ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
LA THỊ ĐẠI
CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
Ở KHU DÂN CƢ HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN
(2001 - 2015)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Thái Nguyên, năm 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
LA THỊ ĐẠI
CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
Ở KHU DÂN CƢ HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN
(2001 - 2015)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Xuân Minh
Thái Nguyên, năm 2017
– Đại học
văn.
Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
tỉnh Thái Nguyên, Huyện ủy, Ủy ban Nhân dân huyện Võ Nhai, Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên, Phòng Văn hóa - Thông tin
huyện Võ Nhai, Chi cục Văn thư - Lưu trữ tỉnh Thái Nguyên, Chi cục
Thống kê huyện Võ Nhai,…
,
ể trong huyện Võ
Nhai, tỉ
4 năm 2017
uận văn
La Thị Đại
ii
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan ......................................................................................................... i
Lời cảmơn ............................................................................................................. ii
Mục lục ................................................................................................................ iii
D
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở KHU DÂN CƢ HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH
THÁI NGUYÊN (2001 - 2015)......................................................................... 64
3.1. Thành tựu ..................................................................................................... 64
3.1.1. Nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, của cán bộ, đảng viên và
quần chúng nhân dân về cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu
dân cư được nâng cao ......................................................................................... 64
3.1.2. Tinh thần đoàn kết, giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo,
chung sức xây dựng nông thôn mới được tăng cường ....................................... 66
3.1.3. Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân các dân tộc ngày càng lành
mạnh, phong phú ................................................................................................ 69
3.1.4. Sự nghiệp giáo dục, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, công tác
dân số - kế hoạch hóa gia đình được đẩy mạnh và thu nhiều kết quả ................ 71
3.1.5. Môi trường cảnh quan từng bước được xây dựng sạch đẹp ..................... 74
3.1.6. Dân chủ từng bước được phát huy, ý thức chấp hành đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong nhân dân được
nâng cao; cơ sở chính trị được xây dựng vững mạnh ........................................ 76
3.1.7. Truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” được phát huy . 78
3.2. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế.......................................................... 81
3.2.1. Hạn chế ..................................................................................................... 81
3.2.2. Nguyên nhân của hạn chế ......................................................................... 83
Tiểu kết chương 3 ............................................................................................... 84
KẾT LUẬN........................................................................................................ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................ 90
PHỤ LỤC .......................................................................................................... 98
iv
BCĐ
iv
Trang
Bảng 1.1: Tình hình phân bố đất đai huyện Võ Nhai ......................................... 16
Bảng 1.2: Thống kê các tộc người ở huyện Võ Nhai – Thái Nguyên ................ 21
Bảng 1.3. Kết quả thực hiện các mục tiêu của cuộc vận động Toàn dân đoàn
kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư đến hết năm 1998 .......... 25
Bảng 2.1. Kết quả xếp loại Gia đình văn hóa, Khu dân cư văn hóa giai
đoạn 2009 – 2015 .............................................................................. 55
Bảng 2.2. Tổng hợp số liệu cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa ở khu dân cư từ năm 2009 đến năm 2015 .................. 56
Bảng 3.1: Số trường, giáo viên và học sinh phổ thông trên địa bàn huyện
Võ Nhai (từ năm 2005 đến năm 2015) ............................................. 72
v
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn hoá luôn là nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần của xã hội, là
nền tảng tinh thần, mục tiêu phát triển kinh tế, thể hiện trình độ phát triển
chung của một đất nước, một thời đại. Đời sống văn hoá là một bộ phận cấu
thành của nền văn hóa dân tộc; có tác động tích cực đối với các lĩnh vực khác
của đời sống. Văn hóa có chức năng xây dựng con người, bồi dưỡng nguồn
nhân lực về trí tuệ, tâm hồn, tài năng, đạo đức, nhân cách, lối sống của cá nhân
và cộng đồng. Do đó, văn hóa là động lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội.
Nhận thức rõ về vai trò và tầm quan trọng của văn hoá, ngay từ thời kì
vận động Cách mạng tháng Tám, Đảng ta đưa ra Đề cương văn hóa Việt Nam
xóm, cụm dân cư khu phố, thống nhất cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây
dựng cuộc sống mới ở khu dân cư với phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa thành tên gọi mới là cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường,
thị trấn chủ trì.
Cuộc vận động xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư trong cả nước
nói chung, ở từng địa phương - trong đó có huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên
nói riêng, đang là một trong những vấn đề được Đảng, Nhà nước Cộng hòa Xã
hội chủ nghĩa Việt Nam hết sức quan tâm. Đây là một chủ trương quan trọng,
đúng đắn, mang ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp văn hoá, giáo dục, kinh
tế, chính trị của đất nước, tạo nên một lối sống mới, phù hợp với con người
mới, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa
xã hội.
