã đựơc đúc kết và truyền lại
bằng biểu tợng và nó hình thành thành quả độc đáo của nhân loại, khác với các
loại hình khác. Các học giả Mỹ cho rằng văn hoá là tấm gơng nhiều mặt phản
chiếu đời sống và nếp sống của một cộng đồng dân tộc.
1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về văn hoá:
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin thì văn hoá là một hiện t-
ợng xã hội phản ánh hiện thực từ khi xuất hiện xã hội loài ngời. Hiện tợng ấy
xét cho cùng là do sản xuất vật chất quyết định, mỗi chế độ kinh tế xã hội nhất
định đòi hỏi một nền văn hoá tơng ứng với nó. Nh vậy, văn hoá bao trùm những
lĩnh vực rộng lớn của t duy và hành động, trình độ phát triển các quan hệ nhân
Với E.B.Taylo: văn hoá hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó là toàn bộ
phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong
tục về những khả năng và tập quán khác mà con ngời có đợc với t cách là một
thành viên của xã hội.
1.1.5 Định nghĩa văn hoá của UNESCO:
Theo nghĩa hẹp của UNESCO: văn hoá là một tổng thể những hệ thống
biểu trng (ký hiệu) chi phối cáhc ứng xử và sự giao tiếp trong cộng đồng, khiến
cộng đồng ấy có đặc thù riêng. Có lẽ cũng nên nhấn mạnh thêm, văn hoá bao
gồm hệ thống những giá trị để đánh giá một sự việc, một hiện tợng (đẹp hay
xấu, đạo đức hay vô luân, phải hay trái, đúng hay sai ) theo cộng đồng ấy
UNESCO 1994 nhìn nhận văn hoá với nghĩa rộng đó là một phức
thể tổng thể các đặc trng, diện mạo về tinh thần, vật chất, trí thức, tình
cảm khắc hoạ nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng miền,
quốc gia, xã hội.
Văn hoá không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chơng mà cả những lối sống
những quyền cơ bản của con ngời, những hệ thống giá trị, những truyền thống,
tín ngỡng.
1.2 Vai trò của văn hoá
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Văn hoá có vai trò đặc biệt quan trọng, trong văn kiện Đại hội Đảng lần
thứ IX Đảng ta khẳng định : Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, là động
lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội
1.2.1 Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội
Văn hoá có các yếu tố chủ yếu là các tri thức và kinh nghiệm mà dân tộc
đã tích luỹ đợc trong quá trình lịch sử, sức sống, sức sáng tạo của một dân tộc
đợc hun đúc trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh cho sự tồn tại và phát triển
của dân tộc mình. Bản sắc văn hoá dân tộc, những khuynh hớng và phẩm chất
căn bản trong sáng tạo của mỗi dân tộc, hệ giá trị và truyền thống của dân tộc
đó.
Cội nguồn đó của mỗi dân tộc là văn hoá
1
.
Nguồn lực văn hoá của phát triển thể hiện trớc hết là các yếu tố trong cấu
trúc văn hoá. Các yếu tố đó kết tinh trong mỗi con ngời và cả cộng đồng. Vì vậy
khi nói đến nguồn lực con ngời trong phát triển thì chủ yếu là nói đến văn hoá.
Với t cách là động lực của sự phát triển, văn hoá khơi dậy và nhân lên mọi tiểm
năng sáng tạo của con ngời. Vì vậy, ngày nay trong điều kiện của cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ hiện đại thì yếu tố quyết định cho sự phát triển là
trí tuệ, là thông tin, là sáng tạo và đổi mới không ngừng nhằm tạo ra những giá
trị vật chất và tinh thần ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú
của toàn xã hội.
Văn hoá và phát triển là vấn đề quan hệ mật thiết đến cuộc sống hiện tại
và tơng lai của một quốc gia. Bởi thế cho nên, giải quyết đúng đắn mối quan hệ
giữa văn hoá và phát triển kinh tế xã hội là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan
trọng. Ngày nay, việc xem xét một quốc gia giàu hay nghèo không chỉ ở nó có
nhiều hay ít lao động, vốn kỹ thuật và tài nguyên thiên nhiên, mà là ở khả năng
phát huy đến mức cao nhất tiềm năng sáng tạo của nguồn lực con ngời. Tiềm
năng sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu thành văn hoá.
