Nghiên cứu ảnh hưởng của nguyên liệu rơm có bổ sung cơ chất đến sự sinh trưởng và phát triển của một số giống nấm rơm tại xã mường giôn, huyện quỳnh nhai, tỉnh sơn la - Pdf 34

TRƢỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA
KHOA NÔNG LÂM
= = = o0o = = =

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Chuyên đề:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của nguyên liệu rơm có bổ sung cơ chất
đến sự sinh trưởng và phát triển của một số giống nấm Rơm
tại xã Mường Giôn huyện Quỳnh Nhai tỉnh Sơn La”

Chuyên ngành. KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Giảng viên hướng dẫn : Vũ Thị Ngọc Ánh
Sinh viên thực tập

: Lò Văn Minh

Lớp

: CĐ Khoa học cây trồng K47

Sơn La, tháng 04 năm 2013
0


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................ 4
DANH MỤC CÁC CHŨ VIẾT TẮT ........................................................... 5
PHẦN I. MỞ ĐẦU..................................................................................... 6
1.1. Đặt vấn đề ........................................................................................... 6
1.2. Mục đích và yêu cầu ............................................................................ 7

3.5.1.1. Theo dõi các chỉ tiêu sinh trƣởng (cụm)..........................................27
3.5.1.2. Các chỉ tiêu liên quan đến năng suất. ..............................................27
3.5.2. Sâu bệnh chính.................................................................................27
3.5.3. Chỉ tiêu sinh trƣởng..........................................................................29
3.5.4. Chỉ tiêu phát triển

. ......................................................................30

3.5.5. Chỉ tiêu về chất lƣợng. .....................................................................30
3.5.6. Chỉ tiêu về các yếu tố cấu thành năng suất. ........................................30
3.5.7. Bệnh hại chính. ................................................................................31
3.6. Phƣơng pháp xử lý số liệu ...................................................................31
PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU........................................................32
4.1. Đặc điểm hình thái của các giống tham gia thí nghiệm..........................32
4.2. Thời gian sinh trƣởng của nấm rơm .....................................................32
4.2.1. Thời gian từ khi cấy đến khi mọc sợi.................................................33
4.2.2. Thời gian từ khi cấy đến khi ăn trắng mô...........................................34
4.2.3. Thời gian từ khi rạch mô đến khi nấm mọc........................................34
4.2.4. Thời gian từ khi nấm mọc đến khi nấm ra rộ. ....................................34
4.3. Sự sinh trƣởng, phát triển và năng suất của nấm rơm trên các công thức
trong thí nghiệm .............................................................................34
4.3.1. Chiều dài cuống nấm. .......................................................................35
4.3.2. Đƣờng kính gốc nấm. .......................................................................36
4.3.3. Đƣờng kính trung bình của mũ nấm. .................................................38
4.3.4. Số nhánh trên cụm............................................................................40
4.3.5. Số cụm trên mô. ...............................................................................41
4.3.6. trọng lƣợng trung bình nhánh............................................................43
4.3.7. Khối lƣợng trung bình của một cụm nấm...........................................45
4.3.8. Năng suất tổng thể của nấm rơm. ......................................................46
2


4


DANH MỤC CÁC CHŨ VIẾT TẮT

CT

Công thức

CTĐC

Công thức đối chứng

NS

Năng suât

SNTC

Số nhánh trên cụm

SCTM

Số cụm trên mô

TLTB

Trọng lƣợng trung bình


khác với một diện tích khá nhỏ cũng có thể trồng đƣợc nấm rơm. Đây là một thế
mạnh mà không một ngành nghề nào trong nông nghiệp có thể sánh đƣợc.
Do vậy mà phát triển nghề trồng nấm rơm đã làm tăng thu nhập cho xã
hội, giải quyết nguồn thực phẩm đang còn rất thiếu ở nƣớc ta. Mặt khác nó còn
góp phần tạo công ăn việc làm, giải quyết tỷ lệ thấp nghiệp cho nhân dân, từng
bƣớc xoá đói giảm nghèo ở vùng nông thôn. Hơn nữa nuôi trồng nấm rơm còn là
biện pháp xử lý có hiệu quả nguồn phế thải nông nghiệp, bảo vệ môi trƣờng và
ngoài ra phế phẩm của việc nuôi trồng nấm rơm có thể sử dụng trong chăn nuôi
và trồng trọt.
Sơn La là vựa ngô lớn của nƣớc ta, sau mỗi vụ thu hoạch ngô lƣợng cơ
chất nhƣ lõi ngô dƣ thừa khá lớn, ngƣời dân thƣờng sử dụng làm chất đốt, làm
6


