ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------------------
BÀN MÙI NHỆ
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ NỘI TẠI ĐẾN
KHẢ NĂNG HÌNH THÀNH CÂY HOM VÙ HƢƠNG (CINNAMOMUM
BALANSAE H.LEC) TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC
NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Nông lâm kết hợp
Lớp
: K43 - NLKH
Khoa
: Lâm nghiệp
Khóa học
: 2011 - 2015
: Lâm nghiệp
Khóa học
: 2011 - 2015
Giảng viên hƣớng dẫn
: ThS. Lê Sỹ Hồng
Thái Nguyên, năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài kết quả nghiên cứu thí nghiệm của riêng tôi là
trung thực.
Giảng viên hƣớng dẫn
Sinh viên
BÀN MÙI NHỆ
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
(ký, họ và tên)
i
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một thời gian có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình
học tập của mỗi sinh viên. Đây là một quá trình giúp sinh viên hệ thống hóa,củng cố
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Mẫu bảng 3.1: Bảng sắp xếp các trị số quan sát phân tích phương sai 1 nhân tố .....24
Mẫu bảng 3.2: Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố ANOVA ................................27
Bảng 4.1: Kết quả về ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến tỷ lệ sống trung bình của
hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm .......................................................28
Bảng 4.2: Kết quả về khả năng ra rễ của hom cây Vù hương ở các .........................30
Bảng 4.3: Bảng tổng hợp kết quả về chỉ số ra rễ của độ dài hom .............................34
Bảng 4.4: Bảng phân tích phương sai một nhân tố ảnh hưởng .................................35
Bảng 4.5: Bảng sai dị từng cặp xi xj cho chỉ số loại hom ....................................36
Bảng 4.6: Tỷ lệ sống của loại hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm .......37
Bảng 4.7: Kết quả về khả năng ra rễ của loại hom giâm cây Vù hương ..................38
Bảng 4.8: Bảng tổng hợp kết quả về chỉ số ra rễ của loại hom của cây Vù hương ở
cuối thí nghiệm ..........................................................................................................41
Bảng 4.9: Bảng phân tích phương sai một nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số ra rễ của
loại hom của cây Vù hương ......................................................................................43
Bảng 4.10: Bảng sai dị từng cặp xi xj cho chỉ số loại hom của cây Vù hương ....44
iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Tỷ lệ sống trung bình của hom cây vù hương ở các công thức thí nghiệm
về độ dài hom giâm ..........................................................................................29
Hinh 4.3 Số TB/hom rễ của hom cây Vù hương ở các công thức thí nghi ệm về đô ̣
dài hom giâm ....................................................................................................31
Hình 4.4 Chiề u dài rễ TB/cm rễ của hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm
vê đô ̣ dài hom giâm ..........................................................................................31
Hình 4.5: Chỉ số ra rễ của hom cây Vù hương ở các công thức thí nghiệm về độ dài
IBA:
Axit Indol-butiric
IPA:
Axit Indol-propionic
NAA:
Axit Napthalen-axetic
(H.gốc)
Hom gốc
(H.giữa)
Hom giữa
(H.ngọn)
Hom ngọn
v
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ i
DANH MỤC CÁC BẢNG ....................................................................................... ii
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu ..........................................................................20
3.4.3 Xử lý số liệu: ....................................................................................................23
3.4.4. Phương pháp khác ...........................................................................................27
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ...................28
4.1. Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến tỷ lệ sống và ra rễ, của hom cây Vù hương ....28
4.1.1. Ảnh hưởng của độ dài hom giâm đến tỷ lệ sống của hom cây Vù hương ......28
4.1.2 Ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom cây Vù hương ở các công thức thí
nghiệm về độ dài hom giâm ......................................................................................29
4.2. Ảnh hưởng của loại hom giâm đến tỷ lệ sống, khả năng ra rễ, của hom cây Vù
hương.........................................................................................................................37
4.2.1. Ảnh hưởng của loại hom giâm đến tỷ lệ sống của hom cây Vù hương ở các
công thức thí nghiệm .................................................................................................37
4.2.2. Ảnh hưởng của loại hom giâm đến khả năng ra rễ của hom cây Vù hương ...38
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .......................................................45
5.1. Kết luận ..............................................................................................................45
5.2. Kiến nghị ............................................................................................................45
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................46
1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Giống là một trong những khâu quan trọng của trồng rừng thâm canh. Không
có giống được cải thiện theo mục tiêu kinh tế thì không thể đưa năng suất rừng lên
cao. [4]
Nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom đã và đang đưa vào sử dụng
ngày một nhiều và đóng một vai trò không thể thiếu được trong công tác chọn
giống, bảo tồn lài nguyên di truyền ở trên thế giới nói chung và nước ta nói riêng.
