LỜI CẢM ƠN
Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới
ThS. Cao Thị Hạnh, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong quá trình thực
hiện khóa luận.
Qua đây cho tôi gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong khoa Lý
luận chính trị, phòng Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế, Trung tâm thông tin Thư
viện trường Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu hoàn
thành khóa luận.
Xin gửi lời cảm ơn đến Đảng bộ, Ban văn hóa, Mặt trận tổ quốc và UBND
xã Mường Bằng - huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La, đã nhiệt tình cộng tác, tạo điều
kiện cho tôi có thể hoàn thành khóa luận. Tôi cũng xin cảm ơn tất cả bạn bè, người
thân đã luôn giúp đỡ, động viên, khuyến khích tôi nỗ lực hoàn thành khóa luận
nghiên cứu của mình.
Khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận
được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các bạn để khóa luận này được
hoàn thiện hơn.
Kính chúc quý thầy cô sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt
Xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Cà Văn Loan
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
UBND
: Ủy ban nhân dân
MTTQ
huyện Mai sơn, tỉnh Sơn La (2000 - 2014) ...................................................................23
2.2.1. Công tác lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa cơ sở của Đảng bộ xã Mường
Bằng, huyện Mai sơn, tỉnh Sơn La (2000 - 2005) .........................................................23
2.2.2. Công tác lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa cơ sở của Đảng bộ xã Mường
Bằng, huyện Mai sơn, tỉnh Sơn La (2006 - 2011) .........................................................31
2.2.3. Công tác lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa cơ sở của Đảng bộ xã Mường
Bằng, huyện Mai sơn, tỉnh Sơn La (2011 - 2014) .........................................................39
2.3. Nguyên nhân của những hạn chế và bài học kinh nghiệm .....................................48
2.3.1. Nguyên nhân của những hạn chế.........................................................................48
2.3.2. Bài học kinh nghiệm ............................................................................................50
TIỂU KẾT CHƯƠNG II ...............................................................................................51
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG
TÁC LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở CƠ SỞ XÃ MƯỜNG
BẰNG, HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA .............................................................52
3.1. Nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ xã Mường Bằng,
huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La ..........................................................................................52
3.1.1. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo ..................................................................52
3.1.2. Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo phong trào cấp xã và Ban vận
động bản ........................................................................................................................55
3.2. Nhóm giải pháp nhằm xây dựng đời sống văn hóa xã ở cơ sở xã Mường Bằng,
huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La ..........................................................................................56
3.2.1. Giáo dục nâng cao nhận thức chính trị, ý thức pháp luật, truyền thống dân tộc và
cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” cho nhân
dân .................................................................................................................................56
3.2.2. Tăng cường xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách về xây dựng đời
sống văn hóa ở cơ sở .....................................................................................................58
TIỂU KẾT CHƯƠNG III ..............................................................................................63
KẾT LUẬN ..................................................................................................................64
văn hóa, Làng văn hóa, Khu dân cư văn hóa, Cơ quan văn hóa… gây nên ấn tượng
văn hóa tràn ngập khắp mọi nơi. Nhưng sự thẩm thấu những giá trị văn hóa ở những
con người cụ thể, lại không hẳn như vậy. Những thành viên của cộng đồng được tôn
vinh danh hiệu văn hóa đó khi bước ra cuộc sống xã hội dường như hành xử lại
không xứng đáng với danh hiệu đó. Chính vì vậy, mặc dù chúng ta đã có nhiều cộng
1
đồng đạt danh hiệu văn hóa nhưng chẳng vì thế mà các hiện tượng phản văn hóa giảm
đi mà có khi lại gia tăng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đưa ra nhận định: “Hoạt động văn hóa,
văn nghệ, thông tin, thể thao ngày càng được mở rộng, từng bước đáp ứng nhu cầu
hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân. Phong trào toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa từng bước đi vào chiều sâu” [18, 155]. Tuy nhiên, cũng trong
lĩnh vực này: “Văn hóa phát triển chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế. Quản lý
văn hóa, văn nghệ, báo chí xuất bản còn thiếu chặt chẽ. Môi trường văn hóa bị xâm
hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm
và sự xâm nhập của các sẩn phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là
trong thanh thiếu niên, rất đáng lo ngại” [18, 169]. Những đánh giá trên đây về những
thành tựu, hạn chế của nhiệm vụ xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam thời gian qua
đã phản ánh đúng những gì đã và đang xảy ra tong lĩnh vưc này.