Nhận thức sâu sắc nội dung của cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, được sự chỉ đạo của UB MTTQ tỉnh Thái
Nguyên, UB MTTQ huyện Võ Nhai đã ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng
dẫn triển khai cuộc vận động trên toàn huyện.
Võ Nhai là huyện miền núi ở phía Đông Bắc của tỉnh Thái Nguyên, cách
trung tâm thành phố 40 km về phía đông bắc. Nhân dân các dân tộc huyện Võ
2
Nhai có truyền thống cách mạng, đoàn kết xây dựng quê hương. Trải qua hơn
30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Võ Nhai đã có nhiều chuyển
biến về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội. Điều đó khẳng định đường lối đúng
đắn của Đảng, sự vận dụng sáng tạo, linh hoạt phù hợp với hoàn cảnh địa
phương của Đảng bộ huyện Võ Nhai.
Cùng với cả tỉnh, công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hoá ở khu
dân cư ở huyện Võ Nhai đã được triển khai. Trong điều kiện nền kinh tế đất
sống mới Trung ương được thành lập. Một năm sau, ngày 20/3/1947, Chủ tịch
Hồ Chí Minh viết tác phẩm Đời sống mới và được Ủy ban Vận động đời sống
mới Trung ương cho xuất bản, coi đây là tài liệu tuyên truyền học tập của các
cấp chỉ đạo và của toàn dân. Khái niệm đời sống mới được Hồ Chí Minh nêu ra
bao gồm cả “đạo đức mới, lối sống mới và nếp sống mới” ba nội dung ấy, có
quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đạo đức đóng vai trò chủ yếu.
Năm 1946 tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nói: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Tiếp đó, từ ngày 16
đến ngày 20/7/1948, Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ 2 được triệu tập, thông
qua bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam do Tổng Bí thư Đảng
Trường Chinh trình bày. Bản báo cáo nêu rõ lập trường văn hóa Mácxít, tính
chất và nhiệm vụ văn hóa dân tộc dân chủ; phê phán những khuynh hướng và
quan điểm văn hóa thực dân, phong kiến, tư sản; xác định thái độ đúng đắn của
những người làm công tác văn hóa kháng chiến. Mọi hoạt động văn hóa trong
kháng chiến đều hướng theo phương châm “văn hóa hóa kháng chiến, kháng
chiến hóa văn hóa”.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9/1960), Đảng ta đã chỉ ra sự
cần thiết phải tiến hành cách mạng tư tưởng và văn hóa đồng thời với cách
mạng kĩ thuật và cách mạng quan hệ sản xuất. Đại hội IV năm 1976 và Đại hội
V năm 1981 tiếp tục xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm của toàn
Đảng, toàn dân trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là xây dựng nền văn
hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa, có hình thức dân tộc, có tính Đảng và nhân
dân. Các văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần VI, VII, VIII; các nghị
4
quyết của Bộ Chính trị và Hội nghị Trung ương không ngừng hoàn thiện các tư
tưởng văn hóa mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt cơ sở.
Năm 1986, Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Việt Nam; 3- Tiềm năng của Việt Nam trong tương lai.
Củng cố các nền văn hóa truyền thống của Việt Nam trong bối cảnh
toàn cầu hóa của TS. Frank Proschan, Trường Đại học Indiana, Hoa Kì. Tác
giả đề cập nhiều vấn đề về văn hóa; trong đó nhấn mạnh vấn đề văn hóa truyền
thống của Việt Nam trước những biến đổi văn hóa đang diễn ra với tốc độ
chóng mặt. "Trong bối cảnh này, rất cần xác định xem các cơ quan văn hóa
của Việt Nam đang được áp dụng có đủ để đối mặt với những thách thức mới
của xu hướng toàn cầu hóa đang tăng lên hay không...", để "đóng góp vào mục
tiêu chung là xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" [67,
tr.272].
Văn hóa truyền thống và hiện đại hóa xã hội ở Việt Nam trong thế kỉ XX
của TSKH Lương Việt Hải, Viện Triết học. Tác giả chỉ rõ: "Các giá trị của
truyền thống văn hóa là yếu tố cấu thành quan trọng của động lực hiện đại hóa
xã hội ở Việt Nam trong thế kỉ vừa qua cũng như trong những thập kỉ tới của
thế kỉ XXI" [68, tr.304].