Chính vì thế việc nghiên cứu nhân giống bằng hom là việc làm thiết thực nhằm góp
Vì (Hà Tây), trong rừng thứ sinh và vườn hộ ở Thạch Thành (Thanh Hoá) và rải rác
ở một số nơi; song hiện nay đã bị khai thác quá mức, không còn gặp nhiều trong
rừng tự nhiên nên được xếp vào loại hiếm (Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường,
1996). Khó tìm thấy cây có kích thước lớn và không phải cây trưởng thành nào
cũng có quả, thu hái hạt giống ở cây lớn rất khó khăn, mặt khác do hạt có chứa
nhiều tinh dầu, nhanh mất sức nảy mầm, tỷ lệ nảy mầm thấp, cho nên việc thử
nghiệm nhân giống bằng hom để góp phần lưu giữ nguồn gen là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ vấn đề trên tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của
một số yếu tố nội tại đến khả năng hình thành cây hom Vù hƣơnng
(Cinnamomum balansae H.Lec) tại Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm rút ngắn thời gian, giảm chi phí trong nhân giống, tạo ra
được cây con đảm bảo số lượng và chất lượng, cung cấp giống cho công tác trồng
rừng hiện nay.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Lựa chọn được loại hom, kích thước hom đem giâm cho tỷ lệ ra rễ tốt nhất
để sản xuất cây giống Vù hương
1.4. Ý nghĩa nghiên cứu
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
+ Các kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo và
xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất giống cây Vù hương.
3
+ Giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản xuất, biết áp dụng và kết hợp
giữa lý thuyết và thực hành.
+ Tạo cho sinh viên một tác phong làm việc tự lập khi ra thực tế.
- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Kết quả nghiên cứu vận dụng vào thực tế để sản xuất cây giống Vù hương
khi bị cắt vài ngày và có thể hình thành một lớp mô mềm. Các tế bào ở vùng lân cận
của tượng tầng mạch và li be bắt đầu hình thành rễ bất định.
+ Cây gỗ có một hoặc nhiều lớp mô gỗ thứ cấp và li be thì rễ bất định thường
phát sinh ở tế bào như mô còn sống của hom bắt nguồn từ li be thứ cấp còn non.
5
Tuy nhiên, đôi khi rễ bất định cũng phát sinh từ mạch dây, tượng tầng, li be, bì
khổng và tủy.
Nói chung, các rễ bất định thường được hình thành bên cạnh và sát ngoài lõi
trung tâm của mô mạch và ăn sâu trong thân (cành) tới gần ống mạch sát bên ngoài
tượng tầng.
Như vậy: Việc giâm hom để hình thành bộ rễ mới là quan trọng nhất, sau đó
là số lượng rễ trên hom, chiều dài của rễ.
Cơ sở sinh lý của sự hình thành chồi và rễ bất định
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ trong quá trình giâm hom về
cơ bản có thể chia làm 2 nhóm chính: Nhóm nhân tố nội sinh và nhóm nhân tố
ngoại sinh. [5]
* Các nhân tố nội sinh
Đặc điểm di truyền của loài:
Kết quả nghiên cứu của (A.D Komixarop, 1964: B.Martin, 1974; Nanda,
1970....). [13] đều đi đến một kết luận chung nhất là: Các loại cây khác nhau thì đặc
điểm ra rễ khác nhau. Các tác giả này đã dựa vào khả năng ra rễ để chia làm 3
nhóm:
+ Nhóm dễ ra rễ: bao gồm các loại cây không cần sử dụng chất kích thích
vẫn có tỉ lệ ra rễ cao, nhóm này gồm 29 loại như: Đa, Sung, Tre, Nứa, Dương…
+ Nhóm khó ra rễ: bao gồm các loại hầu như không ra rễ hoặc phải dùng chất
kích thích rễ mà vẫn cho tỷ lệ ra rễ thấp.