Một chính sách phát triển đúng đắn phải là chính sách làm cho các yếu đ
tố cấu thành văn hoá thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực hoạt động sáng tạo của
1
Trích nghị quyết 09 của Bộ Chính trị BCH Trung ơng Đảng cộng sản Việt Nam, khóa VI
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
con ngời nh văn hoá trong sản xuất, văn hoá trong quản lý, văn hoá trong lối
sống, văn hoá trong sinh hoạt gia đình, văn hoá trong giao lu và hợp tác quốc tế.
Hiện nay trong nền kinh tế thị trờng, một mặt văn hoá dựa vào tiêu chuẩn
của cái đúng, cái tốt, cái đẹp, nhằm hớng dẫn và tạo điều kiện để ngời lao động
phát huy sáng kiến , cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, chất lợng
nhân tố con ngời và xây dựng xã hội mới
Việc phát triển kinh tế xã hội cần đến nhiều nguồn lực khác nhau: tài
nguyên, thiên nhiên, vốn những nguồn lực này đều có hạn và có thể bị khai
thác cạn kiệt. Chỉ có tri thức con ngời là một nguồn lực vô tận, có khả
năng tái sinh và tự sinh, không bao giờ cạn kiệt, lâu bền nhất trong sự phát triển
của nhân loại và của mỗi dân tộc. Các nguồn lực khác sẽ không đợc sử dụng có
hiệu quả, nếu không có những con ngời đủ trí tuệ và năng lực khai thác.
Trong giai đoạn hiện nay đang diễn ra quá trình chuyển dịch từ sử dụng
sức lao động cơ bắp là chủ yếu sang sử dụng nhiều lao động trí tuệ để sản xuất
ra sản phẩm. Chính vì vậy, cần đề cao vai trò của giáo dục, khoa học, văn học
và nghệ thuật để bồi dỡng đào tạo nguồn lực ngời lao động có trí tuệ cao, tay
nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Ngày nay, quốc gia nào đạt thành tựu giáo dục cao tức là có vốn trí tuệ
toàn dân nhiều hơn thì chứng tỏ xã hội đó phát triển cao hơn, có khả năng tăng
trởng dồi dào tài nguyên con ngời. Cái vốn con ngời nói cho cùng là vốn trí
tuệ của một dân tộc. Vì vậy, phải phát huy ngời tốt việc tốt hình thành hệ giá
trị và chuẩn mực xã hội mới phù hợp với truyền thống bản sắc dân tộc và yêu
cầu của thời đại
1
.
Cuộc chiến đấu ai thắng ai đang diễn ra trên thị trờng thế giới và khu
vực hiện nay phụ thuộc chủ yếu vào việc đầu t chuẩn bị cho nguồn vốn con ngời
nhiều hay ít.
2. Đời sống văn hoá
1
Văn kiện hội nghị lần V, BCH Trung ơng Đảng cộng sản Việt Nam khóa VIII, NXB Chính trị Quốc gia
1998, trang 55
1
Văn kiện hội nghị lần V, BCH Trung ơng Đảng cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia 1998, trang
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
máy, công trờng, nông trờng, lâm trờng mỗi đơn vị lực lợng vũ trang , công an
nhân dân, mỗi xã, hợp tác xã, phờng ấp đều có đời sống văn hoá
1
.
Tổ chức xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở đợc coi nh bớc đi ban đầu
trong quá trình xây dựng nền văn hoá mới. Đó là công việc xây dựng kết cấu
văn hoá hạ tầng cơ sở để tiến hành các hoạt động văn hoá - giáo dục mở mang
dân trí, bồi dỡng đạo đức, giáo dục thẩm mỹ và tổ chức hoạt động văn hoá trong
thời gian rỗi theo nhu cầu của nhân dân.
Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở có ý nghĩa trực tiếp phát huy quyền
làm chủ tập thể của nhân dân lao động về mặt văn hoá, góp phần biến mọi giá
trị văn hoá thành tài sản của nhân dân lao động. Xây dựng đời sống văn hoá ở
cơ sở, trực tiếp truyền bá thông tin đến mọi ngời ( bằng các loại hình văn bản)
góp phần trực tiếp phát triển các hoạt động văn hoá nghiệp d đẩy mạnh
phong trào văn hoá quần chúng ở cơ sở
2
.
Coi trọng việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở cũng có nghĩa là xây
dựng nền văn hoá thực sự của dân, do dân và vì dân . Nó khẳng định một nhận
thức hết sức đúng đắn sự nghiệp văn hoá phải do chính nhân dân xây dựng.
