–––––––––––––––––––
NGUYỄN THU HẰNG
CÔNG CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA Ở KHU DÂN CƢ HUYỆN PHÚ LƢƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN (2001-2013)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
–––––––––––––––––––
NGUYỄN THU HẰNG
CÔNG CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA Ở KHU DÂN CƢ HUYỆN PHÚ LƢƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN (2001-2013)
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Xuân Minh
THÁI NGUYÊN - 2015
huyện Phú Lương, Chi cục Văn thư - Lưu trữ tỉnh Thái Nguyên, Chi cục Thống kê
huyện Phú Lương,… đã tạo điều kiện để tác giả hoàn thành Luận văn.
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè,
đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn
thành Luận văn này.
Tác giả xin cảm ơn những đánh giá, nhận xét của Hội đồng khoa học bảo
vệ Luận văn.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thu Hằng
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan ........................................................................................................ i
Lời cảm ơn ........................................................................................................... ii
Mục lục ............................................................................................................... iii
Danh mục các bảng............................................................................................. iv
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................. 1
nghiên c
............................................................................... 3
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài.................................. 7
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu .................................................... 8
5. Đóng góp mới của Luận văn ........................................................................... 8
6. Cấu trúc Luận văn............................................................................................ 8
3.1.2. Tinh thần đoàn kết, giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo,
chung sức xây dựng nông thôn mới được phát huy .......................................... 73
3.1.3. Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ngày càng lành mạnh,
phong phú .......................................................................................................... 75
3.1.4. Sự nghiệp giáo dục, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, thực
hiện Dân số - Kế hoạch hóa gia đình được đẩy mạnh ....................................... 82
3.1.5. Môi trường sinh thái được cải thiện ........................................................ 83
3.1.6. Dân chủ từng bước được phát huy, ý thức chấp hành đường lối, chủ
trương của Đảng, Chính sách Pháp luật của Nhà nước trong nhân dân được
nâng cao ............................................................................................................. 83
3.1.7. Truyền thống Tương thân tương ái, giúp đỡ nhau trong cộng đồng và
đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” được phát huy ................................................. 86
3.2. Hạn chế ....................................................................................................... 90
3.2.1. Nguyên nhân của những hạn chế............................................................. 90
3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đời sống văn hóa ở khu
dân cư huyện Phú Lương ................................................................................... 90
Tiểu kết chương 3 .............................................................................................. 92
KẾT LUẬN....................................................................................................... 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 98
PHỤ LỤC
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Thống kê các thành phần dân tộc ở huyện Phú Lương - Thái Nguyên....20
Bảng 1.2. Kết quả thực hiện các mục tiêu của cuộc vận động Toàn dân đoàn kết
xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư đến hết năm 1998 ........................25
Bảng 2.1. Tổng hợp số liệu cuộc vận động Quỹ “Vì người nghèo” và Quỹ “Đền
ơn đáp nghĩa” giai đoạn 2001-2007 ............................................................46
văn kiện nổi tiếng, đó là Đề cương văn hóa Việt Nam (năm 1943). Trong văn
kiện này xác định rõ Văn hoá là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn
hoá). Sau ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Đảng và Nhà
nước ta rất chú trọng tới công tác vận động nhân dân xây dựng đời sống mới.
Hồ Chí Minh chỉ ra trong phát biểu của Người tại Đại hội văn hoá toàn quốc
lần I (năm 1946) Văn hoá phải soi đường cho quốc dân đi.
Văn kiện Hội nghị lần thứ V, Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
khẳng định Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự
nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận
trọng [2, tr.58]. Vậy, xây dựng đời sống văn hóa là một nhiệm vụ không kém
phần quan trọng và đó cũng là một sự nghiệp lâu dài, gian khổ, đòi hỏi phải có
quyết tâm cao của toàn xã hội và của cá nhân từng con người.
