ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LÊ THỊ NGỌC THÙY
ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
HÀ NỘI – 2012
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LÊ THỊ NGỌC THÙY
ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
VÀ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2010
Luận văn thạc sỹ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:
60 22 56
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS. NGUYỄN TRỌNG PHÚC
2.1. Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo đẩy mạnh xây dựng và phát triển đời sống
văn hóa theo quan điểm của Đảng giai đoạn 2006 – 2010. ..........................................62
4
2.1.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về xây dựng và phát triển đời
sống văn hoá theo quan điểm của Đảng . .............................................................. 62
2.1.2. Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về xây dựng và phát triển
đời sống văn hoá. .............................................................................................. 74
2.2. Thành công của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về xây dựng và phát triển đời sống
văn hoá từ năm 2006 đến năm 2010. ................................................................................89
2.2.1 Thành tựu ................................................................................................. 89
2.2.2. Hạn chế ................................................................................................. 104
Chƣơng 3 : Ý NGHĨA VÀ KINH NGHIỆM................................................................108
3.1. Ý nghĩa .........................................................................................................................108
3.1.1. Xây dựng đời sống văn hóa góp phần ổn định chính trị - xã hội .................. 109
3.1.2. Xây dựng đời sống văn hóa có vai trò thúc đẩy kinh tế phát triển .......... 111
3.1.3. Xây dựng đời sống văn hóa nhằm giải quyết tốt những vấn đề xã hội, nâng
cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân........................................................... 114
3.1.4. Xây dựng đời sống văn hóa góp phần xây dựng nông thôn mới. ................. 117
3.2. Những kinh nghiệm từ việc xây dựng đời sống văn hóa ở tỉnh Ninh Bình ......120
3.2.1. Tăng cướng sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng; vận dụng đường lối, chủ trương
của Đảng một cách sáng tạo, phù hợp vào tình hình cụ thể của tỉnh Ninh Bình. ...... 120
3.2.2. Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước về văn hóa; phát huy vai trò chủ động
và trách nhiệm của Mặt trận và các đoàn thể quần chúng trong xây dựng đời sống
văn hóa. ....................................................................................................................123
3.2.3. Khơi dậy những mặt tích cực của văn hóa truyền thống đi đôi với chống
những hủ tục lạc hậu ....................................................................................... 126
3.2.4. Xây dựng đời sống văn hóa phải là hoạt động tự giác của nhân dân, vì
Chủ nghĩa xã hội
GĐVH
:
Gia đình văn hóa
HĐND
:
Hội đồng nhân dân
LVH
:
Làng văn hóa
NQTƯ
:
Nghị quyết trung ương
NSVM
:
Văn hóa thông tin
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
6
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH NINH BÌNH
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình cung cấp
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, mục tiêu xây dựng nền văn
hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hội nhập quốc tế được Đảng và Nhà nước hết
sức quan tâm.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang tạo ra nhiều động
lực và điều kiện quan trọng để phát triển đất nước (nhất là trong điều kiện hội nhập
quốc tế như hiện nay). Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường cũng có những tác động
tiêu cực, cản trở sự nghiệp đổi mới. Đó là sự so sánh thiệt hơn về lợi ích kinh tế,
sự xuống cấp về đạo đức, lối sống; xu hướng thị trường hóa, thương mại hóa và
hoạt động văn hóa ở nhiều địa phương khác trong cả nước.
Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu mà nghị quyết hội nghị lần thứ 5 BCHTW
các hiện tượng tiêu cực trong đời sống kinh tế - xã hội.
Thấm nhuần đường lối phát triển văn hóa của Đảng, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
đã tiến hành chỉ đạo công tác tổ chức xây dựng đời sống văn hóa nhằm tạo ra môi
trường văn hóa lành mạnh, đời sống kinh tế phát triển, đảm bảo trật tự an ninh
quốc phòng.
Những kết quả đạt được của Ninh Bình trong việc xây dựng và phát triển
văn hóa, là mục tiêu và động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh
Bình trong nhiều năm qua, đặc biệt là trong những năm 1998-2010.