Xã Mường Bằng, tuy là một trong những xã vùng I của huyện Mai Sơn, tỉnh
Sơn La nhưng hệ thống cơ sở hạ tầng còn thấp, các thiết chế cho đời sống văn hóa
chưa nhiều nên mức hưởng thụ văn hóa nhìn chung còn thấp. Mặt bằng dân trí vẫn còn
thấp, không đồng đều, đời sống kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn. Với 97,6%
[Số liệu thống kê năm 2010] dân số của xã là dân tộc thiểu số, trong quá trình phát
triển các dân tộc trong xã đoàn kết tạo dựng nên bản sắc văn hóa vừa đa dạng, vừa
mang đậm nét riêng của từng dân tộc. Do vậy, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa” tại xã Mường Bằng vừa mang những nét chung của các phong
trào trên phạm vi cả nước, tỉnh Sơn La và huyện Mai Sơn, lại vừa mang những đặc
Nâng cao tính văn hóa trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinh hoạt của
nhân dân. Đẩy mạnh việc xây dựng nền văn hóa đại chúng và môi trường văn hóa lành
mạnh” [24, 213].
Trên cơ sở những định hướng của Đảng, hoạt động nghiên cứu, xây dựng đời
sống văn hóa ở cơ sở đã diễn ra sôi nổi, rộng rãi trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội, nó đã đem lại những mặt tích ban đầu và ngày càng đi vào chiều sâu, thu hút sự
quan tâm chú ý của nhiều học giả khoa học với các công trình nghiên cứu tiêu biểu
như: cuốn sách “Văn hóa và cách tiếp cận mới” (1999) của Phan Ngọc, Nxb. Văn hóa
Thông tin, Hà Nội; Cuốn sách “Văn hóa đổi mới” (1994) của Thủ Tướng Phạm Văn
Đồng nêu lên một số luận điểm về mối liên hệ giữa văn hóa và sự nghiệp đổi mới;
Giáo trình “Cơ sở văn hóa Việt Nam” (1998) của Giáo sư Trần Quốc Vượng (Nxb.
Giáo dục, Hà Nội) đưa ra các khái niệm cơ bản về văn hóa học,văn hóa và môi trường
tự nhiên, văn hóa với môi trường xã hội,tiếp xúc và giao lưu văn hóa, cấu trúc, các
thiết chế và chức năng của văn hóa, diễn trình và không gian văn hóa Việt Nam; “Tìm
về bản sắc văn hóa Việt Nam” (1996) của PGS. TS Trần Ngọc Thêm đi tìm những nét
3
bản sắc - đó là những nét đặc trưng cơ bản cần thiết cho việc tìm hiểu văn hóa Việt
Nam với quy luật hình thành và phát triển của chúng; “Văn hóa và văn minh” (1998)
của Hồ Sĩ Quý. Các công trình nghiên cứu và bài viết trên đã đưa ra những luận điểm
riêng, những cách hiểu, cách tiếp cận khác nhau và có những cách định nghĩa khác
nhau về văn hóa. Điều đó chứng tỏ rằng văn hóa đã và đang được tiếp cận và nghiên
cứu dưới nhiều hình thức rất phong phú và đa dạng. Những tài liệu trên là nguồn tư
liệu mà tôi tham khảo để đưa ra quan niệm về văn hóa trong khóa luận của mình.
Có nhiều tác phẩm có liên quan đến công tác xây dựng đời sống văn hóa, trong
đó có tác phẩm “Đời sống mới” (1947) của Chủ Tịch Hồ Chí Minh dưới bút danh Tân
Sinh đưa ra khái niệm “Đời sống mới” bao gồm đời sống mới riêng cho từng người và
đời sống mới chung cho cộng đồng, tập thể như các gia đình, làng xã, nhà máy, trường
học, công sở… Về tinh thần, đời sống mới cần phải cần, kiệm, liêm, chính; nếu không
hóa ở địa phương mang tính đặc thù bên cạnh những đường lối chỉ đạo chung của
Đảng, đó là một vấn đề rất rộng lớn và phong phú mà các tác giả còn chưa cập tới
nhiều nội dung, đặc biệt là chưa có công trình khoa học nào đi sâu vào việc nghiên cứu
quá trình Đảng bộ xã Mường Bằng, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La lãnh đạo xây dựng
đời sống văn hóa cơ sở. Việc tìm hiểu đời sống văn hóa ở các địa phương mới được
triển khai bước đầu và đạt được kết quả còn khiêm tốn so với giá trị vốn có của văn
hóa và khả năng thực hiện của nhân dân.
