ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
=====***=====
NGUYỄN THỊ HOÀN
ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC THỜI
KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
(1997 – 2010)
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2012
0
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
=====***=====
NGUYỄN THỊ HOÀN
ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC THỜI
KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
(1997 – 2010)
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
1.1.2 Tình kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc tác động tới xây dựng nguồn nhân
lực
………………………………………………………………..…….20
1.1.3 Tình hình nguồn nhân lực ở Vĩnh Phúc khi Tỉnh mới tái lập ............. 23
1.2 Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc vận dụng chủ trƣơng của Đảng xây dựng
nguồn nhân lực (1997 – 2005)…………………………………….………..27
1.2.1 Chủ trương của Đảng về xây dựng nguồn nhân lực ........................... 27
1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc xây dựng nguồn nhân lực
(1997 – 2005) ............................................................................................... 41
1.2.3 Quá trình chỉ đạo xây dựng nguồn nhân lực ở Vĩnh Phúc (1997 –
2005) ………………………………………………………………….…..45
TIỂU KẾT....................................................................................................... 57
CHƢƠNG 2: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH
VĨNH PHÚC XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC (2005 –
2010)................................................................................................................ 59
2.1 Yêu cầu mới trong xây dựng NNL của tỉnh…………………….…….59
2.1.1 Bối cảnh............................................................................................... 59
2.1.2 Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc ................... 61
1
2.2 Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc vận dụng chủ trƣơng của Đảng vào xây dựng
và phát triển nguồn nhân lực (2005 – 2010)…………………………..…..63
2.2.1 Chủ trương của Đảng về xây dựng và phát triển nguồn nhân lực ...... 63
2.2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc xây dựng và phát triển nguồn
nhân lực (2005 – 2010) ................................................................................ 66
2.3 Quá trình chỉ đạo xây dựng và phát triển nguồn nhân lực ở Vĩnh
HS-SV: Học sinh – Sinh viên
5.
KHKT: Khoa học – Kỹ thuật
6.
NNL: Nguồn nhân lực
7.
Nxb: Nhà xuất bản
8.
TCCN: Trung cấp chuyên nghiệp
9.
THCS: Trung học cơ sở
10.
THPT: Trung học phổ thông
11.
UBND: Ủy ban nhân dân
4
Trước đòi hỏi của một tỉnh trọng điểm kinh tế, trọng điểm công nghiệp, yêu
cầu xây dựng và phát triển nguồn nhân lực ở địa phương là hết sức bức thiết.
Bởi vì, nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội
nhanh và bền vững, là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới,
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Trước những yêu
cầu đó, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã tập trung xây dựng, phát triển nguồn nhân
lực và đã thu được nhiều kết quả. Song cũng còn một số hạn chế và nảy sinh
những vấn đề mới. Việc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
về xây dựng, phát triển nguồn nhân lực trong những năm đẩy mạnh CNH,
HĐH là cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn. Do đó
tôi chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng và phát triển
nguồn nhân lực thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1997 2010)” làm luận văn thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài.
Vấn đề nguồn nhân lực, nguồn nội lực của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ đổi mới được nhiều nhà khoa học và quản lý trong, ngoài
nước quan tâm, nghiên cứu, tổng kết. Nhiều công trình nghiên cứu đã được
xuất bản, nhiều cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế đã bàn về vấn đề này,
nhưng chỉ dừng lại ở từng mặt của vấn đề như:
iáo trình inh tế nguồn nhân lực (1998 của P S, TS Trần Xuân Cầu
và P S, TS Mai Quốc Chánh, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân. Các tác giả đề
cập chủ yếu tới việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và quản lý nguồn
nhân lực.
Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghệp hóa, hiện đại hóa đất
nước (2002) của tác giả Nguyễn Thanh, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội. Tác
giả đã phân tích rõ con người là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng
trưởng kinh tế. Đặc biệt trong sự nghiệp CNH, HĐH cần phải phát triển mạnh
người Việt Nam hiện nay, chúng ta cần phải đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng tài
năng con người như thế nào cho có hiệu quả. Ngoài ra cần phải biết vận dụng
những kinh nghệm của thế giới để xây dựng nguồn nhân lực đạt hiệu quả cao.