1
Công cuộc xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư trong cả nước nói
chung, cũng như ở huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên nói riêng đang là một
trong những vấn đề được Đảng, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam hết sức quan tâm. Đây là một chủ trương quan trọng, đúng đắn mang ý
nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp văn hoá, giáo dục, kinh tế, chính trị của đất
nước, tạo nên một lối sống mới, phù hợp với con người mới, đáp ứng yêu cầu
đòi hỏi của đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nghị quyết Ban
Chấp hành Trung ương V khoá VIII đã đề ra Xây dựng và phát triển nền văn
hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó nêu rõ 5 quan điểm
chỉ đạo, 10 nhiệm vụ và 4 giải pháp lớn mang tính cấp bách trong công cuộc
xây dựng đời sống văn hoá ở các khu dân cư. Một trong 4 giải pháp lớn đó là
phát huy tinh thần Đại đoàn kết dân tộc, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân
cư trong cả nước nói chung, và các khu dân cư trên địa bàn huyện Phú Lương
tỉnh Thái Nguyên nói riêng. Huy động mọi nguồn lực sẵn có từ trong nhân dân
một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hoá). Đề cương đã xác định nền
văn hóa dân chủ mới của Việt Nam phải được xây dựng theo ba tính chất cơ
bản: Dân tộc hóa, đại chúng hóa và khoa học hóa.
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước cách mạng
đã rất quan tâm đến vấn đề xây dựng đời sống mới. Năm 1946, Ủy ban Vận
động đời sống mới Trung ương được thành lập. Một năm sau, ngày 20/3/1947,
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm Đời sống mới và được Ủy ban Vận động
đời sống mới Trung ương cho xuất bản, coi đây là tài liệu tuyên truyền học tập
của các cấp chỉ đạo và của toàn dân.
Năm 1946 tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nói: Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi. Tiếp đó, từ ngày 16 đến
ngày 20/7/1948, Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ 2 được triệu tập, thông qua
bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam do Tổng Bí thư Đảng Trường
Chinh trình bày. Bản báo cáo nêu rõ lập trường văn hóa Mácxít, tính chất và
nhiệm vụ văn hóa dân tộc dân chủ; phê phán những khuynh hướng và quan
điểm văn hóa thực dân, phong kiến, tư sản; xác định thái độ đúng đắn của
3
những người làm công tác văn hóa kháng chiến. Mọi hoạt động văn hóa trong
kháng chiến đều hướng theo phương châm “văn hóa hóa kháng chiến, kháng
chiến hóa văn hóa”.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9/1960), Đảng ta đã chỉ ra sự
cần thiết phải tiến hành cách mạng tư tưởng và văn hóa đồng thời với cách
mạng kĩ thuật và cách mạng quan hệ sản xuất. Đại hội IV năm 1976 và Đại hội
V năm 1981 tiếp tục xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm của toàn
Đảng, toàn dân trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là xây dựng nền văn
hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa, có hình thức dân tộc, có tính Đảng và nhân
dân. Các văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần VI, VII, VIII; các nghị
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình thực hiện công cuộc vận động xây
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
(2001- 2013).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Huyện Phú Lương (Thái Nguyên) với diện tích tự nhiên
368.94 km2 có16 đơn vị hành chính gồm 14 xã, 2 thị trấn và 274 xóm, bản,
tiểu khu.
- Về thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2013. Tuy nhiên, để làm nổi bật
những thành tựu của huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên trong công cuộc vận
động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, Luận văn đề cập tình hình kinh
tế, xã hội của huyện những năm trước đó.
3.3. Nhiệm vụ của đề tài
Thứ nhất, khái quát về huyện Phú Lương: Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, tài
nguyên thiên nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Phú Lương trước năm 2001.
Thứ hai, nghiên cứu quá trình thực hiện công cuộc vận động xây dựng đời
sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (2001-2013),
rút ra một số nhận xét về thành tựu, hạn chế của công cuộc vận động xây dựng
đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên (20012013). Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đời sống văn
hóa ở khu dân cư huyện Phú Lương.
4. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã tham khảo các nguồn tài liệu sau:
7
- Các văn kiện của Đảng, Chính phủ, các bài viết, bài nói của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, các chỉ thị, nghị quyết, báo cáo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên,
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH THÁI NGUYÊN
Nguồn [57, tr.9]
9
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN PHÚ LƢƠNG
Nguồn [57, tr.968]
10
Chƣơng 1
HUYỆN PHÚ LƢƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN TRƢỚC KHI
TIẾN HÀNH CÔNG CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA Ở KHU DÂN CƢ
1.1. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên
1.1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
Phú Lương là huyện miền núi nằm ở vùng phía Bắc tỉnh Thái Nguyên,
trong tọa độ địa lí từ 210 36’ đến 210 55’ vĩ Bắc, 1050 37’ đến 1050 46’ kinh
Đông; phía bắc giáp huyện Chợ Mới (tỉnh Bắc Cạn), phía nam và đông nam
giáp thành phố Thái Nguyên, phía tây giáp huyện Định Hóa, phía tây nam giáp
huyện Đại Từ, phía đông giáp huyện Đồng Hỷ [57, tr. 969].
Từ ngày 1/1/1997, tỉnh Bắc Thái được chia tách thành 2 tỉnh Bắc Cạn và
Thái Nguyên. Huyện Phú Lương là 1 trong 9 đơn vị hành chính cấp huyện
thuộc tỉnh Thái Nguyên; các xã Nông Thịnh, Thanh Bình, Yên Đĩnh, Quảng
Ninh, Yên Trạch, tập trung phát triển kinh tế đồi rừng, mở rộng diện tích chè,
trồng cây ăn quả, đảm bảo diện tích trồng cây lương thực.
Vùng phía Đông, gồm 4 xã Vô Tranh, Tức Tranh, Phú Đô, Yên Lạc, mở
rộng diện tích chè, tăng diện tích chè cao sản, cải tạo diện tích chè hiện có,
trồng cây ăn quả, cây lương thực.
Vùng phía Nam, gồm 2 thị trấn Đu và Giang Tiên, các xã Sơn Cẩm, Động
Đạt, Cổ Lũng, Phấn Mễ tập trung đầu tư thâm canh cây lương thực, ổn định diện
tích chè, cây ăn quả, phát triển công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
Về khí hậu: Phú Lương mang tính chất nhiệt đới gió mùa với hai mùa
nóng, lạnh rõ rệt. Mùa lạnh (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) nhiệt độ xuống
thấp, có khi xuống tới 30C, thường xuyên có các đợt gió mùa đông bắc hanh,
khô. Mùa nóng (từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm) nhiệt độ cao, nhiều khi có
mưa lớn và tập trung. Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 220 C, tổng tích
nhiệt khoảng 80000 C). Lượng mưa trung bình từ 1800 – 2000 mm/năm, độ ẩm
trung bình 80%. Đặc biệt gió mùa đông bắc trung bình mỗi năm có khoảng từ
12
21- 22 đợt tràn qua làm cho nhiệt độ giảm xuống đột ngột, nhất là vào đầu
tháng chín, tháng mười, cuối tháng tư, tháng năm. Điều này đã làm ảnh hưởng
đến sức khỏe con người, cây trồng và vật nuôi. Ngoài ra, Phú Lương còn chịu
ảnh hưởng của thời tiết nồm vào mùa xuân, nóng khô vào mùa hè. Với khí hậu
trên, xưa kia các châu huyện Vân Lãng, Đại Từ và Phú Lương có cấy lúa bốn
mùa, cứ ba tháng một lần thu hoạch, đấy là một điều hơi khác. Các huyện Tư
Nông, Đồng Hỷ, Phú Lương và Bình Xuyên, khí lam chướng hơi nhẹ còn các
huyện khác thì nặng mà huyện Đại Từ và Võ Nhai nặng hơn cả [53, tr.162 -163].
Về giao thông đường bộ, huyện Phú Lương có 3 tuyến chính: Quốc lộ số
3 (Hà Nội- Cao Bằng) chạy suốt từ vùng phía Nam lên vùng phía Bắc huyện
qua địa bàn 8 xã, thị trấn (Sơn Cẩm, Cổ Lũng, Giang Tiên, Phấn Mễ, Đu, Động
của sông Đu có vai trò tưới tiêu cho những cánh đồng nhiều xã của huyện.