Kết quả nghiên cứu của các tác giả là cơ sở để tôi định hướng và xác định mục
tiêu nghiên cứu phù hợp cho khóa luận tốt nhgiệp của mình.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
- Góp phần tổng kết các kết quả hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
trên địa bàn xã Mường Bằng, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
- Làm rõ vai trò của Đảng Bộ xã Mường Bằng, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đối
với công tác lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp khả thi từ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn trong quá trình
địa phương triển khai tổ chức thực hiện cuộc vận động phong trào “Toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hóa”, nhằm góp phần nâng cao công tác lãnh đạo xây dựng đời
sống văn hóa ở cơ sở hiện nay tại xã Mường Bằng, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ
Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng đời sống văn hoá cơ sở.
- Khảo sát quá trình Đảng bộ xã Mường Bằng, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa cơ sở; tổng kết thực trạng, những thành tựu và
hạn chế khó khăn trong công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo
xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trong giai đoạn hiện nay.
5
Chương 2. Đảng bộ xã Mường Bằng, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La lãnh đạo xây
dựng đời sống văn hóa ở cơ sở trong giai đoạn hiện nay.
Chương 3. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo xây
dựng đời sống văn hóa ở cơ sở xã Mường Bằng, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ CỦA VIỆC LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở
XÃ MƯỜNG BẰNG, HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm văn hóa và đời sống văn hóa ở cơ sở
Khái niệm văn hóa
Ai đó đã từng nói rằng: “Mất nước còn có thể sáng tạo ra Đất nước nhưng mất
văn hóa là mất tất cả” điều đó cho thấy rằng văn hóa hóa có ý nghĩa hết sức quan
trọng đối với vận mệnh của con người. Cho tới nay, khái niệm văn hóa có rất nhiều
cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt của đời sống xã hội. Nghĩa là việc xác
định khái niệm khái niệm văn hóa là không hề đơn giản vì mỗi tác giả đều xuất phát từ
những nguồn cứ liệu riêng, góc độ riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề nghiên
cứu của mình.
Chủ nghĩa Mác - Lênin, khi nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của xã
hội loài người đã khái quát các loại hình hoạt động của xã hội thành hai hoạt động cơ
bản là “sản xuất vật chất” và “sản xuất tinh thần”. Với ý nghĩa đó, theo nghĩa rộng, văn
hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần: Văn hóa vật chất là năng lực
sáng tạo của con người được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất. Theo nghĩa
hẹp, văn hóa chủ yếu được hiểu với ý nghĩa là văn hóa tinh thần. Văn hóa tinh thần là
tổng thể các tư tưởng, lý luận và giá trị được sáng tạo ra trong đời sống tinh thần và
hoạt động tinh thần của con người. Như vậy, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá
trình lịch sử của mình. Văn hóa biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ
và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lao động (bao gồm cả lao động
chân tay và lao động trí óc) bị chi phối bởi môi trường xung quanh và tính cách của
từng tộc người. Văn hóa là nền tảng chi phối hành vi ứng xử của con người với thế
giới xung quanh, được biểu hiện trong tất cả các lĩnh vực của ời sốg xã hội. Văn hóa
là những giá trị có tính ổn định tương đối, có cái trường tồn khá lâu trong lịch sử
nhưng cũng có cái thay đổi hết sức nhanh chóng. Văn hóa giúp con người tự hoàn thiện,
khắc họa bản sắc tính cách riêng của một cộng đồng, có tầm quan trọng to lớn và ý
nghĩa cách mạng sâu xa đối với vận mệnh con người. Chính vì vậy, văn hóa giúp cho xã
hội duy trì trạng thái cân bằng động, là nội lực thúc đẩy cho sự phát triển toàn xã hội.