6
Còn có hàng loạt các cuốn sách đề cập đến nhiều nội dung khác nhau của
vấn đề nguồn nhân lực như: Tuyển tập các công trình nghiên cứu và báo cáo
khoa học của nhiều tác giả với tiêu đề Từ chiến lược phát triển giáo dục đến
chính sách phát triển nguồn nhân lực (2002 , Nxb
iáo dục. Cuốn Phát huy
yếu tố con người trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay (2002) của Hồ
Anh Dũng, Nxb Khoa học xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người (2002)
của TS Lê Quang Hoan, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu chỉ số
phát triển con người (HDI) của Việt Nam (2008) do P S.TS Đặng Quốc Bảo
chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội.
Ngoài ra còn có nhiều bài báo đã đăng trên các tạp chí chuyên ngành
như: “Con người nguồn nhân lực, sự nghiệp giáo dục đào tạo với quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (1996) của tác giả Nguyễn Trọng
Bảo đăng trên Tạp chí Đại học và giáo dục chuyên nghiệp (số 3); “Phát triển
nguồn nhân lực của Việt Nam đến năm 2010” (1997 của Nguyễn Thị Hằng
trên Tạp chí cộng sản (số 7); “Đi vào thế kỷ XXI phát triển nguồn nhân lực
phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (5-2003) của GS.VS Phạm
Minh Hạc trên Tạp chí Nghiên cứu (số 2); “Phát triển nguồn nhân lực Việt
Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa” (2006) của Mạc Văn Tiến trên Tạp chí Lao
động xã hội (số 264); “Quy hoạch nguồn lực quốc gia” (26-11-2011) của Phó
Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân trên báo Tiền Phong… Các công trình này đã
dung rất phong phú. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách hệ
thống chủ trương, sự chỉ đạo xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của Đảng
bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, dưới góc độ Lịch sử
Đảng. Từ trước tới nay chưa có công trình nào trùng với luận văn cả về tên
gọi và nội dung khoa học.
8
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích luận văn
Phân tích rõ những chủ trương và sự chỉ đạo sáng tạo của Đảng bộ tỉnh
Vĩnh Phúc về xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH đất nước, từ năm 1997 đến năm 2010; từ đó rút ra một số kinh
nghiệm trong lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
- Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nêu rõ tình hình nguồn nhân lực ở tỉnh Vĩnh Phúc khi mới tái lập tỉnh
+ Phân tích đường lối của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ tỉnh Vĩnh
Phúc trong việc đề ra chủ trương và quá trình chỉ đạo xây dựng và phát triển
nguồn nhân lực ở địa phương.
+ Phân tích thành tựu và hạn chế trong xây dựng và phát triển nguồn
nhân lực ở tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 1997 đến năm 2010.
+ Tổng kết một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
trong xây dựng và phát triển nguồn nhân lực.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về xây dựng và
phát triển nguồn nhân lực.
- Phạm vi
+ Nội dung: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
+ Thời gian từ năm 1997 đến năm 2010
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được chia làm 3 chương, 6 tiết:
Chƣơng 1: Chủ trƣơng và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
về xây dựng nguồn nhân lực (1997 – 2005)
Chƣơng 2: Chủ trƣơng và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
xây dựng, phát triển nguồn nhân lực (2005 – 2010)
Chƣơng 3: Kết quả và kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về
xây dựng và phát triển nguồn nhân lực
10
Chƣơng 1:
CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH
VĨNH PHÚC VỀ XÂY DỰNG NGUỒN NHÂN LỰC (1997 – 2005)
1.1 Yêu cầu khách quan xây dựng nguồn nhân lực ở tỉnh Vĩnh Phúc
1.1.1 Khái niệm và vai trò nguồn nhân lực
1.1.1.1
hái niệm
NNL có nhiều cách giải thích khác nhau:
Theo quan niệm của Liên Hợp Quốc: NNL là tất cả những kiến thức, kỹ
năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự
phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước. Ngân hàng thế giới coi NNL là
toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi
cá nhân.
Còn dưới góc độ kinh tế chính trị học: Thuật ngữ NNL được Bộ Lao
động -Thương binh xã hội xác định: NNL là tiềm năng về lao động trong một
thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác định trên một
cho rằng: Nguồn lao động là những người trong độ tuổi lao động có kỹ năng
lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các
ngành kinh tế quốc dân.