Nhân dân phải là chủ thể hởng thụ văn hoá. Nhận thức đúng đắn vấn đề này có
ý nghĩa thiết thực trong tổ chức chỉ đạo mọi hoạt động văn hoá ở cơ sở.
Việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở có ý nghĩa thiết thực và có hiệu
quả trực tiếp vì nó tác động trực tiếp, thờng xuyên đến mọi tầng lớp nhân dân
lao động, có ảnh hởng lớn đến đời sống của nhân dân và sự thể hiện của nó th-
ờng dễ nhận thấy. Việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở có tác động trực tiếp
tới sự hình thành nhân thức đúng đắn trong nhân dân về chính trị, kinh tế, xã
hội tạo điều kiện phát huy tính chủ động sáng tạo của
mạnh nhiệm vụ trong đờng lối kinh tế những năm đầu thế kỷ XXI là tăng tr-
ởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bớc cải thiện đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải
thiện môi trờng. Còn trong Hội nghị lần thứ năm ( khoá VIII) của Ban Chấp
hành Trung ơng đã ra nghị quyết : về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (tháng 7 1998).
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Quan điểm của Đảng ta đặt ra là xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở
trong điều kiện thực tế ở Việt Nam chính là phơng thức tốt nhất để rút ngắn
khoảng cách giữa thành thị với nông thôn, giữa miền xuôi và miền núi. Chính vì
vậy mà trớc lúc đi xa Bác Hồ kính yêu đã căn dặn Đảng phải có kế hoạch thật
tốt để phát triển kinh tế và văn hoá nhằm không ngừng nâng cao đời sống của
nhân dân.
Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở còn cần phải hiểu và quán triệt là tổ
chức các hoạt động văn hoá để đa văn hoá thâm nhập vào cuộc sống hàng
ngày của nhân dân. Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là một cuộc đấu tranh
lâu dài, gay go và phức tạp, đó là cuộc đấu tranh quyết liệt giữa cái cũ và cái
mới, giữa cái lạc hậu và cái tiến bộ, giữa cái phản động và cái cách mạng trên
lĩnh vực t tởng văn hoá, trên lĩnh vực đời sống tinh thần, lối sống của mỗi con
ngời, của cả một cộng đồng, cả dân tộc.
Xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, trớc hết là hớng vào việc giáo dục xây
dựng con ngời phát triển toàn diện. Đó là những con ngời có t tởng và tình
cảm, có tri thức và thể lực, có phẩm chất và năng lực. Trên cơ sở đó đời sống
văn hoá ở cơ sở là thực sự phát huy quyền làm chủ tập thể của công nhân lao
động về văn hoá, là thởng thức hởng thụ sáng tạo những giá trị văn hoá
nghệ thuật, tạo dựng nên một lối sống văn minh lành mạnh, tiến bộ, những
phong tục tập quán tốt đẹp, mang đậm bản sắc dân tộc.
Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở chính là trực tiếp truyền bá dến ngời
lao động những kiến thức tạo cho họ có khả năng tiếp cận những thành tựu văn
lý, nhân dân làm chủ và xây dựng những công trình văn hoá, những mô hình
văn hoá nhằm biến mọi giá trị văn hoá thành tài sản của nhân dân lao
động
1
.
Với chủ trơng đó đã đợc triển khai thực hiện đến nay đã xuất hiện nhiều
mô hình hoạt động văn hoá tốt nh các Cụm văn hoá thể thao, các công trình văn
hoá và thiết chế văn hoá.
1
Văn kiện Đại hội IV Đảng cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, năm 1986
1
Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia năm 1976
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đối với tổ chức Công đoàn, các hoạt động văn hoá có tầm quan trọng đặc
biệt giúp cho công nhân lao động hiểu rõ tình hình nhiệm vụ kinh tế xã hội
của đất nớc, quán triệt các chủ trơng đờng lối của Đảng và Nhà nớc. Từ đó nêu
cao vai trò lãnh đạo cách mạng và phẩm chất cao quý của giai cấp công nhân,
trên cơ sở đó phát huy vai trò làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, hăng hái thi đua
lao động sản xuất, tiết kiệm, đẩy mạnh các tiến bộ khoa học kỹ thuật, xây dựng
thái độ lao động mới với năng suất chất lợng hiệu quả kinh tế thiết thực
đồng thời chống tham nhũng biểu hiện tiêu cực, xây dựng giai cấp công nhân
và Công đoàn, vì sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc, vì mục tiêu
dân giàu nớc mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh mà nghị quyết Đại hội
IX đề ra.
Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là việc làm rất quan trọng trong toàn
bộ các hoạt động văn hoá của tổ chức Công đoàn bởi cơ sở là nơi tiếp nhận giáo
dục và hình thành phát triển nhân cách của ngời công nhân mới. Tổ chức Công
đoàn phải thấy đợc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là nhằm giáo dục và tạo
ra các giá trị đức, trí, thể mỹ, xây dựng nhân cách và ngày càng nảy nở những
động quận Hai Bà Trng.
1. Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội ở quận Hai Bà Trng:
Quận Hai Bà Trng nằm ở phía đông nam nội thành Hà Nội, vốn là một
phần đất của huyện Thọ Xơng cũ gồm các tổng Hậu Nghiêm, Tả nghiêm và một
số xã của huyện Thanh Trì thuộc Sơn nam thợng, nằm trên con đờng huyết
mạch nối Hà Nội với các tỉnh phía nam Tổ quốc.
Quận Hai Bà Trng phía bắc giáp quận Hoàn Kiếm từ phố Nguyễn Du -
Lê Văn Hu - Hàn Thuyên kéo dài đến đầu phố Trần Hng Đạo - dốc Vạn Kiếp.
Phía đông giáp sông Hồng từ đoạn dốc Vạn Kiếp đến xã Thanh Trì. Phía tây
1
Lê nin toàn tập, tập 40, trang 311
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
giáp quận Đống Đa và Thanh Xuân theo trục đờng Lê Duẩn - Giải phóng. Phía
nam giáp huyện Thanh Trì.
Năm 2003 là năm tiếp tục thực hiện nghị quyết Đại hội IX của Đảng,
nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận Hai Bà Trng lần thứ XXII, là năm thứ ba thực
hiện nhiệm vụ chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội của thời kỳ 5 năm (2001
-2005). Đặc biệt công nhân viên chức - lao động và cán bộ đoàn viên Công
đoàn tập trung vào việc tổ chức Đại hội Công đoàn các cấp tiến tới Đại hội IX
Công đoàn Việt Nam, nhằm đánh giá, kiểm điểm thực hiện nghị quyết Đại hội
Công đoàn các cấp và nghị quyết Đại hội VIII Công đoàn Việt Nam nhiệm kỳ
(1998 -2003). Đảng bộ, nhân dân, công nhân viên chức - lao động quận Hai Bà
Trng đã khắc phục khó khăn vơn lên có những bớc phát triển mới về công tác
nh :
Kinh tế trên địa bàn quận tiếp tục ổn định và có mức tăng trởng khá. Về
sản xuất công nghiệp tăng 13,7% so cùng kỳ trong đó khu vực doanh nghiệp
nhà nớc tăng 14% , khu vực ngoài quốc doanh tăng 30,8% ; khu vực có vốn
đầu t nớc ngoài 21,6%.
Nhiều doanh nghiệp đã đầu t đổi mới công nghệ, sản xuất đợc nhiều mặt
Các hoạt động thông tin, tuyên truyền cổ động, văn nghệ quần chúng
diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức phong phú, tất cả đều hớng về lập thành tích
cao nhất chào mừng kỷ niệm 73 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam
( 3/2 ), 113 năm ngày sinh nhật chủ tịch Hồ Chí Minh ( 19/5 ), 74 năm thành
lập Công đoàn Việt Nam ( 28/7 ), 58 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc
khánh 2/9, chào mừng Đại hội IX Công đoàn Việt Nam, 49 năm ngày giải
phóng Thủ đô ( 10/10 ) và các hoạt động chào đón SEAGAMES 22 lần đầu tiên
đợc tổ chức tại Việt Nam.
Nhìn chung Đảng bộ, chính quyền và nhân dân quận Hai Bà Trng đã lập
đợc nhiều thành tích, duy trì nhịp độ tăng trởng kinh tế, nâng cao đời sống văn
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hoá tinh thần cho nhân dân và công nhân viên chức - lao động trong quận. Từ
đó làm thay đổi bộ mặt đô thị khang trang, sạch đép, an ninh chính trị đợc giữ
vững, trật tự an toàn giao thông - xã hội có những chuyển biến tích cực. Những
kết quả đó đã tạo tiền đề vững chắc cho quận Hai Bà Trng thêm tự tin phấn đấu
trong những năm đầu thế kỷ XXI.