thức ăn gia súc, làm tàn dƣ che phủ đất chƣa sử dụng đƣợc tối đa sản phẩm từ
nông nghiệp. Mặt khác việc trồng thử nghiệm nấm Rơm trên các nguyên liệu
nhƣ cơ chất lõi ngô, rơm rạ, bông phế thải, mạt cƣa cho năng suất cao và thời
gian thu hoạch khá lâu. Chính vì vậy, để mở ra hƣớng đi mới trong nông nghiệp
và tăng thêm thu nhập cho ngƣời dân tỉnh Sơn La nói riêng và khu vực Tây Bắc
nói chung thì việc nuôi trồng nấm ăn phải đƣợc chú trọng đƣa vào sản xuất phổ
biến và chuyên sâu hơn bởi hiện nay sản phẩm nấm ăn vẫn chƣa đủ cung cấp
cho thị trƣờng nội địa, giá thành khá cao và chƣa ổn định.
Trong sản xuất nấm rơm thì giống nấm là một yếu tố rất quan trọng góp
phần vào việc quyết định đến năng suất, chất lƣợng của nấm, giống nấm tốt
không những giúp nấm mọc nhanh, mọc khoẻ mạnh trên nguyên liệu nuôi trồng
mà còn chống chịu đƣợc sâu bệnh, điều kiện ngoại cảnh và đặc biệt là phải cho
năng suất cao, giá trị thƣơng phẩm tốt. Nếu chất lƣợng giống nấm không đảm
bảo thì năng suất nuôi trồng sẽ giảm, thậm chí mất trắng.
Hiện nay, có quá nhiều cơ sở đang sản xuất và bán giống nấm ra thị
trƣờng, ngƣời sản xuất nấm đang gặp phải khó khăn trong việc lựa chọn giống

nhƣ đa đƣờng, khoáng và sinh tố.
Sau khi đƣợc chiếu ánh mặt trời, tất cả những chất đặc biệt trong nấm đều
chuyển thành Vitamin D. Sau khi đƣợc cơ thể hấp thụ, chất này sẽ có khả năng
tăng sức miễn dịch.
Nấm còn kích thích cơ thể sản sinh ra nhiều interferon, giúp cơ thể tiêu
diệt virus gây bệnh. Bởi vậy, nấm sẽ rất có lợi khi chúng ta bị cảm cúm.
Ngƣời ta coi protein của nấm ăn, của thực vật, của động vật là nguồn đạm
quan trọng nhất của con ngƣời sau này.
Theo phân tích của các nhà khoa học trong 112 loại nấm ăn có hàm lƣợng
bình quân; Protein 25%; Lipit 8%; Gluxit 60% (trong đó có 52% đƣờng, xơ 8%)
chất cho 7%.
2.1.2. Giá trị dược liệu của nấm ăn.
Trên thế giới có gần 300 chủng nấm có giá trị dƣợc liệu, nhƣng hiện nay
con ngƣời mới thực sự sử dụng làm thuốc chỉ 20 – 30 chủng nấm. Nấm đƣợc sử
dụng làm thuốc theo phong tục dân gian và các bài thuốc đông y. Trung Quốc là
nƣớc dùng nấm làm thuốc nhiều nhất và gồm nhiều loại nấm nhƣ: Linh chi, Trƣ
linh, Lôi hoàn, Mã bột, Đông trùng hạ thảo,…Ngoài ra với hƣớng nghiên cứu
thực phẩm trị liệu đề phòng và điều trị bệnh thì đa số các loại nấm ăn khác đều ít
nhiều mang lại tác dụng dƣợc liệu của nấm.
Nấm có tác dụng chống khối u. Ở Nhật Bản ngƣời ta đã chiết xuất đƣợc
chất đa đƣờng từ bào tử nấm để chống khối u, khả năng chống khối u trên có thể
đạt 80 - 90 % có ở 8 loại nấm. Chất đa đƣờng Lentinan ở quả thể nấm hƣơng có
tác dụng chống ung thƣ rất mạnh. Nấm rơm, nấm kim châm có chứa các chất có
tác dụng ức chế quá trình hoạt động của tế bào u,… Hiện nay các chất đa đƣờng
9


