----------
BÁO CÁO KHOA HỌC
TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÂY THUỐC
CHỮA BỆNH CỦA ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC CAO LAN XÃ DÂN TIẾN,
HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
Lê Thị Thanh Hƣơng và cs
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ
68(6): 141 - 145
TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÂY THUỐC CHỮA BỆNH CỦA ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC CAO LAN XÃ DÂN TIẾN, HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
Lê Thị Thanh Hương*, Nguyễn Thị Thuận
Trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên
TÓM TẮT
Điều tra và khai thác kinh nghiệm sử dụng nguồn dƣợc liệu thiên nhiên của đồng bào các dân tộc
thiểu số là công việc hết sức có ý nghĩa, đặc biệt là trong công tác bảo tồn và gìn giữ kho tri thức dân
gian về dƣợc liệu học và y học cổ truyền của dân tộc. Trong đề tài này chúng tôi đã tiến hành điều
tra, đánh giá tình hình sử dụng, chế biến cây thuốc của đồng bào dân tộc Cao Lan ở xã Dân Tiến,
huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu, điều tra ban đầu cho thấy, ngƣời Cao Lan nơi
đây có vốn kinh nghiệm dân gian vô cùng phong phú và đa dạng trong sử dụng các loài thực vật vào
chữa trị nhiều nhóm bệnh khác nhau cũng nhƣ đa dạng trong cách chế biến cây thuốc. Chúng tôi đã
thu đƣợc 82 bài thuốc dân gian gia truyền chữa trị cho 18 nhóm bệnh khác nhau (bệnh về thần kinh:
4 bài, bệnh về xƣơng: 5 bài, thận: 4 bài, tim mạch: 4 bài, gan: 2 bài…) trong đó có nhiều bài thuốc
gia truyền chữa nhiều bệnh nguy hiểm nhƣ rắn độc cắn, sỏi thận, động kinh, thần kinh tọa.
góp phần gìn giữ kho tàng kinh nghiệm quý
báu lƣu truyền trong nhân dân.
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp điều tra, phân tích:
Các vị thuốc và bài thuốc cũng nhƣ cách chế
biến đƣợc khai thác từ các ông lang, bà mế
trong 3 xóm ngƣời dân tộc Cao Lan ở xã Dân
Tiến, huyện Võ Nhai. Công tác khai thác
đƣợc tiến hành song song với công tác dân
vận để nắm đƣợc nếp sống, văn hóa và phong
tục tập quán của đồng bào.
Phương pháp thống kê mô tả
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Sự đa dạng về các bộ phận sử dụng
TT
Số lượng sử
dụng
Số loài
tham gia
Tỷ lệ (%) so
với tổng số loài
1
1 bộ phận
100
Tổng cộng
Theo bảng 1, thống kê đƣợc nhƣ sau:
Số loài sử dụng 1 bộ phận là 65 loài chiếm
48,15% tổng số loài.
Số loài sử dụng 2 bộ phận là 46 loài chiếm
34,07% tổng số loài.
Tel: 0988 478975,E.mail: [email protected]
141
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Lê Thị Thanh Hƣơng và cs
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ
Số loài sử dụng 3 bộ phận là 5 loài chiếm
3,70% tổng số loài.
Số loài sử dụng cả cây vào làm thuốc là 19
loài chiếm 14,07% tổng số loài.
Nhƣ vậy, số loài có một bộ phận sử dụng làm
thuốc chiếm số lƣợng nhiều nhất với 48,15%;
các bộ phận thƣờng dùng là lá, thân, rễ, vỏ,
hạt hoặc là hoa hay nụ hoa. Đứng thứ hai là
1
Lá
76
56,3
2
Thân
63
46,67
3
4
Rễ
Vỏ
17
8
12,59
5,93
5
tắm, xông hay giã bọc.
68(6): 141 - 145
Bộ phận thứ hai đƣợc sử dụng nhiều là thân
với 63 loài chiếm 46,67% so với tổng số loài.
Hầu hết cây thuốc sử dụng thân đều có dạng
sống là dây leo, thân cỏ hay cỏ cứng, chỉ một
số ít là cây bụi và gỗ. Thân thƣờng đƣợc băm
nhỏ, phơi khô để bớt mùi hăng của cây tƣơi và
thuận tiện trong bảo quản, sau đó mới đƣợc sử
dụng và cách sử dụng chủ yếu là sắc uống.