Bên cạnh nhưng thành tựu đạt được, những đóng góp của công tác xây
dựng và phát triển văn hóa đối với đời sống kinh tế - xã hội, công tác xây dựng
đời sống văn hóa tỉnh Ninh Bình còn bộc lộ một số hạn chế và gặp không ít
những khó khăn, đặc biệt là việc nâng cao chất lượng hoạt động của các phong
trào văn hóa trong thời kì đổi mới.
Vì vậy, việc tìm hiểu “Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo xây dựng và phát
triển đời sống văn hóa từ năm 1998 đến năm 2010” có ý nghĩa về mặt khoa học,
thực tiễn và giáo dục.
9
Xuất phát từ lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh
đạo xây dựng và phát triển đời sống văn hóa từ năm 1998 đến năm 2010” làm luận
văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Đời sống văn hóa là một vấn đề đã được nhiều cơ quan của Đảng, Nhà nước
và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu dưới những góc độ và phạm vi khác nhau
như:
Những tác phẩm viết về văn hóa nói chung: Phạm Văn Đồng (1994): Văn
hóa và đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, Trần Quốc Vượng (1998): Cơ sở
văn hóa Việt Nam, (Nxb Giáo dục); Lê Thanh (1999): Văn hóa và đời sống, Nxb
xã hội như: Trần Văn Bính (1998): Văn hóa trong quá trình đô thị hóa ở nước ta
hiện nay (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội); Đỗ Huy (2002): Nhận diện văn hóa
Việt Nam và sự biến đổi của nó trong thế kỷ XX (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội);
Phạm Minh Hạc, Nguyễn Khoa Điềm (2003): Về phát triển văn hóa và xây dựng
con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội);
Nguyễn Văn Huyên (2006): Văn hóa mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội
(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội); Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội: Đề cương văn
hóa Việt Nam chặng đường 60 năm (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội);
Tuy nhiên, viết về đời sống văn hoá của tỉnh Ninh Bình một cách toàn diện
và có hệ thống cho đến nay chưa có một cuốn sách chuyên khảo nào. Về nội dung
này mới chỉ có một số kỷ yếu hội thảo và báo cáo bước đầu tổng kết đời sống văn
hoá. Trong đó đáng chú ý có: Báo cáo sơ kết phong trào “Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hoá” tỉnh Ninh Bình 2 năm (1999-2000); Báo cáo tổng kết
phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tỉnh Ninh Bình 20002010; Luận văn “Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo xây dựng đời sống văn hoá ở
cơ sở (1998-2007) của Tạ Thị Mỹ Linh. Ở những ấn phẩm này, đã giới thiệu khái
quát về một số giá trị văn hóa tiêu biểu và một số vấn đề trong công tác xây dựng
đời sống văn hóa cơ sở ở tỉnh Ninh Bình .
11
Mặc dù những vấn đề trên đã đề cập đến lĩnh vực văn hóa nói chung, công
tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở nói riêng nhưng đến nay chưa có công trình
nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu trực tiếp vấn đề "Đảng bộ tỉnh Ninh
Bình lãnh đạo xây dựng và phát triển đời sống văn hóa từ năm 1998 đến năm
2010", dưới góc độ Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam.
Tuy nhiên, các công trình trên là những tài liệu quý mà tôi có thể tham khảo
để thực hiện luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
kết hợp một số phương pháp khác như: thống kê, so sánh, phân tích…Các phương
pháp nêu trên được sử dụng thích hợp với từng nội dung của luận văn.
6. Đóng góp của đề tài
- Hình thành một hệ thống tư liệu tương đối hoàn chỉnh về chủ trương, chính
sách về xây dựng đời sống văn hóa của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình.
- Những kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn xây dựng đời sống văn hóa
trên địa bàn tỉnh Ninh Bình sẽ có ý nghĩa tham khảo trong giai đoạn hiện nay.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo góp phần vào xây dựng lịch sử lãnh
đạo tỉnh Ninh Bình trên lĩnh vực văn hóa.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn gồm có 3 chương
- Chƣơng 1: Xây dựng và phát triển đời sống văn hóa ở tỉnh Ninh Bình từ
năm 1998 đến năm 2005
- Chƣơng 2: Đẩy mạnh xây dựng và phát triển đời sống văn hóa ở tỉnh Ninh
Bình từ năm 2006 đến năm 2010.