của nấm Linh chi, Tru linh, nấm hƣơng đã đƣợc chiết xuất và chế thành thuốc sử
dụng trên lâm sàng tại nhiều bệnh viện để phòng và điều trị bệnh ung thƣ. Tăng
cƣờng khả năng miễn dịch của tế bào: các chất đa đƣờng chiết xuất từ nấm có

(4,8 %). So sánh giữa năm 1994/1990 thì nấm mỡ, nấm hƣơng, nấm rơm, nấm
kim vàng, nấm hoa cây xám đều tăng mạnh. Các nƣớc sản xuất nấm chủ yếu
năm 1994 là Trung Quốc có 2.850.000 tấn ( chiếm 53,79 % tổng sản lƣợng),
Hoa Kỳ 393.400 tấn (chiếm 7,61 %), Nhật Bản 360.100 tấn ( chiếm 7,34 %),
Pháp 185.000 tấn, Indonesia 118.800 tấn…Sản lƣợng nấm các nƣớc chủ yếu là
nấm mỡ, còn nấm hƣơng thi do Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc sản xuất là
chủ yếu.
Nhiều nƣớc ở Châu Á, trồng nấm còn mang tính chất thủ công, năng xuất
không cao, nhƣng sản xuất gia đình, trang trại với số đông nên tổng sản lƣợng
rất lớn chiếm 70 % tổng sản lƣợng nấm ăn trên toàn thế giới. Các nƣớc Đông
Bắc Á nhƣ Hàn Quốc, Nhật Bản và vùng lãnh thổ Đài Loan áp dụng các kỹ
thuật tiên tiến và công nghiệp hóa trong nghề nấm đã có mức tăng trƣởng hàng
trăm lần trong vòng 10 năm. Nhật Bản là nƣớc có nghề trồng nấm truyền thống
là nấm hƣơng – Donco(Lentinula edodes). Mỗi năm đạt gần một triệu tấn. Hàn
Quốc nổi tiếng với nấm Linh Chi (Ganoderma lucidum) mỗi năm xuất khẩu thu
về hàng trăm triệu USD. Ở Trung Quốc từ năm 1960 bắt đầu trồng nấm có áp
dụng các biện pháp cải tiến kỹ thuật nên tăng năng suất lên gấp 4 – 5 lần và sản
lƣợng tăng lên vài trục lần so với các năm trƣớc.
Tổng sản lƣợng nấm ăn của Trung Quốc chiếm 60% tổng sản lƣợng nấm
ăn trên thế giới gồm nhiều loại nấm nhƣ: nấm mỡ, nấm hƣơng, nấm rơm, mộc
nhĩ,…Hàng năm Trung Quốc xuất khẩu hàng triệu tấn nấm sang các nƣớc phát
triển thu về nguồn ngoại tệ hàng tỷ đô la. Hiện nay Trung Quốc đã dùng kỹ thuật
“ khuẩn thải học” để trồng nấm nghĩa là dùng các loại cỏ cây thân thảo để trồng
nấm thay cho gỗ rừng và nguồn nguyên liệu tự nhiên ngày càng cạn kiệt.
Nƣớc xuất khẩu nấm nhiều nhất trên thế giới hiện nay là Trung Quốc với
khoảng 1,5 triệu tấn sản phẩm/ năm ; giá bán nấm mỡ trung bình 600 – 1000
USD/ tấn cao hơn 1,2 – 1,5 lần so với thịt bò; nấm mỡ muối có giá bán khoảng
1300 – 1500 USD/ tấn; các loại sản phẩm nấm nhƣ Mộc nhĩ, nấm hƣơng, nấm
rơm,…cũng có giá bán dao động trong khoảng 1700 – 6500 USD/ tấn. Mỗi năm,
11