+ Nhóm ra rễ trung bình: bao gồm các loại chỉ sử dụng chất kích thich với
trẻ hóa một cây thành thục người ta thường chặt cây sát mặt đất để tạo ra những
trồi bất định mới.
Sự tồn tại của lá trên hom:
Ánh sáng là nhân tố không thể thiếu được trong quá trình ra rễ của hom, lá là
cơ quan hấp thụ ánh sáng trong quang hợp để tạo ra các chất hữu cơ cần thiết cho
cây, đồng thời lá giữ vai trò quan trọng trong viêc xây dựng các mô phân sinh của rễ
ở các hom cành chưa hóa gỗ, lá là cơ quan thoát hơi nước để khuyếch tán tác dụng
của chất kích thích ra rễ đến các bộ phận của hom, lá là cơ quan điều tiết các chất
điều hòa sinh trưởng ở hom giâm.
7
Ảnh hƣởng của kích thƣớc hom:
Đường kính và chiều dài của hom cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ ra rễ của hom
giâm. Từ các kết quả nghiên cứu, D.A Komixarop (1964) với nhiều loại cây thấy
rằng hom có kích thước lớn tốt hơn hom có kích thước nhỏ. Tuy nhiên, hom cắt từ
cây có đường kính nhỏ khả năng phát sinh ra rễ thấp, hom cắt từ cây lớn ra rễ cũng
không tốt, các thí nghiệm của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng cho thấy: chiều
dài hom Bạch đàn, Keo 7-10cm. Phi lao: 10-12cm là thích hợp.
Ảnh hƣởng của tuổi chồi gốc và tuổi gốc:
Tuổi chồi gốc và tuổi gốc ảnh hưởng đến tỉ lệ ra rễ của hom giâm. Các thí
nghiệm với hom Bạch đàn và các loài keo tai tượng và keo lá tràm ở Trung tâm
nghiên cứu giông cây rừng cũng cho thấy: sau khi chặt gốc hai tháng lấy hom thì
hom có tỉ lệ ra rễ cao. Với loại keo lai, ở một số nước Đông Nam Á thường chặt cây
dưới 5 tuổi để thu chồi gốc lấy hom.
Như vậy, tuổi gốc cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ ra rễ của hom (ví dụ: cây Mỡ,
hom trồi gốc ở các cây 17-23 tuổi cho tỉ lệ ra rễ 75-85%. Điều này cho phép sử
dụng chồi ở các cây trội để nhân giống phục vụ công tác trồng rừng.
Chất điều hòa sinh trƣởng:
loài Picea abies, Pinus resinosa … Có bón phân hữu cơ và phân khoáng đã có tỷ lệ
ra rễ cao hơn rõ rệt so với hom lấy từ cây không được bón phân.
Điều kiện chiếu sáng cho cây mẹ lấy cành cũng ảnh hưởng đến khả năng ra
rễ của hom giâm, ví dụ: Komisrov,1964 đã có thí nghiệm tổng hợp về ảnh hưởng
của ánh sáng, độ ẩm không khí và độ ẩm đất đến tỷ lệ ra rễ của hom cây Sồi 1 tuổi
và thấy rằng hom lấy từ cây trồng ở nơi có ánh sáng tán xạ lớn, độ ẩm không khí và
độ ẩm đất cao có tỷ lệ ra rễ 64%-92%, trong lúc hom lấy từ cây trồng ở nơi có ánh
sáng mạnh, độ ẩm không khí và độ ẩm đất thấp chỉ có tỷ lệ ra rễ 44-68%, còn đối
với cây 18 tuổi, dù mọc ở điều kiện nào cũng không ra rễ, từ đó tác giả nhận định là
các điều kiện cây trồng có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom lấy từ cây non, song
không có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom lấy từ cây lớn tuổi.