- Chƣơng 3: Ý nghĩa và kinh nghiệm
13
Chƣơng 1
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ Ở TỈNH NINH BÌNH
TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2005
1.1. Cơ sở của việc xây dựng đời sống văn hoá ở tỉnh Ninh Bình
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội
1.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Ninh Bình là một vùng đất được hình thành từ lâu đời, nằm ở phía nam đồng
bằng Sông Hồng, nơi tiếp giáp và ngăn cách với phía bắc miền Trung bởi dãy núi
Tam Điệp đã đi vào lịch sử. Phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam với chiều dài 15km, phía
suối nước nóng và rất nhiều các hang động sinh thái như Tam Cốc – Bích Động,
khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, khu du lịch sinh thái Tràng An,
suối nước nóng Kênh Gà...
Đó là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có
nguồn gốc tự nhiên từ nhiều nguồn địa lý khác nhau, tạo điều kiện để phát triển
nông nghiệp, du lịch và đó cũng là tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội thuận lợi
cho Ninh Bình trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
1.1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Ninh Bình là một vùng đất có lịch sử lâu đời. Theo “Ninh Bình toàn tỉnh địa
chí khảo biên” của tác giả Nguyễn Tử Mẫn thì từ cổ xưa vùng đất này thuộc trấn
Nam Giao, nhà Tần thuộc Tượng Quận, nhà Hán gọi nơi đây là Giao Chỉ. Trải qua
nhiều biến đổi về địa danh, đến năm Minh Mạng thứ 10 (1829) trấn Ninh Bình
chính thức ra đời. Đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831) đổi trấn Ninh Bình thành
tỉnh Ninh Bình [59, tr.10].
Sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, tại kỳ họp thứ hai, ngày
27/12/1975, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá V đã quyết định hợp
nhất tỉnh Ninh Bình và tỉnh Nam Hà thành tỉnh Hà Nam Ninh. Trước khi tái lập
15
tỉnh, Ninh Bình có 6 huyện và một thị trấn trực thuộc tỉnh, đó là các huyện Nho
Quan, Gia Viễn, Yên Khánh, Gia Khánh, Yên Mô, Kim Sơn và thị trấn Tam Điệp.
Ngày 26/12/1991, kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khoá VII quyết định tái lập tỉnh Ninh Bình trên cơ sở chia tách tỉnh Hà
Nam Ninh. Tỉnh Ninh Bình chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/4/1992.
Đến nay tỉnh Ninh Bình có 1 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện bao gồm: thành
phố Ninh Bình, thị xã Tam Điệp, huyện Yên Khánh, huyện Nho Quan, huyện Gia
Viễn, huyện Hoa Lư, huyện Yên Mô, huyện Kim Sơn [24, tr. 12].
Người dân Ninh Bình sống chủ yếu bằng nghề nông. Ngoài trồng lúa người
nông, lâm nghệp và thuỷ sản 15,8% (tương
ứng năm 2005: 38,3%; 32,5%;
29,2%). Sản xuất công nghiệp bình quân hàng năm là 28,4%. Du lịch có bước phát
triển khá, năm 2010 doanh thu du lịch đạt 550 tỷ đồng gấp 8,7 lần so với năm
2005. Giáo dục đào tạo phát triển toàn diện, đời sống nhân dân tiếp tục được cải
thiện nhiều mặt, an sinh xã hội được đảm bảo, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 6,15%
(theo tiêu chí 2005). Công tác xây dựng Đảng được chú trọng tạo sự chuyển biến
mạnh mẽ trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức. An ninh quốc phòng được giữ
vững. Hệ thống chính trị tiếp tục được củng cố, đổi mới phương thức và nâng cao
chất lượng hoạt động. [68, tr. 28]. Hoạt động văn hoá thông tin phát triển ngày
càng đa dạng, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên, tiềm lực kinh
tế của Ninh Bình nói chung còn yếu, hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng suất lao
động thấp, hàng hoá, dịch vụ thiếu sức cạnh tranh. Số người chưa có việc làm vẫn
còn nhiều, nhất là ở khu vực thành thị. Các tệ nạn xã hội như nghiện hút, tiêm
chích, mại dâm…có xu hướng gia tăng. Tiềm lực kinh tế của tỉnh tuy dồi dào
nhưng chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và quá trình
công nghiệp hoá hiện đại hoá. Phát triển ngành du lịch và dịch vụ chưa tương xứng
với tiềm năng của tỉnh.