đƣợc coi là nghề xóa đói, giảm nghèo và làm giàu thích hợp với các vùng nông
thôn miền núi.
12


2.3. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc
Việt Nam là một nƣớc có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa và là một nƣớc
nông nghiệp nên có rất nhiều tiềm năng để phát triển nghề trồng nấm, riêng
lƣợng rơm rạ 20 – 30 triệu tấn/ năm đủ để cho “ra đời” 2 triệu tấn nấm tƣơi, trị
giá 1 tỷ USD, thậm chí, nếu chế biến thành đồ hộp , giá trị còn cao hơn. Năm
2002, cả nƣớc mới sản xuất đƣợc 100.000 tấn nấm thực phẩm thì đến nay đã đạt
150.000 tấn/ năm. Kim ngạch xuất khẩu đạt trên 60 USD/ năm. Điều đó chứng
tỏ nghề trồng nấm đang mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Ở Việt Nam đang nuôi trồng 5 loại nấm phổ biến sau:
1. Nấm rơm đƣợc trồng chủ yếu ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long
chiếm 90% lƣợng nấm rơm trong cả nƣớc. Ở các tỉnh phía bắc nấm rơm chỉ
đƣợc trồng trong mùa hè nên sản lƣợng nấm rơm không cao.
2. Mộc nhĩ trồng tập trung ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ nhƣ Đồng Nai,
Bình Phƣớc, … chiếm 50% sản lƣợng Mộc nhĩ trong cả nƣớc.
3. Nấm Mỡ, nấm Sò, nấm Hƣơng chủ yếu đƣợc trồng ở các tỉnh miền Bắc
sản lƣợng mỗi năm đạt 30.000 tấn.
4. Nấm dƣợc liệu: Linh chi, Vân chi, Đầu khỉ,…mới đƣợc nuôi trồng ở một
số tỉnh thành phố nhƣ Hà Nội, Hƣng Yên, Vĩnh Phúc,…sản lƣợng mỗi năm đạt
150 tấn.
5. Một số loại nấm khác nhƣ: Nấm Trân châu, Kim châm,… Đang nghiên
cứu sản xuất thử nghiệm sản lƣợng chƣa đáng kể vì đầu tƣ cao và chi phí lớn.
* Một số thuận lợi của nước ta trong phát triển nghề trồng nấm
1. Nguyên liệu trồng nấm rất sẵn có nhƣ: rơm rạ, mùn cƣa, thân cây gỗ,
thân lõi ngô, bông phế thải ở các nhà máy xí nghiệp dệt, bã mía ở các nhà máy
đƣờng ƣớc tính có trên 40 triệu tấn nguyên liệu chỉ cần sử dụng 10 - 15% lƣợng