Tác động của giao lưu văn hóa đối với sự phát triển của con người Việt
Nam trong thế kỉ XX của PGS.TS Đỗ Long, Viện Tâm lí học. Trên cơ sở trình
bày các vấn đề: Giao lưu và sự phát triển của con người; Giao lưu văn hóa và
sự chuyển biến từ con người nông dân đến con người chiến sĩ; Con người Việt
Nam bước vào thế kỉ XXI trong bối cảnh giao lưu văn hóa và phát triển thông
tin, tác giả phân tích sự chuyển biến trong đời sống văn hóa từ sau Cách mạng
tháng Tám 1945. Tác giả nêu rõ: "Phong trào xây dựng Đời sống mới đề ra
nhiệm vụ trước hết là cải tạo đời sống văn hóa cũ, khẳng định đời sống văn
hóa mới trong các tầng lớp quần chúng nhân dân, chống hủ tục, xây mĩ tục,
chống mê tín dị đoan, cờ bạc, rượu chè, xây nếp sống vệ sinh, văn minh, khoa
học, chống hành vi xâm phạm, bạo lực đối với con người, trước hết là đối với
6
8
Các văn kiện của Đảng, Chính phủ, các bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ
Chí Minh, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, của Huyện ủy
Võ Nhai về vấn đề nghiên cứu.
Các kế hoạch, báo cáo tổng kết, báo cáo sơ kết, báo cáo thường niên,
báo cáo theo từng giai đoạn Cuộc vận động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh
Thái Nguyên, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện Võ Nhai, Sở Văn hóa, Thể thao
và Du lịch tỉnh Thái Nguyên, Phòng Văn hóa-Thông tin huyện Võ Nhai, Chi
cục Thống kê huyện Võ Nhai.
Các sách và bài báo khoa học, các bài viết đăng trên các báo, tạp chí có
liên quan đến đề tài.
Tài liệu khảo sát thực tế tại huyện Võ Nhai.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp lịch sử và phương
pháp logic là chủ yếu. Bằng phương pháp lịch sử, dựa trên những nguồn tư liệu
chọn lọc, trình bày hệ thống quá trình xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư
huyện Võ Nhai. Trên cơ sở phân tích các sự kiện, hiện tượng lịch sử, tác giả
đưa ra những nhận xét, đánh giá thành tựu và hạn chế của cuộc vận động.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như: thống kê, so
sánh, điều tra, điền dã, phân tích, phỏng vấn trực tiếp để làm sáng tỏ nội dung
nghiên cứu của đề tài.
5. Đóng góp của Luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về cuộc vận động xây dựng
đời sống văn hóa ở khu dân cư huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên.
Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần tổng kết, đánh giá, khẳng
định tính đúng đắn của công cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu
dân cư huyện Võ Nhai nói riêng và cả nước nói chung. Trên cơ sở nhận định
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN
1.1. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên
1.1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
Vùng đất Võ Nhai thời thuộc Đường có tên là huyện Vũ Lễ; thời Lý,
Trần gọi là châu Vạn Nhai. Thời thuộc Minh (đầu thế kỉ XV), châu Vạn Nhai
đổithành châu Vũ Lễ. Đầu thời nhà Lê (đời Lê Thuận Thiên), châu Vũ Lễ đổi
thành huyện Võ Nhai, thuộc phủ Phú Bình do phiên thần họ Ma nối đời cai
quản. Đến thời Nguyễn Gia Long (từ năm 1802) vẫn theo như thế.
Theo Sách Đại Nam nhất thống chí: Huyện Võ Nhai cách phủ 82 dặm về
phía bắc, đông - tây cách nhau 124 dặm, nam - bắc cách nhau 152 dặm, phía
đông đến địa giới huyện Hữu Lũng tỉnh Bắc Ninh 35 dặm, phía tây đến địa giới
huyện Cảm Hoá 89 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Văn Quảng tỉnh Lạng
Sơn 70 dặm [19, tr.158].
Cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp đánh chiếm các tỉnh miền núi phía Bắc.
Năm 1894, chính quyền thực dân Pháp cắt các tổng Bắc Sơn, Nhất Thế, Quỳnh
Sơn, Tân Lưu, Vĩnh Yên ra khỏi huyện Võ Nhai để lập thành châu Bắc Sơn,
thuộc tỉnh Lạng Sơn. Huyện Võ Nhai được đổi thành châu Võ Nhai
Ngày 25/3/1948, Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
kí Sắc lệnh số 148/SL bỏ các đơn vị hành chính cấp phủ, châu, quận, tổng.
Châu Võ Nhai đổi thành huyện Võ Nhai gồm 17 xã. Ngày nay, huyện Võ Nhai
gồm 14 xã (Nghinh Tường, Sảng Mộc, Vũ Chấn, Thượng Nung, Thần Sa, Cúc
Đường, Lâu Thựơng, La Hiên, Phú Thượng, Tràng Xá, Liên Minh, Phương
Giao, Dân Tiến, Bình Long) và 1 thị trấn (Đình Cả) với tổng số 174 xóm bản
và 2 tổ dân phố.