Sông Cầu, xưa còn gọi là sông Phú Lương, với tổng chiều dài 17 km chảy
qua các xã Phú Đô, Tức Tranh, Vô Tranh, Sơn Cẩm, là nguồn cung cấp nước
chủ yếu đảm bảo sinh hoạt và sản xuất của các xã phía Nam huyện. Dưới thời
thuộc Pháp, sông Cầu là tuyến giao thông thủy quan trọng của huyện Phú
Lương và của cả tỉnh Thái Nguyên.
Tuy nhiên do hầu hết các sông trên địa bàn huyện Phú Lương đều hẹp và
dốc nên trong mùa mưa thường xảy ra lũ lụt, xói mòn và sạt lở đất, gây nhiều
thiệt hại cho sản xuất và đời sống, sinh hoạt của nhân dân trong huyện.
Tài nguyên rừng: Theo sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán
triều Nguyễn, ở Phú Lương Cỏ tranh, lá cọ, các loại mây, hậu phác sa nhân,
tre nứa, tre gai, tre hoa (tức ban trúc có vân tròn, hình trôn ốc, rất cứng rắn,
người ta dùng làm đòn càng), gỗ lim, gỗ sến, gỗ đinh, gỗ táu, gỗ xoan. Chè nam,
củ nâu, nhung hươu, mật gấu, sáp ong, chim công đều có [53, tr.181- 182]. Tuy
nhiên, trải qua thời gian, rừng cây bị phá, những sản vật quý cũng khan hiếm
dần. Hiện nay, thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, phong
trào trồng cây gây rừng được mở rộng, nhờ đó môi trường sinh thái được bảo
vệ và cải thiện.
Tài nguyên khoáng sản: Theo tài liệu của Liên đoàn Địa chất Đông Bắc,
Phú Lương có các loại khoáng sản sau:
14
Nhóm khoáng sản nguyên liệu: Than có ở nhiều xã, điển hình là mỏ than
Phấn Mễ có trữ lượng 2.177.000 tấn. Than Phấn Mễ rất nhiều chất bay hơi, có giá
trị cao. Từ năm 1905, thực dân Pháp đã tiến hành thăm dò và sau đó tiến hành
khai thác than ở xã Phấn Mễ một cách ồ ạt. [57, tr.970]. Trong Tiểu chí Thái
Nguyên, quan Công sứ Pháp Echinard viết ở mỏ than Phấn Mễ trung bình có 2000
tấn được xuất ra ngoài tỉnh mỗi tháng [57, tr.970].
28.000 tấn, tăng 23,86% so với năm 1990, là năm đạt sản lượng lương thực cao
nhất từ trước đến nay [37, tr.1]. Từ năm 1995 đến năm 1999, tuy diện tích trồng
cây lương thực giảm gần 500 ha nhưng sản lượng quy thóc vẫn tăng bình quân
106 tấn mỗi năm, vượt 60 tấn so với chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ đề ra [1, tr.268].
Cây chè được xác định là cây công nghiệp mũi nhọn của huyện. Trong 5
năm (từ năm 1996 đến năm 2000), toàn huyện đã trồng được 585 ha, đưa tổng
diện tích trồng chè lên 3.368 ha, trong đó 2.865 ha đang thu hoạch. Năng suất
bình quân là 5,8 tạ chè búp khô trên 1 ha, tổng sản lượng chè toàn huyện là
13.800 tấn, đứng thứ hai toàn tỉnh [1, tr.268]; Cây chè tập trung ở bốn xã phía
Đông của huyện: Vô Tranh, Tức Tranh, Yên Lạc, Phú Đô; Với việc tăng diện
tích và sản lượng chè đã tạo nhiều điều kiện để cải thiện đời sống của nhân dân.