2

Nấm rơm

150

3

Nấm sò

600

4

Nấm linh chi

30 kg nấm khô/tấn

5

Nấm mộc nhĩ

600

6

Nấm linh chi

12 kg nấm khô/tấn


Hiện nay ngoài khoảng 50% sản lƣợng nấm ăn đƣợc tiêu thụ dƣới dạng
tƣơi, nấm ăn còn đƣợc chế biến thành các loại sản phẩm nhƣ sấy khô ( chiếm
khoảng 20% sản lƣợng các loại) nhƣng chủ yếu tập trung vào nấm Hƣơng và
Mộc Nhĩ, nấm Muối (chiếm 20% tổng sản lƣợng nấm).
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu mặt
hàng rau quả của cả nƣớc trong tháng 8/2010 đạt 28,8 triệu USD, tăng 22% so
với cùng kỳ năm 2009 và tăng 21% so với tháng 7 năm 2010. Tổng kim ngạch
nhập khẩu rau quả 8 tháng đầu năm đạt 176,4 triệu USD, tăng 4,6% so với cùng
kỳ năm 2009 tăng 17,8% cùng năm 2008. Tuy nhiên, xuất khẩu các loại rau củ
nhƣ:sắn, tỏi, nghệ tƣơi, nghệ khô tăng 48% so với cùng kỳ năm 2009. Trong đó,
nấm là mặt hàng kim ngạch cao nhất đồng thời có mức tăng rất mạnh so với
cùng kỳ. 8 tháng đầu năm 2010, kim ngạch xuất khẩu đạt 9,7 triệu USD tăng
101,8%. Đây là mặt hàng vẫn đƣợc ƣa chuộng tại thị trƣờng Việt Nam nhất là
những tháng cuối năm.
5. Phát triển nghề trồng nấm ăn - dƣợc liệu có ý nghĩa góp phần giải quyết
vấn đề ô nhiễm môi trƣờng. Phần lớn rơm rạ sau khi thu hoạch lúa ở một số địa
phƣơng đều bị đốt bỏ ngoài đồng ruộng hoặc ném xuống kênh rạch, sông ngòi
gây tắc nghẽn dòng chảy. Đây là nguồn tài nguyên rất lớn nhƣng chƣa đƣợc sử
dụng, nếu đem trồng nấm không những tạo ra loại thực phẩm có giá trị cao mà
phế liệu sau khi thu hoạch nấm đƣợc chuyển sang làm phân bón hữu cơ tạo nên
độ phì cho đất.
Hiệu quả kinh tế và xã hội của nghề trồng nấm ăn và nấm dƣợc liệu là rất
rõ. Đặc biệt có ý nghĩa với nhiều vùng nông nghiệp và nông thôn hiện nay có
lƣợng lao động lớn đang cần nâng cao thu nhập trên một diện tích đất canh tác.
15


* Những tồn tại và hạn chế của nghề trồng nấm nước ta.
Bên cạnh những thuận lợi trên nghề trồng nấm nƣớc ta còn tồn tại một số
hạn chế: mặc dù đứng thứ ba trên thế giới về xuất khẩu, nhƣng nghề sản xuất

bình 08%, nhiệt độ bình quân các tháng trong năm khoảng 15 - 17 0C khá phù
hợp để phát triển nghề trồng nấm.
 Về nguồn giống và nguyên liệu trồng nấm
Nguyên liệu trồng nấm ở Sơn La có rất sẵn nhƣ rơm rạ khi bà con thu
hoạch lúa xong, đặc biệt Sơn La có diện tích trồng ngô rất lớn tạo ra một lƣợng
phế thải lõi ngô khổng lồ bà con không sử dụng hết, nếu ta đƣa lƣợng lõi ngô
trên để trồng nấm sẽ cho ra lƣợng nấm rất lớn tăng thu nhập, giải quyết việc làm
và phế thải của nấm cung cấp phân bón hữu cơ cho đất rất tốt.
Việc đƣa nấm ăn thành một nghề mới có thêm thu nhập cho ngƣời dân tại
tỉnh Sơn La có công rất lớn của các ban ngành nhƣ: khuyến nông tỉnh Sơn La,
Sở khoa học công nghệ tỉnh Sơn la, Xí nghiệp nấm Sơn La…Từ năm 2001 đến
nay đã có hơn 1000 nông dân đƣợc tập huấn và hƣớng dẫn kỹ thuật nuôi trồng
nấm ăn. Tất cả các huyện trong toàn tỉnh đã có mở các lớp tập huấn và số nông
dân theo học rất đông. Chủ yếu đa phần là ngƣời dân tộc Thái, dân tộc Kinh.
Cán bộ kỹ thuật hƣớng dẫn trồng nấm cho nông dân đều là ngƣời của Xí nghiệp
nấm Sơn La. Hiện nay có khoảng 60 hộ nông dân thƣờng xuyên liên hệ với Xí
nghiệp nấm để mua giống. Đa phần các loại nấm ăn nhƣ nấm Sò, nấm Mỡ, nấm
Hƣơng, Mộc Nhĩ, nấm Rơm đều đƣợc giới thiệu qua các buổi tập huấn lý thuyết.
Nhƣng khâu thực hành chủ yếu là trồng nấm Sò, nấm Rơm trên nguyên liệu
bông phế thải và rơm rạ nông nghiệp. Trong năm 2009 – 2010 Xí nghiệp nấm
Sơn La đã chuyển giao kỹ thuật trồng nấm cho 2 tỉnh Sầm Nƣa và U Đum Say
của Lào.
* Các giống nấm đang thực hiện nuôi trồng ở Sơn La chủ yếu đƣợc cung
cấp từ 2 nguồn:
+ Xí nghiệp nấm Sơn La thuộc công ty xuất nhập khẩu tỉnh Sơn La cung
cấp.
+ Trung tâm công nghệ sinh học thực vật Hà Nội (Viện Di truyền nông
nghiệp Việt Nam).
* Sáu loại giống nấm và nấm đƣợc trồng phổ biến ở Sơn La:
1. Nấm Rơm (Volvariall volvacea).