9
-Thời vụ giâm hom
Thời vụ giâm hom là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng
đến sự ra rễ của hom giâm. Tỷ lệ ra rễ của hom giâm phụ thuộc vào thời vụ lấy cành
và thời vụ giâm hom, một số loại cây có thể giâm hom quanh năm, nhưng một số
loài thì cần có thời vụ nhất định, mùa mưa là mùa giâm hom có tỷ lệ ra rễ cao nhất
của nhiều loại cây, trong khi một số loài khác lại ra rễ cao nhất vào mùa xuân. Hom
lấy trong thời kỳ cây mẹ có hoạt động sinh trưởng mạnh thường có tỷ lệ ra rễ cao
hơn so với các thời kỳ khác.
Nhiệt độ không khí và nhiệt độ giá thể
Cùng với ánh sáng nhiệt độ là một trong những nhân tố quyết định tốc độ ra
rễ của hom giâm, ở nhiệt độ quá thất, hom nằm ở trạng thái tiềm ẩn và không ra rễ,
còn ở nhiệt độ quá cao lại tăng cường hô hấp và bị nóng, từ đó cũng làm giảm tỷ lệ
ra rễ của hom.
Các loài cây nhiệt đới cần nhiệt độ không khí trong nhà giâm hom thích hợp
cho ra rễ là 28-330C và nhiệt độ giá thể thích hợp là 25-300C (longman, 1993).
cát pha để đảm bảo độ thoát nước trung bình, không tạo cho giá thể quá khô hoặc
quá ướt. Để chống nấm bệnh, giá thể và hom đều phải được xử lí thuốc diệt nấm
như: Benlat, Seradix, đối với giá thể xử lí thường xuyên nồng độ 6-10g/10lit nước
10-15 ngày mới tưới một lần, tưới đều lên giá thể để đảm bảo vệ sinh, không được
đem các vật thể dễ lây truyền nấm bệnh vào nhà kính hoặc nhà giâm hom.
Sử dụng chất điều hòa sinh trƣởng:
Các chất điều hòa sinh trưởng có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình
hình thành bộ rễ của hom giâm. Để cho hom ra rễ thì mỗi loài cây phải được xử lí
một loại thuốc với nồng độ và thời gian thích hợp.
+ Các auxin (hay loại thuốc kích thích ra rễ)
Đa số hom các loại cây đều xử lí bằng các chất kích thích thì mới mọc rễ,
trong đó các auxin là các chất được sử dụng nhiều nhất, các auxin được chia thành
hai nhóm là auxin tự nhiên và auxin tổng hợp, auxin tự nhiên được viết là IAA (axit
Indol- axitic). Các auxin tổng hợp là IBA (axit Indol-butiric); IPA (axit Indolpropionic) và NAA (axit Napthalen-axetic). Các chất được dùng kích thích ra rễ
11
hiện nay chủ yếu là những chất nói trên hoặc dẫn xuất của chúng. Các loại chất kích
thích ra rễ thường dùng hiện nay là: IAA, IBA, NAA ở dạng tinh khiết hay dạng
thương phẩm như Seradix Exuberon, ABT… tuy vậy trong từng trường hợp cụ thể
thì auxin lại có hiệu quả ra rễ khác nhau đối với từng loại cây khác nhau và các loại
thuốc khác nhau. Thí nghiệm giâm hom của các loại bạch đàn trắng, mỡ, sở tại
Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã thấy rằng IBA là chất có hiệu quả ra rễ cao
nhất đối với Bạch đàn trắng: 93,8%, IAA và 2,4D là chất cho hiệu quả ra rễ cao
nhất đối với cây mỡ: 85%, còn đối với cây sở, hiệu quả ra rễ cao nhất: 75% lại
thuộc về chất NAA. Vì thế, cần phải xác định chất kích thích phù hợp với từng loại
cây mới phát huy được tác dụng của chúng.