Khái niệm đời sống văn hóa ở cơ sở
Từ khái niệm văn hóa trên ta thấy cần phải xây dựng đời sống văn hóa ở tất cả các
cơ sở trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội hay nói cách khác chính là xây dựng
đời sống văn hóa cơ sở. Tuy nhiên, đời sống văn hóa cơ sở là khái niệm mang tính phổ
quát và cần có sự thống nhất về cách hiểu để có thể vận dụng đúng và phù hợp.
8
Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã làm rõ khái niệm “Đời sống văn hóa” trong cuốn
sách “Đời sống mới” (3/1947). Thực chất đời sống văn hóa là “đời sống mới” với ba
nội dung: đạo đức mới, lối sống mới, nếp sống mới. Ba nội dung có quan hệ mật thiết
với nhau, trong đó đạo đức mới giữ vai trò chủ yếu. Đạo đức mới là thực hành đạo đức
cần, kiệm, liêm, chính. Người cũng nhiều lần khẳng định: “Nếu không giữ đúng Cần,
Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân…” [23, 104/110].
Lối sống mới là lối sống có lý tưởng, có đạo đức, văn minh, tiên tiến, kết hợp hài hòa
giữa truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại. Nếp sống mới là nếp sống
văn minh, là quá trình làm cho lối sống mới dần trở thành thói quen, kế thừa và phát
triển thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc. Theo người, đời sống mới không phải
cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ,
cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì sửa đổi. Cái gì cũ mà tốt thì phải phát
triển thêm. Cái gì mới thì phải làm, phải bổ sung. Người cũng chỉ rõ xây dựng đời
Trong đó, sản phẩm văn hóa vật thể là loại sản phẩm văn hóa hữu hình dưới dạng vật
thể như các công trình kiến trúc, các tác phẩm văn chương, danh lam thắng cảnh, cổ
vật và bảo vật… Các sản phẩm văn hóa phi vật thể là loại sản phẩm văn hóa không
hiện hữu một cách cố định, tồn tại dưới dạng các quan niệm về giá trị và chuẩn mực xã
hội, được ghi nhận và lưu truyền trong ký ức của xã hội. Đó là các huyền thoại, truyền
thuyết, không gian văn hóa, lễ hội, diễn xướng dân gian, tinh thần dân tộc và các giá
trị đạo đức, thẩm mỹ… Sự tồn tại kết hợp hai loại sản phẩm văn hóa trên tạo ra môi
trường văn hóa tinh thần liên kết sức mạnh của các nhóm xã hội và các thế hệ tạo nên
sức sống của một dân tộc, một đất nước góp phần hình thành, phát triển và hoàn thiện
nhân cách con người. Các sản phẩm văn hóa tác động đến cộng đồng thông qua các
thiết chế văn hóa - xã hội như gia đình, trường học, thư viện, trung tâm văn hóa… Đây
là “cốt vật chất” để tổ chức và truyền tải các giá trị văn hóa tới cộng đồng.
Tóm lại, đời sống văn hóa là tất cả nội dung, cách thức và hình thức hoạt động
văn hóa nhằm đáp nhu cầu hưởng thụ và phát triển của con người trong điều kiện kinh
tế - xã hội nhất định. Đó cũng chính là quá trình hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn
hóa vì sự phát triển của con người và cộng đồng.
Từ khái niệm đời sống văn hóa ta có thể kết luận rằng: đời sống văn hóa cơ sở
là đời sống văn hóa diễn ra ở cơ sở như cộng đồng, gia đình, làng bản, trường học,
các cơ quan đơn vị hành chính sự nghiệp ở cơ sở… Đó là các hoạt động văn hóa gắn
liền vật chất và tinh thần của cá nhân, cộng đồng trong các mối liên kết thường xuyên
và trực tiếp với không gian địa lý nhất định cùng với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật
và các thiết chế văn hóa nhất định. Các cộng đồng dân cư sống cố định hình thành nên
các tổ chức hành chính (xã, phường, thị trấn, trường học, bệnh viện…) hay các cộng
đồng nhỏ hơn (bản, tổ dân phố, tiểu khu…) đều có thể được gọi là các đơn vị văn hóa
cơ sở.