2. Khái quát về phong trào công nhân và hoạt động của Liên doàn lao
động quận Hai Bà Trng
2.1 Tình hình công nhân viên chức và lao động quận Hai Bà Trng
Năm 2003 là năm tổ chức Đại hội Công đoàn quận lần thứ XV, Đại hội
Công đoàn thành phố lần thứ XIII và đại hội IX Công đoàn Việt Nam. Ngời lao
động an tâm tin tởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào các chủ trơng, chính sách
pháp luật của Nhà nớc, vào sự quan tâm động viên kịp thời của các cấp, các
ngành ngay từ đầu năm.
Qua đó, chăm lo đời sống cho công nhân viên chức lao động, tạo
không khí phấn khởi hăng hái hởng ứng các phong trào thi đua Mừng Đảng
Mừng Xuân Mừng đất nớc đổi mới Chào mừng Đại hội IX Công đoàn
Việt Nam, thi đua lao động giỏi, lao động sáng tạo, thi đua giỏi việc nớc -
đảm việc nhà, thi đua xanh sạch - đẹp, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động
17 doanh nghiệp Nhà nớc, về hành chính sự nghiệp có 60 ngời, doanh nghiệp
ngoài quốc doanh có 132 ngời.
Công nhân viên chức lao động ở doanh nghiệp t nhân, khu vực kinh tế
tập thể, khu vực liên doanh với nớc ngoài tăng nhanh thu hút ngày càng nhiều
công nhân lao động trẻ đợc đào tạo cơ bản.
Cán bộ công chức, trí thức ở các cơ quan hành chính sự nghiệp phần lớn
đợc đào tạo cơ bản về học vấn, chính trị, chuyên môn nghiệp vụ.
2.1.2 Về chất lợng
Đội ngũ công nhân viên chức lao động vốn có bản lĩnh vững vàng, với
ý chí tự lực, tự cờng vơn lên khắc phục mọi khó khăn trong giai đoạn cách
mạng mới, nhận thức rõ hơn quy luật khắc nghiệt của thị trờng. Do đó, đại bộ
phận tin tởng ủng hộ vào đờng lối đổi mới của Đảng, tích cực tham gia đấu
tranh chống hiện tợng tham nhũng, tiêu cực, tệ nạn xã hội.
Trình độ học vấn, khả năng nghiên cứu chuyên môn, nghiệp vụ đợc nâng
lên nhất là lực lợng công nhân trẻ đã tiếp cận nhanh với khoa học kỹ thuật và
công nghệ tiên tiến hịên đại.
Bên cạnh những kết quả đạt đợc, đội ngũ công nhân viên chức lao động
quận Hai Bà Trng còn có những khó khăn hạn chế nh sau:
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Một bộ phận công nhân viên chức lao động trong các doanh nghiệp,
cổ phần hoá, doanh nghiệp ngoài quốc doanh vẫn còn băn khoăn lo lắng về việc
làm, đời sống, điều kiện bảo hộ lao động, thực hiện các chính sách về bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế, có nơi còn xảy ra vi phạm cắt xén quyền lợi hợp pháp
chính đáng của ngời lao động.
- Tiến trình cải cách hành chính còn chậm, công tác quản lý Nhà nớc ở
một số lĩnh vực còn thiếu chặt chẽ, tệ nạn xã hội, tham nhũng đang là vấn đề
bức xúc làm cho công nhân viên chức lao động lo lắng thiếu yên tâm.
Bảng 2:
Trình độ học vấn và chuyên môn của công nhân viên
việc.
Bảng 3:
Thu nhập bình quân hàng năm củacông
nhân viên chức lao động
Thứ tự Năm
Số lao động Thu nhập bình
quân
Thiếu việc làm Tuyển mới
1. 1998 219 400 620.000
2. 1999 308 340 650.000
3. 2000 387 541 685.000
4. 2001 1012 520 688.000
5. 2002 258 235 750.000
Mặc dù còn có những khó khăn nhất định nhng năm 2003 hầu hết các
doanh nghiệp đều ổn định sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc làm và đời sống
cho công nhân viên chức lao động. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và liên
doanh với nớc ngoài có những bớc tăng trởng cao từ 14% - 30% song còn một
số đơn vị gặp khó khăn trong việc duy trì mặt hàng truyền thống, tiêu thụ sản
phẩm, chất lợng và giá cả. Trong năm có 280 ngời nghỉ vì thiếu việc làm, bên
25