17
Vì vậy, đến nay tỉnh Ninh Bình vẫn còn là một tỉnh nghèo so với nhiều tỉnh
thành trong cả nước. Điều đó đặt ra yêu cầu cho lãnh đạo chính quyền các cấp và
nhân dân Ninh Bình cần phải năng động hơn nữa để tìm ra những giải pháp nhằm
từng bước tháo gỡ những khó khăn trên, mà một trong những giải pháp đó chính là
việc đẩy mạnh xây dựng đời sống văn hoá trên địa bàn toàn tỉnh. Đây chính là một
nút thắt, một khâu chính yếu nhất để vượt qua khó khăn, vươn lên trong sự nghiệp
Truyền thống không thể thay thế được hiện thực nhưng truyền thống sẽ
biến thành sức mạnh vật chất một khi hiểu biết cội nguồn, tự hào về cội nguồn
để vững vàng vươn tới tương lai. Trong dòng chảy không ngừng của thời gian
bất tận, Ninh Bình với bề dày truyền thống và lịch sử đã và sẽ viết nên những
trang sử mới hào hùng, cùng nhân dân cả nước xây dựng một tổ quốc Việt Nam
giàu mạnh, văn minh.
Trong những năm qua, cùng với việc quan tâm xây dựng tỉnh trở thành đơn vị
phát triển toàn diện. Đảng bộ, chính quyền, các cơ quan ban ngành đoàn thể và nhân
dân Ninh Bình đã luôn quan tâm đến công tác xây dựng và phát triển đời sống văn
hoá, vượt qua những khó khăn bước đầu góp phần tích cực vào thành tựu chung của
công cuộc đổi mới đất nước.
1.1.2. Lý luận chung về văn hoá
1.1.2.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về văn hóa
Chủ nghĩa Mác-Lênin quan niệm rằng: Người ta sinh ra ăn, mặc, ở trước rồi
mới hát, múa, vẽ và bàn triết lý sau. Kinh tế là nền tảng của một xã hội, là hạ tầng
cơ sở. Chính trị, pháp luật, văn hóa là những cái được xây dựng trên nền tảng đó,
là thượng tầng kiến trúc của xã hội.
Những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin là những người thầy, những
lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân đã làm cuộc cách mạng vĩ đại trong thế giới
quan, xây dựng một học thuyết mới về văn hóa. Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng:
Văn hóa bao gồm mọi sinh hoạt của con người, nó không chỉ hạn chế trong lĩnh vực
19
tư tưởng, đời sống tinh thần của xã hội. Văn hóa là tất cả những gì con người xây
dựng nên, tất cả những thành tích của loài người về mặt sản xuất, xã hội và tinh
thần.
Lênin đưa ra quan điểm được coi là định nghĩa về văn hóa và xây dựng nền
văn hóa mới: "Nền văn hóa vô sản không phải từ trên trời rơi xuống, nó không
nghĩa. Đó là công việc xây dựng kết cấu hạ tầng văn hóa để tiến hành các hoạt
động giáo dục xã hội chủ nghĩa đối với nhân dân lao động, đồng thời tổ chức sự
giao lưu văn hóa giữa họ. Ngoài ra, xây dựng đời sống văn hóa còn là xây dựng
những điều kiện tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh trong thời gian
rảnh rỗi của nhân dân. Góp phần sáng tạo ra lực lượng sản xuất mới, củng cố quan
hệ sản xuất mới, xóa bỏ cái cũ, xây dựng cái mới trong mọi mặt của đời sống vật
chất cũng như tinh thần ở địa phương, là bước đầu xây dựng khắp nơi một cuộc
sống hạnh phúc, trong đó mọi người vì mỗi người, mỗi người vì mọi người.