10
1.1.2. Quan điểm của Đảng ta về xây dựng đời sống văn hóa trong thời kỳ đổi mới
Trên cơ sở quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
11
bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào
toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và
cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo
ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển,
phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” [15, 5455]. Trong đó, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là một nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu để xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc. Đảng ta đã nhấn mạnh: “Tạo ra ở
các đơn vị cơ sở (gia đình, làng, bản, xã, phường, khu tập thể, cơ quan, xí nghiệp,
nông trường, lâm trường, trường học, đơn vị bộ đội...), các vùng dân cư (đô thị, nông
thôn, miền núi...) đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng những nhu cầu văn hóa đa
dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân... Phát triển và không ngừng
nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa ở cơ sở; đầu tư xây dựng một
số công trình văn hoá trọng điểm tầm quốc gia. Tăng cường hoạt động của các tổ chức
văn hóa, nghệ thuật chuyên nghiệp, phát triển phong trào quần chúng hoạt động văn
hóa, nghệ thuật” [15, 59-60].
Trên cơ sở quan tâm sâu sắc đến vấn đề đời sống văn hóa và xây dựng đời sống
văn hóa cơ sở, Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương 5 khóa VIII chủ trương xây
dựng một xã hội: "Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực,
nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương, phép nước, quy ước của cộng đồng, có ý thức bảo vệ
và cải thiện môi trường sinh thái" [15, 58-59].
Hội nghị Trung ương 10 khóa IX Đảng ta nhấn mạnh những nhiệm vụ trọng
tâm cần thực hiện trong giai đoạn này:
Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời
sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết là các tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt
trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và trong cá nhân, gia đình, thôn xóm, đơn vị, tổ
chức cơ sở… Cần xác định đây là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, vừa cấp bách,
vừa cơ bản, lâu dài. Gắn nhiệm vụ xây dựng văn hóa với nhiệm vụ xây dựng, chỉnh
bảo tàng, nhà truyền thống, thư viện,...
Đây là những tư tưởng cơ bản, cốt lõi có ý nghĩa chỉ đạo chiến lược cho quá
trình xây dựng và phát triển văn hóa nói riêng, xây dựng và phát triển đất nước nói
chung trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
Tiếp tục kế thừa và phát triển những quan của các kỳ Đại hội trước đó, gần đây
nhất, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011) của Đảng xác định nền văn hóa ở
nước ta là: “Nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống
nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho
văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng
13
tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”[18, 75]. “Kế thừa và
phát huy những truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu
những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh,
vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ nhận thức, đạo đức, thể lực
và thẩm mĩ ngày càng cao”[18, tr.76]. Quan điểm trên của Đảng thể hiện sự nhất quán
của Đảng trong nhìn nhận đánh giá, chỉ đạo xây dựng và phát triển văn hóa, gắn chặt với
chiến lược xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội tiếp tục
khẳng định củng cố và xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, đưa phong trào toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả.
Từ sự phân tích trên có thể thấy, vấn đề văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa
cơ sở đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đến từ rất sớm và coi việc
phát triển văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là những nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu, là động lực lớn cho thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và
đặc biệt là trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa mà toàn Đảng và toàn toàn dân ta
đang xây dựng.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Sự cần thiết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
Đời sống văn hoá ở cơ sở là một bộ phận cấu thành có ý nghĩa quan trọng trong
trong sáu đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Như vậy, nền văn
hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu phấn đấu, vừa là một nhiệm vụ
trọng yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở cũng là một động lực thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội ở cơ sở. Muốn xoá đói giảm nghèo mà không có trình độ hiểu biết,
trình độ văn hoá thì khó có thể thực hiện được. Muốn có môi trường xã hội lành mạnh
phải xây dựng con người lành mạnh. Phương châm lấy xây dựng đời sống văn hoá để
phòng, chống tệ nạn xã hội vẫn là phương châm đúng đắn và có hiệu quả cao. Mặt
khác việc xoá đói giảm nghèo, việc xây dựng điện, đường, trường, trạm… ở các cơ sở
lại là điều kiện tốt cho việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở.