Như vậy, khác nhau cơ bản giữa những khái niệm này là việc tính hay
không những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc ở các ngành kinh tế
quốc dân trong nguồn lao động.
Ở Việt Nam hiện nay đã thống nhất cách tiếp cận coi nguồn nhân lực bao
gồm những người đủ từ 15 tuổi trở lên có việc làm (bao gồm cả những người
trên độ tuổi quy định của Bộ Lao động, nhưng thực tế vẫn đang tham gia quá
trình lao động và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động
nhưng chưa có việc làm do đang trong trạng thái thất nghiệp, đang đi học,
đang đảm đương nội trợ trong gia đình và kể cả không có nhu cầu làm việc
trong thời điểm hiện tại. Như vậy nguồn nhân lực là một bộ phận dân cư có
khả năng về thể chất và tinh thần có thể tham gia vào quá trình lao động theo
luật định.
12
Theo đó, khái niệm lực lượng lao động hẹp hơn khái niệm nguồn lao
động (nguồn nhân lực). Theo ILO (international labour organization) – Tổ
chức lao động quốc tế: lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ
tuổi lao động quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không
có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm.
Từ những nhận xét nêu trên, theo tôi NNL của một quốc gia hay một
vùng, một lĩnh vực, một địa phương là tổng hợp những tiềm năng lao động
của con người có trong một thời điểm xác định. Tiềm năng đó bao hàm cả thể
lực, trí lực và tâm lực (đạo đức, lối sống, nhân cách, truyền thống lịch sử, văn
hóa dân tộc) của bộ phận dân số trong độ tuổi quy định đang có việc làm và
chưa có việc làm nhưng có khả năng làm việc. NNL được hiểu là nguồn tài
Lênin, thực chất tiến trình phát triển lịch sử xã hội loài người là vì con người,
vì sự phát triển của con người. “Con người cuối cùng làm chủ tồn tại xã hội
của chính mình thì cũng do đó làm chủ tự nhiên, làm chủ của cả bản thân, trở
thành người tự do”. [8, tr.333]. Đó chính là quá trình mà nhân loại tự tạo
những điều kiện, khả năng cho chính mình nhằm đem lại sự phát triển cho
mỗi con người trong cộng đồng nhân loại, là sự đúng đắn của triết học Mác về
con người, cũng là hạt nhân cơ bản để chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành khoa
học vì con người.
Nói về vai trò của con người trong sự phát triển xã hội, các nhà sáng lập
ra chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng: Xu hướng chung của tiến trình phát triển
lịch sử được quy định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, bao
gồm con người và những công cụ lao động do con người sáng tạo ra. Dù ở
thời đại nào, hay hình thái kinh tế xã hội nào thì con người cũng luôn giữ vai
trò quyết định, tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển của lực lượng sản
xuất xã hội. Mác đã khẳng định: Con người là yếu tố số một của lực lượng
sản xuất. Đặc biệt ngày nay, vấn đề con người có vị trí cao nhất và bao trùm,
là chiến lược của mọi chiến lược, là yếu tố đặt ra động lực để tiến hành đổi
14
mới xã hội. Phát huy nhân tố con người, phát triển con người, nguồn nhân lực
chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực. Chăm lo đầy
đủ đến con người là yếu tố đảm bảo chắc chắn nhất trong sự phồn vinh, thịnh
vượng của mỗi quốc gia. Đầu tư cho con người là đầu tư có tính chiến lược, là
cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững.
Kế thừa những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người, Chủ
tịch Hồ Chí Minh cũng đã có những nhận định độc đáo về con người. Con
người không phải là cá nhân biệt lập mà là những con người xã hội, là thành
viên của một cộng đồng nhất định. Cộng đồng đó chính là gia đình, họ tộc,
tr.163]. Về thực chất đó là sự phát triển vì con người, vì cuộc sống ấm no,
hạnh phúc cho quần chúng nhân dân. Mọi sự phát triển của xã hội trong các
lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa đều do con người quyết định và đều
vì sự phát triển của con người. CNH, HĐH vì mục tiêu phát triển con người,
Đảng ta cũng đã khẳng định: Chỉ có thể thắng lợi với việc phát huy cao độ
nguồn nhân lực. Để phát triển nguồn nhân lực ấy, làm nó trở thành yếu tố cơ
bản của sự phát triển nhanh và bền vững, trước hết chúng ta phải nhận thức
đúng đắn và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người.