Xử lí bằng thuốc nƣớc:
Khi sử lý hom bằng thuốc nước thì nồng độ và thời gian xử lý ảnh hưởng
Các auxin có vai trò khá quan trọng trong quá trình hình thành rễ của hom
giâm, vì thế khi sử dụng riêng lẻ có thể chỉ gây hiệu quả từng mặt, còn khi dùng ở
dạng hỗn hợp sẽ tạo được hiệu quả tổng hợp và tăng tỷ lệ ra rễ của hom giâm, biết
lựa chọn các chất với nồng độ thích hợp sẽ làm tăng hiệu quả của thuốc và làm
giảm giá thành cây hom (ví dụ: Thí nghiệm xử lý thuốc nước IBA + NAA cho Tinia
Platyphyllos (Komixarov,1964) và xử lý hỗn hợp thuốc bột IAA + IBA cho Phi lao,
đã thấy rằng tỷ lệ ra rễ và số rễ và chiều dài rễ ở các công thức hỗn hợp đều cao hơn
rỗ rệt so với xử lý hom bằng chất riêng lẻ, kết quả là: Xử lý thuốc nước IBA + NAA
cho hom Tilia Platyllos tỷ lệ ra rễ là 90%, chỉ số rễ: 17,0, còn xử lý hỗn hợp thuốc
bột IAA+ IBA cho hom phi lao có tỷ lệ ra rễ là: 60% và chỉ số ra rễ là: 17,0, còn xử
lý riêng lẻ thuốc IBA cho hom phi lao thì tỷ lệ ra rễ: 33%, chỉ số ra rễ; 11,7 và cho
hom Tilia Platyphyllos cũng tương tự…
Thời gian xử lý thuốc
Cùng một loại thuốc, cùng một nồng độ, nhưng thời gian xử lý khác nhau
cũng cho kết quả khác nhau. Cần chú ý là giữa thời gian sử lý, nồng độ và nhiệt độ
không khí có mỗi quan hệ nhất định nên cần phải điều chỉnh sao cho thích hợp thì
kết quả ra rễ của hom mới được cải thiên, nếu nồng độ chất kích thích cao, cần xử
lý với thời gian ngắn và ngược lại. Nếu nhiệt độ không khí cao cần xử lý với nồng
độ thấp và thời gian ngắn hơn.
13
Phƣơng pháp xử lý hom:
Thông thường hom được xử lý bằng cách ngâm hom trong dung dịch chất
kích thích ra rễ hoăc chấm phần gốc của hom vào hốn hợp chất kích thích dạng bột.
Lars schmist (1993). [13] đã nêu lên 3 cách xử lý sau:
Chất kích thích ra rễ là hỗn hợp chất tan thì phần gốc của hom được nhúng
vào nước và chấm vào thuốc, sao cho thuốc dính vào gốc hom. Chất kích thích là
dung dịch có nồng độ thấp 20-200ppm phần gốc hom được nhúng vào dung dịch
phải để lại một số lá tối thiểu ở phía trên cho hom giâm và phải cắt bớt phiên lá,
song phải cắt hết lá ở phần giâm dưới đất. Giâm hom phải đặt trong lều nilon để giữ
ẩm và giữ nhiệt, trên lều có mái che để tránh ánh nắng trực xạ và giảm bớt cường độ
sáng. Giá thể giâm hom phải thoát nước tốt và không bị nấm bệnh phải thường
xuyên tưới phun mù đủ ẩm và giữ đủ độ ẩm không khí cho hom giâm.
Vậy để giâm hom thành công cho bất cứ loại cây nào đều phải kết hợp một
cách đầy đủ và đồng bộ, các biện pháp kỹ thuật cần thiết từ khâu chăm sóc cây mẹ
lấy cành đến lấy hom và giâm hom cũng như việc tạo diều kiện cần thiết để hom dễ
ra rễ. Sau khi hom ra rễ lại phải biết huấn luyện cây hom để chúng thích ứng dần
với điều kiện vườn ươm và rừng trồng.