Võ Nhai là một huyện miền núi thuộc vùng đặc biệt khó khăn, nằm ở
khu vực Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên; có toạ độ địa lí 21036' đến 21056' vĩ Bắc
và 105045' đến 106017' kinh Đông. Về phía bắc, Võ Nhai giáp huyện Na Rì
Tiểu vùng III: Bao gồm 6 xã vùng cao: Nghinh Tường, Sảng Mộc,
Thượng Nung, Vũ Chấn, Thần Sa và Cúc Đường. Diện tích vùng này phần lớn
bị chiếm bởi những dãy núi đá vôi hùng vĩ, nhiều khe suối, cảnh đẹp tự nhiên.
14
Vùng này thuận lợi hơn cho việc phát triển chăn nuôi đại gia súc, lâm nghiệp,
du lịch sinh thái và di tích lịch sử, văn hoá.
Khí hậu Võ Nhai mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi Bắc Bộ,
nhưng có phần khắc nghiệt hơn. Thời trước, Võ Nhai nổi tiếng là nơi rừng
thiêng nước độc. Sách Đồng Khánh địa dư chí, viết: “Trong huyện rừng núi
liên tiếp, khí núi nặng nề. Khí trời nhiều lạnh rét. Khí đất ẩm thấp. Cuối xuân
trời vẫn còn lạnh, mùa hè thì chỉ hơi nóng, đầu thu đã bắt đầu lạnh, đến mùa
đông thì rét đậm. Hằng ngày khoảng trước giờ Tỵ, sau giờ Thân thì không nhìn
thấy núi” [66; tr.984]. Một năm có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa
mưa thường diễn ra từ tháng 4 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3
năm sau. Lượng mưa trung bình hằng năm 1.941,5mm và phân bố không đều,
chủ yếu tập trung vào các tháng mùa mưa, khoảng 1.765mm (chiếm 91% lượng
mưa cả năm). Lượng mưa lớn nhất thường diễn ra vào tháng 8, trung bình
khoảng 372,2mm [66, tr.985]. Mưa lớn và tập trung gây xói mòn đất, lũ lụt ảnh
hưởng xấu tới cây trồng, độ phì nhiêu của đất và các công trình thuỷ lợi, đặc biệt
là ở tiểu khu III và I, nơi có địa hình phức tạp, độ dốc cao và bị chia cắt nhiều.
Võ Nhai nằm trong vùng lạnh nhất của tỉnh Thái Nguyên. Nhiệt độ trung
bình năm trên 22,40C. Tháng nóng nhất là tháng 7 có nhiệt độ trung bình là
27,80C. Tháng lạnh nhất là tháng 1 có nhiệt độ trung bình là 14,90C. Biên độ
ngày và đêm là 70C. Chế độ nhiệt và địa hình như trên đã tạo cho Võ Nhai lợi
thế để phát triển các loại cây trồng nhiệt đới, á nhiệt đới như: hồng, táo, na,
cam, quýt, vải, nhãn,…
Tuy có phần khắc nghiệt nhưng nhìn chung khí hậu Võ Nhai vẫn tương
100
9,14
Tổng số
Đất
Đất nuôi
lâm
trồng
nghiệp thủy sản
561,26
1,55
66,42
0,18
Đất phi
Đất
nông chƣa sử
nghiệp
dụng
2,13
182,92
2,62
21,64
Nguồn [10]
Qua bảng thống kê có thể thấy, dù là một huyện có diện tích rộng lớn
cọ, các loại mây, hậu phác sa nhân, tre nứa, tre gai, tre hoa (tức ban trúc có vân
tròn, hình trôn ốc, rất cứng rắn, người ta dùng làm đòn càng) cũng có, gỗ
nghiến, gỗ táu,gỗ lim, gỗ sến, gỗ đinh, gỗ xoan. Chè nam, củ nâu, nhung, hươu,
nai, mật gấu, sáp ong, chim công đều có [61, tr.181- 182].
Dù diện tích đất lâm nghiệp lớn nhưng do nạn chặt phá rừng không được
kiểm soát nên tài nguyên rừng ở Võ Nhai còn lại rất nghèo, những loài thú quý
bị săn bắt và khan hiếm dần. Hiện nay, diện tích rừng phần lớn là rừng non mới
được phục hồi, mới trồng, trữ lượng và độ che phủ còn thấp. Những năm gần
đây, với sự hỗ trợ của Nhà nước và sự tích cực của người dân, tài nguyên rừng
đã và đang được phục hồi. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao
đời sống vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt tại khu vực 6 xã
khu vực phía Bắc huyện.
Tài nguyên khoáng sản: Võ Nhai nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc
- Việt Nam thuộc vành đai sinh khoáng Tây Thái Bình Dương. Do vậy, huyện có
nguồn tài nguyên khá phong phú về chủng loại và trữ lượng. Sử cũ chép rằng:
Huyện Võ Nhai có mỏ vàng Kim Hỷ (nay thuộc huyện Na Rì- Bắc Kạn), mỗi năm
17