Phát huy nhân tố con người có thể hiểu đó là quá trình phát hiện, sử dụng
những tiềm năng sáng tạo của con người vào quá trình biến đổi và phát triển
xã hội, tạo ra các động lực, môi trường thuận lợi nhằm kích thích tính độc lập,
tự chủ, sáng tạo của mỗi cá nhân để nhận được sự cống hiến tối đa nhất. Đặc
biệt trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, phát huy nhân tố con người phải
biểu hiện ở chất lượng cao của NNL. “Sức mạnh con người Việt Nam phải
thể hiện thành sức mạnh đội ngũ nhân lực, trong đó các bộ phận nhân tài, trên
nền sức mạnh dân trí với cốt lõi nhân cách, nhân phẩm đậm đà bản sắc dân
tộc” [20]. Việc phát huy nhân tố con người là một quá trình gồm hai mặt tích
16
cực hóa nhân tố con người trên cơ sở không ngừng nâng cao chất lượng nhân
tố con người. Tích cực hóa nhân tố con người là quá trình phát hiện, bồi
dưỡng, sử dụng có hiệu quả tính tích cực, tự giác, sáng tạo của con người.
Còn nâng cao nhân tố con người là hướng vào gia tăng giá trị về phẩm chất xã
hội. Đây chính là nguồn lực để phát sinh ra các nguồn lực khác.
Từ những quan niệm trên, NNL có rất nhiều đặc trưng cơ bản và được
phân thành nhiều loại. Như NNL sẵn có, NNL tham gia vào hoạt động kinh tế
và NNL dự trữ. Việc phân loại nguồn nhân lực đã chỉ rõ cho thấy lực lượng
hội” (1991), Đảng ta đã khẳng định: Việc phát triển toàn diện con người Việt
Nam không chỉ là mục tiêu của công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng
XHCN, mà con người là động lực mạnh mẽ nhất đưa sự nghiệp cách mạng
đến thắng lợi. Con người là chủ thể của xã hội, chủ thể của mọi hoạt động làm
biến đổi xã hội. Do vậy, con người đã được coi là động lực của mọi sự phát
triển. Trong “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000”,
Đảng ta xác định: “Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển vì con người,
do con người. Chiến lược kinh tế - xã hội đặt con người vào vị trí trung tâm”
[16, tr.337]. Cần phải có những con người phát triển toàn diện làm nền tảng
cho nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ quá trình phát triển đất nước. Vai
trò quyết định của nhân tố con người, nguồn nhân lực đến tiến trình đẩy mạnh
CNH, HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế được biểu hiện cụ thể, cơ bản trong quá
trình phát kinh tế và sự biến đổi về chất lượng của đời sống tinh thần xã hội.
Để đảm bảo vai trò NNL, chúng ta cần phải phát huy nhân tố con người,
phát triển NNL. Đây là quá trình biến đổi của NNL nhằm phát huy, khơi dậy
những tiềm năng con người, là sự phát triển tiến bộ nhân cách và từng bộ
phận trong cấu trúc nhân cách; phát triển cả năng lực thể chất và năng lực tinh
thần, tạo dựng và ngày càng nâng cao hoàn thiện cả về đạo đức, tay nghề, cả
18
về tâm hồn và hành vi, từ trình độ chất lượng này lên trình độ chất lượng khác
cao hơn, toàn diện hơn. Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, thời kỳ
đẩy mạnh CNH, HĐH, công cuộc này đòi hỏi chúng ta phải có nhận thức một
cách sâu sắc, đầy đủ những giá trị to lớn và ý nghĩa quyết định của nhân tố
con người, chủ thể của mọi sáng tạo, nguồn “tài nguyên vô giá”, vô tận của
đất nước, phải đổi mới cách nhìn, cách nghĩ về vai trò, động lực, mục tiêu của
con người trong CNH, HĐH. Thực hiện chiến lược phát triển con người, xây
dựng phát triển NNL phải coi việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người
dài đường bộ khoảng 1500km, cùng với con đường xuyên Á chạy qua; có
đường sắt Hà Nội – Lào Cai đi tỉnh Vân Nam (Trung Quốc ; đường thuỷ phát
triển mạnh trên các tuyến Sông Hồng, Sông Lô và sông Phó Đáy.