2.3. Những nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
2.3.1. Trên thế giới
Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, có vai trò rất quan trọng đối với
mọi sự sống trên trái đất. Rừng là lá phổi xanh của nhân loại, là nơi cung cấp gỗ
củi,... bên cạnh đó còn có ý nghĩa rất to lớn về kinh tế . Sớm hiểu được tầm quan
trọng đó, con người đã trồng và bảo vệ để đảm bảo diện tích rừng đang ngày càng
suy giảm nghiêm trọng. Để phục vụ cho công tác trồng rừng thì nguồn giống vô
cùng quan trọng. Ngay từ đầu những năm 1950 đã có hàng loạt cuốn sách về chọn
giống cây rừng đã được xuất bản ở nhiều nước trên thế giới. Trong đó có cuốn “
Chọn giống cây rừng đại cương” (1951) của Syrach Larsen, ông đã nghiên cứu và
sản xuất được một số cây ưu thế lai về sinh trưởng và có hình dáng đẹp đã lập được
sơ đồ bố trí cây trong vườn ươm.
Đầu năm 1961 Girdano [13] đã tiến hành thí nghiệm giâm hom Bạch đàn
E.camalodulensis một năm tuổi, đạt tỷ lệ ra rễ 60%. Đến năm 1963 nhà nghiên cứu
15
người Pháp là Franclet đã đưa ra một danh sách gồm 58 loài Bạch đàn đã được thử
nghiệm và giâm hom thành công.
Những năm 1983-1984, các thử nghiệm nhanan giống bằng hom được tiến
hành tại viện khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam nội dung nghiên cứu tập trung vào
đặc điểm giải phẫu của hom,ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm của môi trường và xử lý
hom bằng chất kích thích.
Cùng năm 1984, Nguyễn Ngọc Tân đã giâm hom thành công loài cây Mỡ từ
cây non hoặc từ chồi gốc cây trưởng thành. Ông cho biết tỷ lệ ra rễ là 40% ở hom
chưa hóa gỗ hoặc cây Mỡ khi các hom này được xử lý với thuốc 2,4D nồng độ
50ppm trong 3 giây. . [7]
Và từ những năm 1990 trở lại đây đã có rất nhiều các nghiên cứu về rất nhiều
loài cây khác nhau tạo nên sự phong phú và đa dạng giống cây rừng. Như các loài
cây Bạch đàn (1990-1991), cây Sổ (Lang Sơn 1990), Keo lá tràm và Keo lai (1995),
Pơmu (Lâm Đồng) cây Bách xanh (1999), Thông đỏ (Ba Vì 1995).
Theo bản tin Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng số 4 – 2005 nhân giống một số loài
cây rừng bằng phương pháp giâm hom đã có nhiều triển vọng :
- Đối với cây Pơmu độ tuổi từ 2 - 8 tuổi lấy cành của cây trưởng thành hoặc
đã qua tạo chồi. Hom ra rễ đạt 85 – 90% khi xử lý bằng NAA 1,5% với giá thể bằng
cát hay trực tiếp trong túi bầu.
- Đối với cây Bách xanh ở độ tuổi 2 -10 tuổi lấy cành của cây trưởng
thành hoặc đã qua tạo chồi. Hom ra rễ đạt 85- 95% khi xử lý IBA 1% với giá
thể bằng cát.
- Với cây Hồng tùng giâm hom thành công ở các giai đoạn có độ tuổi khác
nhau bằng chồi vượt và cây trưởng thành hoặc đã qua tạo chồi. hôm ra rễ đạt 8085% khi xử lý IBA 1,5% trên giá thể bằng cát.
- Đối với vây Trầm Hương có một số nghiên cứu sau :
Hiện nay trên thế giới biết đên với 25 loại Trầm Hương khác nhau, trong đó
có 15 loài có khả năng tạo trầm. Từ những năm 1999 TS> Trần Văn Minh - viện
sinh học nhiệt đới đã đưa vào nghiên cứu nhân giống Trầm Hương bằng phương
pháp nuôi cấy mô từ cây đã có Trầm ngoài tự nhiên.