Năm 1986, huyện trồng được 183 ha rừng, chăm sóc 440 ha, khoanh
nuôi rừng 103 ha/300 ha, gieo ươm cây con vụ đông 800.000 [34, tr.2]. Từ năm
1991 đến năm 1995, huyện đã khoanh nuôi, bảo vệ gần 5700 ha rừng, giao gần
10.000 ha đất rừng cho các hộ quản lí, tổ chức trồng mới gần 4000 ha rừng các
loại [34, tr.251]. Năm 2000, huyện thành lập được 15 ban quản lí bảo vệ rừng ở
xã, thị trấn, xây dựng 220 tổ, đội quản lí bảo vệ rừng của các xóm, bản; tiến
hành đo giao 1.016,5 ha đất lâm nghiệp, hoàn chỉnh hồ sơ để cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho 1570 hộ tại 11 xã [82, tr.2]. Nhờ thực
hiện tốt các Chương trình 327, Dự án 661, diện tích trồng rừng, khoanh nuôi và
bảo vệ tốt, độ che phủ cao. Về cơ bản, huyện Phú Lương không còn hiện
tượng phá rừng, đốt rừng làm nương rẫy. Tuy nhiên, tình trạng khai thác chế
biến, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn xẩy ra. Năm 2000, huyện đã xử lí
172 vụ, thu nộp vào ngân sách 84.237.00 đồng tiền phạt [82, tr. 2].
16
Các ngành sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong giai đoạn đầu
của thời kì đổi mới gặp nhiều khó khăn, mặt hàng ít, chưa tương xứng với tiềm
Giai đoạn 1991-1995, kinh tế huyện Phú Lương đã từng bước vượt qua
khó khăn, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế
thị trường có sự quản lí của Nhà nước. Bắt đầu từ năm 1992, hoạt động thương
nghiệp, dịch vụ không chỉ phát triển ở các thị trấn, thị tứ mà đã lan rộng về
nông thôn. Các hoạt động thương nghiệp phát triển góp phần cung cấp những
hàng hóa thiết yếu cho đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Chợ phiên là nơi
giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng đã có từ xưa, lớn nhất là chợ Đu. Hệ
thống chợ trên địa bàn hoạt động sôi nổi. Các thành phần kinh tế chấp hành
tương đối tốt các chế độ của Nhà nước về kinh doanh thương mại. Giá cả các
mặt hàng tương đối ổn định. Điều này đã góp phần nâng cao chất lượng sống của
nhân dân trong huyện. Ngành tài chính, ngân hàng có nhiều chuyển biến tích cực;
tổ chức tốt công tác huy động và phát công trái xây dựng Tổ quốc, công trái giáo
dục, đáp ứng được nhu cầu vay vốn của các thành phần kinh tế, đảm bảo vốn vay
an toàn, không có nợ xấu, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội của địa phương.
Năm 2000, toàn huyện có 650 km đường liên xóm, 90 km đường liên xã.
Một số tuyến đầu tư cải tạo có chất lượng tốt, chỉ còn 15 xóm xe vận tải cơ giới
chưa vào được. Tổng các loại vốn đầu tư cho giao thông trong 5 năm (từ năm
1995 đến năm 2000) là 6,7 tỉ đồng [42,tr.4]. Đến tháng 6 năm 2000, điện lưới
quốc gia đến 12 xã, thị trấn, 15.641 hộ được dùng điện, đạt 70% tổng số hộ
được dùng điện. Tổng số vốn đầu tư cho mạng lưới điện nông thôn là 4.813
triệu đồng, trong đó nhà nước hỗ trợ 1.964 triệu đồng, nhân dân đóng góp
2.849 triệu đồng [1, tr.271]. Một số xã tạo điều kiện để nhân dân vay vốn đầu
tư xây dựng điện đạt kết quả tốt. Đây là một trong những biện pháp quan trọng,
có hiệu quả để phủ nhanh mạng lưới điện trên địa bàn. Toàn huyện đã xây dựng
mới 4 công trình, khôi phục 2 công trình thủy lợi, đưa diện tích tưới nước chủ
động lên 224,3 ha, tăng 204,3 ha so với năm 1996.
1.2.2. Đặc điểm xã hội
Trước năm 1945, Phú Lương có chưa tới 10.000 người; trong thời kì
kháng chiến chống Pháp có khoảng: 13.700 người, trong những năm 70 của