Tỉnh Vĩnh Phúc có 9 đơn vị hành chính bao gồm: Thành phố Vĩnh
Yên, thị xã Phúc Yên và bảy huyện: Lập Thạch, Tam Dương, Tam Đảo, Bình
Xuyên, Vĩnh Tường, Yên Lạc và Sông Lô. Trong đó thành phố Vĩnh Yên là
trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của tỉnh, cách trung tâm thủ đô Hà Nội
50km, cách sân bay Quốc tế Nội Bài 25km. Là tỉnh đồng bằng, là miền
chuyển tiếp, cầu nối giữa các tỉnh miền núi phía Bắc với thủ đô Hà Nội và các
tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Với vị trí như vậy, Vĩnh Phúc có ba loại hình chính:
Địa hình miền núi, địa hình vùng đồi và địa hình vùng đồng bằng. Điều này
khá thuận lợi cho phát triển cây nông nghiệp và cây công nghiệp. Với hệ
thống sông ngòi dày đặc tạo điều kiện cho phát triển nghề nuôi cá nước ngọt
và tạo ra môi trường cảnh quan thiên nhiên. Nằm trong vùng kinh tế trọng
điểm phía Bắc của đất nước, Vĩnh Phúc đã thu hút được nhiều vốn đầu tư của
nước ngoài nên rất nhiều khu công nghiệp mọc lên, như khu công nghiệp
Khai Quang, khu công nghiệp Bình Xuyên, khu công nghiệp Bá Thiện…
20
Bên cạnh những tiềm năng về nông nghiệp và công nghiệp, Vĩnh Phúc
là vùng đất cổ với nhiều di tích lịch sử văn hóa, lại được thiên nhiên ưu đãi
với nhiều cảnh quan kỳ thú, đó là những tiềm năng to lớn về phát triển ngành
du lịch và dịch vụ. Tỉnh có 967 di tích lịch sử - văn hóa được xếp hạng quốc
gia, nhiều di tích có giá trị về lịch sử, mỹ thuật như tháp Bình Sơn, đền thờ
Trần Nguyên Hãn, cụm đình Hương Canh, đình Thổ Tang, di chỉ Đồng
Đậu,… và nhiều lễ hội truyền thống như chọi trâu, cướp phết… Là tỉnh có đội
ngũ lao động dồi dào chiếm 67% trong tổng số dân của tỉnh, chủ yếu là lao
động trẻ có trình độ đáp ứng nhu cầu phát triển CNH, HĐH của tỉnh. Do
thực hiện CNH, HĐH đất nước, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc ngay từ khi được tái
lập đã luôn quan tâm lãnh đạo sâu sát sự nghiệp chăm lo đời sống cho nhân
dân, phát triển kinh tế - xã hội.
Vượt qua những khó khăn, thách thức ban đầu sau ngày tái lập, được sự
quan tâm và lãnh đạo của Trung ương Đảng, sự giúp đỡ của các bộ, ngành
Trung ương, đặc biệt là dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, nền
kinh tế xã hội của Tỉnh sau gần một năm tái lập thực sự có những chuyển
biến rõ rệt và thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Sự ổn định và từng bước
phát triển về kinh tế đã tác động không nhỏ về mặt xã hội. Các lĩnh vực như
văn hóa, giáo dục cũng có những chuyển biến tích cực, đời sống nhân dân
được cải thiện rõ rệt, sự nghiệp giáo dục phát triển cả về chất lượng chuyên
môn cũng như cơ sở vật chất, các chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng
được triển khai có hiệu quả, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình có nhiều
tiến bộ. Đồng thời cũng đòi hỏi một lực lượng lao động không ngừng phát
triển về chất lượng và hợp lý về số lượng để đáp ứng cho nhu cầu phát triển
của Tỉnh.
Với những kết quả đã đạt được trong những năm qua, kết hợp với
những quyết sách đúng đắn trong việc phát triển kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc, đây
cũng là điều thuận lợi cho Vĩnh Phúc có nhiều điều kiện và cơ hội phát triển
22