Xây dựng đời sống văn hóa nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân
trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa, nghệ thuật, tạo dựng một lối sống
văn minh lịch sự, những phong tục tập quán tốt đẹp vừa đậm đà bản sắc dân tộc
vừa phù hợp với trào lưu văn hóa tiến bộ của nhân loại. Đồng thời, đó còn là động
lực to lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội.
Các hoạt động chủ yếu của công tác xây dựng đời sống văn hóa:
* Hoạt động thông tin, tuyên truyền, cổ động
Nhiệm vụ chủ yếu của công tác thông tin, tuyên truyền cổ động là tập trung
phục vụ nhiệm vụ chính trị và những công tác lớn của địa phương, thực hiện phổ
biến rộng rãi trong công chúng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước,
bao gồm các quyết định của cơ quan lãnh đạo địa phương, đồng thời nêu gương
người tốt việc tốt, phê phán các thói hư tật xấu, góp phần tạo dựng nếp sống văn
hóa. Các cơ quan phát thanh, truyền hình và báo chí của địa phương là cơ quan
ngôn luận của Đảng và Nhà nước, phản ánh nguyện vọng của nhân dân. Trong
công tác thông tin, cổ động và triển lãm là hình thức giáo dục trực quan nhẹ nhàng
24
mà sâu sắc. Các tổ đội thông tin cổ động cũng là hình thức tổ chức linh hoạt, có thể
đem tiếng nói của Đảng và Nhà nước đến tận những bản làng xa xôi hẻo lánh.
Ngày nay, trong thời đại bùng nổ thông tin, con người dễ dàng tiếp nhận
lâu đã trở thành một nhu cầu cần thiết của xã hội loài người trên thế giới. Vì vậy,
hoạt động thông tin thư viện, xây dựng phòng đọc chiếm một vị trí quan trọng
trong hoạt động khai dân trí của cơ quan văn hóa.
Tổ chức hoạt động trung tâm thông tin thư viện và vận động quần chúng đọc
sách có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Phong trào đọc sách báo phải lấy thư viện,
tủ sách làm cơ sở, ngược lại thư viện phải dựa vào phong trào đọc sách báo của
nhân dân mà duy trì phát triển.
* Hoạt động giáo dục truyền thống và bảo vệ di tích lịch sử văn hóa
Nhằm giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử và cách mạng, ngành văn hóa
phải chủ trương xây dựng các nhà bảo tàng, phòng truyền thống ở những nơi có địa
danh văn hóa, lịch sử và cách mạng nổi tiếng trong phạm vi cả nước. Ngoài ra, ở
tất cả các đơn vị văn hóa có thể xây dựng phòng truyền thống hoặc góc truyền
thống đặt trong cơ quan nhà văn hóa hoặc trụ sở làm việc của các cơ quan. Ngành
văn hóa còn chủ trương bảo tồn những địa điểm danh lam thắng cảnh, di tích lịch
sử, những địa điểm, hiện vật khảo cổ học quan trọng dành cho việc nghiên cứu và
tham quan du lịch.
* Hoạt động xây dựng làng, khu phố, đơn vị văn hóa, gia đình văn hóa, nếp sống
văn hóa
Cơ sở hạ tầng xã hội của văn hóa là gia đình, dòng họ và làng xã. Trong
truyền thống hàng ngàn năm của dân tộc, làng xã có vị trí vô cùng quan trọng: làng
là tế bào, là bộ phận kết nối, hợp thành trong mối quan hệ keo sơn gắn bó giữa cá
nhân - gia đình - họ hàng - làng - nước. Làng là nơi thể hiện rõ nét nhất tinh thần
cộng đồng truyền thống, là nền tảng của lòng yêu nước, của truyền thống đoàn kết
trong lao động sản xuất và chiến đấu, là nơi nuôi dưỡng và phát triển những giá trị
26