Ở một phương diện khác, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở là cuộc đấu tranh
gay gắt trên mặt trận tư tưởng văn hoá. Đó là cuộc đấu tranh nhằm khẳng định các giá
trị dân chủ, nhân văn và tiến bộ của văn hoá; giáo dục nếp sống đạo đức và phong cách
ứng xử có văn hoá cho mọi người; phát triển văn hoá dân tộc đi đôi với việc mở rộng
giao lưu văn hoá nước ngoài; vừa giữ gìn và phát huy văn hoá dân tộc, vừa tiếp thu
chọn lọc tinh hoa văn hoá thế giới.
Việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở có ý nghĩa thiết thực và hiệu quả trực
tiếp vì nó tác động trực tiếp, thường xuyên đến mọi tầng lớp nhân dân lao động, có ảnh
hưởng lớn đến đời sống của nhân dân. Cụ thể nó tác động trực tiếp tới việc hình thành
15
nhận thức đúng đắn trong nhân dân về chính trị, kinh tế được giải phóng về nhân cách
và lối sống. Tạo ra một sự liên hợp giữa cá nhân và cộng đồng, bảo vệ văn hóa dân
tộc, quyết tâm đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước, dù phải hy sinh đến cuộc
sống của mỗi người.
1.2.2. Thực trạng công tác xây dựng đời sống văn hóa ở xã Mường Bằng, huyện
Mai Sơn, tỉnh Sơn La trước năm 2000
Thành tựu
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 5 (khóa VIII) năm 1998, Đảng ta đưa ra
xóm; phát quang bụi rậm; tổ chức ra các đội văn nghệ trong các bản và thường xuyên
giao lưu với nhau... đến năm 2000 trong toàn xã có 50% số bản có đường ô tô đến
trung tâm, có 12 đội văn nghệ quần chúng. Tiêu biểu như các đội bản Bằng, bản Bó,
bản Liềng, bản Mé... góp phần thực hiện có hiệu quả cuộc vận động.
Tuy còn khiêm tốn nhưng trong giai đoạn 1998 - 2000, phong trào “Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư” đã từng bước đi vào khu dân cư,
bước đầu hình thành cho người dân ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, có lối
sống văn minh... đồng thời tạo điều kiện để thực hiện các phong trào khác như “Gia
đình văn hóa”, “Gia đình hiếu học”... Năm 1998 toàn xã có 80 hộ đạt danh hiệu Gia
đình văn hóa thì đến năm 2000 toàn xã có 167 hộ. Phong trào xây dựng Gia đình văn
hóa góp phần nâng cao vị trí, vai trò của gia đình trong xây dựng đời sống văn hóa,
nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần cho người dân.
Quán triệt Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về chiến lược con người trong
thời kỳ đổi mới, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Sự nghiệp
giáo dục của địa phương cũng có bước phát triển tích cực. Số học sinh đến trường tăng
7,3% so với nhiệm kỳ trước. Tỷ lệ chuyển lớp, chuyển cấp đạt từ 90 - 96%. Chất
lượng dạy và học tiếp tục được đổi mới, nâng cao. Quan hệ giữa nhà trường và địa
phương trong việc vận động con em trong độ tuổi đến trường được triển khai hiệu quả,
đạt tỉ lệ trung bình cứ 3 người dân có 1 người đến lớp học. Năm 1998, xã Mường Bằng
được công nhận phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ.
Đại hội Đảng bộ huyện Mai Sơn lần thứ XV (1996) xác định: “Quyết tâm giữ
vững ổn định chính trị, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, thực hiện công nghiệp
hóa nông thôn, nâng cao đời sống nhân dân, vì mục tiêu dân giàu, huyện mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh”. Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ
XV, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XVI (nhiệm kỳ 1995 - 2000), các phong
trào thi đua thi đua trên lĩnh vực kinh tế phát triển dưới nhiều hình thức như: Phong
trào làm kinh tế giỏi từ vườn rừng, vườn đồi; chăn nuôi kết hợp với trồng cây ăn quả,
tổng sản lượng lương thực quy thóc năm 2000 đạt 3.500 tấn... nhiều hộ gia đình thoát
nghèo vươn lên làm giàu, đời sống vật chất và tinh thần được nâng cao. Kinh tế khởi
sắc tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển các lĩnh vực văn hóa - xã hội.
ngăn chặn triệt để. Đội ngũ cán bộ làm văn hóa trên địa bàn nhìn chung chưa được
chuẩn hóa về mặt chuyên môn, nghiệp vụ, chưa làm tốt công tác tham mưu.