Rễ xếp thứ ba về tần số sử dụng, với 17 loài
tƣơng ứng 12,59% tổng số loài. Tần số sử
dụng bộ phận này ít hơn hai loại trên. Bởi vì,
rễ là bộ phận khó thu hái, để lấy đƣợc bộ
phận này phải đào bới phức tạp và đặc biệt là
sau đó cây sẽ bị chết, không còn để thu hái ở
những đợt tiếp theo. Rễ thƣờng cũng đƣợc
băm nhỏ phơi khô, sau đó sắc uống hoặc đƣợc
dùng ngâm rƣợu hoặc dùng để ƣớp thuốc bắc.
Vỏ với số loài sử dụng làm thuốc là 8 chiếm
5,93% so với tổng số loài, xếp thứ tƣ về tần
số sử dụng. Đƣợc dùng ít nhất là bộ phận quả,
với 1 loài chiếm 0,74%; còn hoa chiếm
1,48%; hạt chiếm 2,96%.
Nhƣ vậy, trong việc sử dụng các bộ phận của
cây làm thuốc cũng có những bộ phận có tần
số sử dụng cao hoặc có bộ phận ít sử dụng
đến. Trong đó, lá và thân là hai bộ phận
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Lê Thị Thanh Hƣơng và cs
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ
dùng
Số lượng
Tỷ lệ (%) so với
tổng số loài
1
Khô
80
59,26
2
Tƣơi
91
67,41
cũng đi lấy thuốc, hơn nữa thời gian cũng nhƣ
trữ lƣợng cây thuốc có hạn. Để chủ động, các
ông lang – bà mế khi đi đƣờng hoặc lên
nƣơng hễ gặp thuốc thƣờng thu hái ngay, về
phơi khô để sẵn, phòng khi có bệnh nhân cần
thì có luôn. Thuốc sau khi phơi hoặc sao khô
đƣợc sắc đặc với nƣớc để uống. Thuốc chế
biến theo cách này thƣờng giữ đƣợc lâu sau
khi thu hái, nhƣng trong quá trình phơi và sao
phải thực hiện một cách có khoa học, nếu
không sẽ làm giảm phẩm chất của cây thuốc
hoặc có thể dẫn tới mất dƣợc tính.
Các nhóm bệnh được người Cao Lan chữa
trị bằng thuốc nam
68(6): 141 - 145
Bảng 4. Sự đa dạng các nhóm bệnh đƣợc chữa trị
bằng các bài thuốc truyền thống của ngƣời Cao Lan
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
sinh dục…)
Bệnh trẻ em (Còi xƣơng,
biếng ăn, giun sán, sài…)
Bệnh về hô hấp (Ho hen,
viêm họng…)
Bệnh về răng (Đau răng,
viêm lợi, sâu răng…)
Bệnh về động vật (Rắn cắn,
sâu dóm…)
Bệnh về dạ dày (Đau dạ
dày, đại tràng, tá tràng…)
Bổ (Máu, sức khỏe…)
Bệnh về ung bƣớu (Ung
thƣ, các loài u bƣớu…)
Bệnh của vật nuôi (Trâu,
bò, lợn…)
Số
loài
Tỷ lệ
(%)
34
25,19
24
17,78
6,67
7
5,19
5
3,7
4
2,96
4
2,96
4
2,96
3
2,22
2
1,48
đến 25,19%, bệnh về thần kinh với 24 loài
chiếm 17,78%, bệnh thời tiết có 24 loài chữa
chiếm 17,78%; bệnh về gan có 23 loài chiếm
17,04%, bệnh về xƣơng là 20 loài chiếm
14,81%, các bệnh về khớp có số loài chiếm
8,15%, bệnh của phụ nữ số loài chữa bệnh
chiếm 6,67%; các bệnh về hô hấp, răng
miệng, động vật cắn, dạ dày có số loài chỉ
chiếm từ 2 đến 4%, ít nhất là các loài chữa
bệnh về ung thƣ, u bƣớu và bệnh của vật nuôi,
chỉ có 2 loài chiếm 1,48%. Qua số liệu trên,
chúng ta dễ nhận thấy nhóm bệnh về thận có
số loài chữa trị nhiều nhất. Sở dĩ nhóm bệnh
này ngƣời dân nơi đây hay mắc phải là do
vùng núi cao, ngƣời dân sử dụng nguồn nƣớc
ăn và sinh hoạt chủ yếu là nƣớc đá vôi nên
các bệnh về thận đặc biệt là sỏi thận tăng cao.