* Các địa điểm đang tiêu thụ nấm tốt nhất và triển vọng phát triển nấm:
+ Thành phố Sơn La là nơi có nhiều chợ tập trung và đông dân cƣ, vì vậy
lƣợng nấm Sò tƣơi đƣợc tiêu thụ khá mạnh. Ví dụ nhƣ ở chợ Trung Tâm, chợ
18


Bến Xe khách, chợ Quyết Thắng, chợ Bệnh viện, chợ Gốc phƣợng … Khi có
nấm tƣơi tại các quầy rau quả rất dễ bán, và giá bán đều tƣơng đối ổn định trung
bình là 45.000 – 50.000 đồng/kg. Lƣợng nấm tƣơi có thể tiêu thụ hết trong ngày
tại thành phố Sơn La rất cao có thể hơn 1 tạ.
+ Thị trấn Mƣờng La cũng là nơi tiêu thụ nấm lý tƣởng vì tại đây có công
trình xây dựng thuỷ điện và số công nhân rất đông.
+ Chợ thị trấn Yên Châu cũng là một trong những chợ lớn, sầm uất và rất
thuận lợi trên trục đƣờng giao thông. Tại đây quầy rau quả nhiều và luôn thiếu
nấm bán.
+ Các chợ nhỏ trong các xã cũng đều tiêu thụ nấm và đa phần nấm trồng ở
quy mô nhỏ không phải đi quá xa để bán nấm.
+ Chợ thị trấn Thuận Châu bán một số loại nấm do các hộ dân tại bản Pó,
bản Huông xã Chiềng Ly và bản Thôm, xã Thôm Mòn (huyện Thuận Châu)
cung cấp, chủ yếu là bán nấm Sò trắng, thỉnh thoảng có bán nấm Rơm và nấm
Mối thu hái trong tự nhiên. Giá nấm Sò tƣới dao động từ 45.000 – 50.000
đồng/kg, nấm Rơm từ 75.000 – 80.000 đồng/kg, nấm Mối từ 100.000 – 150.000
đồng/kg.
+ Xí nghiệp nấm Sơn La thu mua sản phẩm nấm Sò khô cho các hộ trồng
nấm theo quy trình và giống nấm của xí nghiệp cung cấp.
2.5. Đặc điểm của huyện Quỳnh Nhai
Huyện Quỳnh Nhai là một huyện nằm phía Tây Bắc của tỉnh Sơn La có
địa hình tƣơng đối bằng phẳng, khí hậu nóng ẩm quanh năm. Nên có đầy đủ điều
kiện thuận lợi để phát triển nghề trồng nấm.
Đa số ngƣời dân sống bằng nghề nông, thu nhập của bà con chƣa cao và