Đời sống văn hóa còn nghèo nàn, thiếu thốn, lạc hậu ở vùng sâu, vùng xa, vùng
đồng bào các dân tộc thiểu số chưa được khắc phục có hiệu quả, khoảng cách chênh
18
lệch về hưởng thụ văn hóa giữa các vùng xã hội tiếp tục gia tăng... chưa thể đáp ứng
nhu cầu hưởng thụ văn hóa trong nhân dân.
Nguyên nhân của tình trạng trên, đó là:
Nguyên nhân cơ bản nhất chính là do điều kiện kinh tế - xã hội trong giai đoạn
này còn hết sức khó khăn. Đó là tình trạng chung khi mà nước ta vừa thoát khỏi cuộc
khủng hoảng kinh tế và bước vào tiến hành công ngiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do
vậy, nguồn kinh phí cho phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”
còn ít và chưa được quan tâm.
Một số nội dung, tiêu chuẩn của phong trào chưa rõ ràng, phù hợp.
Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu trách nhiệm, không có năng lực.
Trình độ dân trí thấp, việc xóa bỏ những hủ tục đã ăn sâu vào trong tiềm thức
của người dân là hết sức khó khăn.
Từ đó có thể rút ra bài học kinh nghiệm sau:
Trước hết cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể các cấp phải nắm
vững, quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà, bản sắc dân tộc để đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp cụ thể.
Trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của cấp ủy, chính quyền phải bám sát vào
chương trình, kế hoạch đã đề ra; thường xuyên kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết rút
kinh nghiệm, chỉ đạo nhân dân phát huy tính chủ động, sáng tạo phát huy bản sắc văn
hóa tốt đẹp của từng dân tộc; đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, phát huy những phong tục
tập quán tiến bộ, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu; làm tốt công tác khen thưởng, động viên
kịp thời và thực chất các tập thể, cá nhân điển hình, tiên tiến.
20
CHƯƠNG 2
ĐẢNG BỘ XÃ MƯỜNG BẰNG, HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã Mường Bằng, huyện Mai Sơn, tỉnh
Sơn La
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên của xã Mường Bằng, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Mường Bằng nằm ở phía Tây Bắc của huyện Mai sơn, tỉnh Sơn La. Phía Bắc
giáp xã Mường Bú (huyện Mường La); phía Nam giáp xã Mường Bon, xã Chiềng
Mung; phía Tây giáp xã Chiềng Ngần (thành phố Sơn La); phía Đông giáp xã
Chiềng Sung.
Xã Mường Bằng có đặc điểm địa hình và khí hậu khá đa dạng. Nằm ở độ cao
trung bình là 750m so với mực nước biển, địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần
theo hướng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, dạng địa hình chủ yếu của vùng là các cánh
đồng trải dài nằm xen kẽ với các ngọn đồi thấp sườn thoải thích hợp canh tác sản xuất
nông nghiệp kết hợp với lâm nghiệp tạo ra thế mạnh riêng xã Mường Bằng, các cánh
đồng ở Mường Bằng cũng rất đa dạng phân thành 2 vùng rõ rệt: Vùng Mường Bằng I
(gồm 13 bản) chủ yếu là cánh đồng thoải thấp dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam,
đất màu mỡ có các con suối chảy qua nên rất thuận lợi cho việc canh tác sản xuất lúa
nước 2 vụ và hình thành nên các cánh đồng ruộng bậc thang ở tầm thấp đạt năng suất,
chất lượng cao đảm bảo nhu cầu về lương thực của vùng, ở trên đồi chủ yếu là đất
Feralit, đất phù sa cổ và đất mùn núi cao nên thích hợp trồng rừng, các loại cây công
nghiệp lâu năm như cà phê... đem lại giá trị kinh tế cao, tuy nhiên địa hình của vùng
Mường Bằng I cũng có nhiều khó khăn, đó là địa hình bị chia cắt, giao thông đi lại khó
khăn, nguy cơ lũ lụt vào mùa mưa... ; Vùng Mường Bằng II (gồm 13 bản) chủ yếu là
các cánh đồng rộng bằng phẳng không có các con suối chảy qua nên vào mùa khô