Điều kiện sống và nếp sinh hoạt cũng nhƣ đặc
điểm địa hình, địa lý cũng quyết định một
phần khi ngƣời dân nơi đây hay gặp nhiều các
bệnh về gan, thời tiết, thần kinh, ngoài da,
khớp nên theo đó số lƣợng các cây thuốc chữa
các bệnh này cũng chiếm ƣu thế.
Qua điều tra sơ bộ bƣớc đầu chúng tôi thấy
rằng ngƣời Cao Lan có vốn kiến thức dân
gian về cây thuốc rất phong phú và đa dạng.
Đây là nguồn tài nguyên phi vật chất vô cùng
giá trị và đáng quý. Tuy nhiên, do thời gian
có hạn nên chúng tôi mới tiến hành nghiên
cứu trên phạm vi hẹp, cần tiếp tục nghiên cứu
vùng cũng nhƣ nhiều nơi xa khác đánh giá rất
cao và rất tín nhiệm. Qua khai thác các ông
lang, bà mế chúng tôi đƣợc biết có những
bệnh nhân khác tỉnh thậm chí cách xa hàng
trăm cây số đã tìm về đây để xin thuốc cứu
chữa. Điều này cho thấy, các bài thuốc có tính
dƣợc học rất cao. Tuy nhiên, đây mới chỉ là
bƣớc đầu của nghiên cứu, số lƣợng loài làm
thuốc còn nhiều cũng nhƣ còn nhiều bài thuốc
chƣa đƣợc khai thác. Để thống kê đƣợc hết cần
phải tiếp tục tiến hành đề tài và cần có những
nghiên cứu sâu hơn để có những đánh giá sát
thực về hiệu quả chữa bệnh của các bài thuốc
này, từ đó phổ biến rộng rãi trong nhân dân.
KẾT LUẬN
Về vấn đề sử dụng các bộ phận của cây làm
thuốc thì sử dụng 1 bộ phận là nhiều nhất, có
65 loài chiếm 48,15% trong tổng số loài thu
đƣợc; số loài sử dụng 2 bộ phận là 46 loài
chiếm 34,07% tổng số loài thu đƣợc; số loài
đƣợc dùng cả cây vào làm thuốc là 19 loài
chiếm 14,07% tổng số loài thu đƣợc; số loài
sử dụng 3 bộ phận là ít nhất với 5 loài chiếm
3,70% tổng số loài thu đƣợc.
Trong các bộ phận của cây thì lá là bộ phận
đƣợc sử dụng nhiều nhất với 76 loài, thứ hai
là thân: 63 loài, thứ ba là rễ: 17 loài, các bộ
phận còn lại nhƣ: hoa, quả, hạt chiếm số
lƣợng không đáng kể. Trong cách sử dụng
cây thuốc thì cách sử dụng thuốc lúc còn tƣơi
Nam, tập 1 – 3, Nxb Trẻ, Tp.Hồ Chí Minh.
[5]. Đỗ Tất Lợi (2005) Những cây thuốc và vị
thuốc Việt Nam, in lần thứ 13, Nxb Y học, Hà Nội.
[6]. Nguyễn Nghĩa Thìn (2004), Hệ sinh thái rừng
nhiệt đới, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
[7]. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), Cẩm nang nghiên
cứu đa dạng sinh vật, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội.
[8]. Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi
trƣờng – Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Sinh thái
và Tài nguyên sinh vật – Trung tâm Khoa học Tự
nhiên và Công nghệ Quốc gia (2001 – 2005),
Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập 1 – 3,
Nxb Nông nghiệp Hà Nội.
SUMMARY
STUATION OF USING MEDICAL PLANT TO TREAT DESEASES OF CAO LAN
ETHNIC AT DAN TIEN COMMUNE, VO NHAI DISTRICT, THAI NGUYEN
PROVINCE
Le Thi Thanh Huong, Nguyen Thi Thuan
College of Sciences – Thai Nguyen University
Investigation and exploitation of using experience natural medical plant sources of the ethnic is the
very meaningful action, especially to conservative and preserve folk knowledge about natural
medical plant and traditional medicine of ethnic groups as well as use to treat different diseases. In
this article, we investigated and evaluated the use and processing the plant medicine of Cao lan
ethnic group at Dan Tien commune, Vo Nhai district, Thai Nguyen province. The results of initial
study and investigation showed that Cao lan ehtnic have plentiful experience and diverse on using
the plant form to treat different diseases as well as diversity in processing. We've collected 82
traditional folk remedies to treat 18 different diseases group (neurological diseases: 4 items, bone
disease: 5 items, kidney disease: 4 items, heart disease: 4 items, liver: 2 items...) many of them are