+ Với diện tích nhỏ nhất vẫn có thể cho năng suất cao nhất.
+ Vốn đầu tƣ cho việc trồng nấm thấp, quay vòng nhanh và chu kỳ cho
việc nuôi trồng ngắn.
+ Thời gian cho mỗi đợt trồng nấm kéo dài khoảng 2 - 2,5 tháng.
+ Nếu trong thời gian trồng mà gặp khí hậu bất lợi hoặc có sự biến động
của thị trƣờng (giá cả bấp bênh) ngƣời sản xuất vẫn kịp dừng sản xuất hoặc
chuyển hƣớng canh tác khác phù hợp.
20


+ Nguyên liệu nhiều, dồi dào và giá rẻ: rơm rạ, lõi ngô, mùn cƣa, bông
phế thải …
- Thu hút lƣợng lớn lao động, giải quyết công ăn việc làm cho những lao
động nông nghiệp nhàn dỗi.

21


PHẦN III. NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng và vật liệu.
* Hai giống nấm Rơm v1 và v2, nguồn do công ty xuất nhập khẩu nấm
Sơn La cung cấp.
* Nguyên liệu: Rơm rạ, vôi bột, phân vi sinh, phân hữu cơ hoai mục.
* Dụng cụ:
- 300kg rơm rạ khô, 6kg vôi bột, phân vi sinh, phân hữu cơ hoai mục và
giống nấm.
- Bạt, nƣớc, tre, dao.
3.1.2. Địa điểm nghiên cứu.
Tại xã Mƣờng Giôn huyện Quỳnh Nhai tỉnh Sơn La.

3

1

1

V2

1

3

V2

3

3

1

2

V1
2

1

2

3

nƣớc trong đống ủ giảm đi, hong tới đâu ta đóng mô tới đó, thời gian hong
nguyên liệu từ 5 - 10 phút. Khi thấy nguyên liệu quá khô, không đảm bảo độ ẩm
ta tiến hành rũ tơi đống ủ và dùng nƣớc sạch pha với tỷ lệ 6% vôi ƣớt (100 lít
nƣớc cho 6kg vôi ƣớt) rồi hòa loãng nhƣ nƣớc vo gạo và tiến hành bổ sung từ từ
vào phần nguyên liệu, tiếp tục ủ lại thêm 3 ngày nữa, phƣơng pháp ủ nhƣ lần
đầu.
- Rơm rạ có mùi thơm dễ chịu, màu vàng sáng, mềm.
3.4.2 Meo giống và phương pháp cấy.
- Meo giống tốt có những sợi tơ màu trắng, mọc chằng chịt phủ kín, hoặc
có hạt màu trắng hoặc màu nâu, có mùi tƣơng tự nhƣ nấm rơm.
- Trong điều kiện bình thƣờng không để meo giống lâu quá 10 ngày, loại
bỏ những bịch meo có những đốm màu xanh, đen và vàng do bị nhiễm bệnh.
- Phƣơng pháp cấy meo: cấy thành từng cụm sâu 4 – 5 cm hoặc phủ lớp
meo ở 2 đầu, sau đó gói chặt bánh rơm bằng nilông, chú ý: các đầu rơm phải
bằng phẳng.
- Lƣợng giống: một mô meo giống 200gr, cấy 5 - 6 bánh rơm.
3.4.3. Ủ tơ.
Bánh rơm đã cấy meo đƣợc đƣa vào cất đống, đảm bảo nhiệt độ 32 - 360C,
không có ánh sáng chiếu vào, 2 - 3 ngày đảo một lần. Thời gian ủ tơ khoảng 5 - 7
ngày, khi này sợi nấm đã mọc phủ kín bánh rơm và đạt tiêu chuẩn đem ra nhà
trồng.
3.4.4. Chăm sóc ở nhà trồng
Những bánh rơm đạt tiêu chuẩn nhƣ trên, ta tiến hành đƣa lên giá trồng,
mở nilông ở bánh rơm, chất bánh rơm thành 2 - 3 lớp tùy theo thời tiết.
Nhiệt độ nhà trồng thích hợp 30 - 320C, độ ẩm không khí 80 - 90%, độ
ẩm bánh rơm khoảng 65 - 70%.
24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status