Đại học quốc gia Hà Nội
Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Đặng Kim Oanh
Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế
từ năm 1997 đến năm 2003
Luận văn thạc sỹ Lịch sử
Hà Nội - 2005
Đại học quốc gia Hà Nội
Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Đặng Kim Oanh
Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế
từ năm 1997 đến năm 2003
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:
5.03.16
Luận văn Thạc sỹ Lịch sử
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Triệu Quang Tiến
Chủ nghĩa xã hội
ĐCS Việt Nam:
Đảng Cộng sản Việt Nam
ĐHKHXH & nhân văn:
Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
ĐHQGHN:
Đại học Quốc gia Hà Nội
GCCN:
Giai cấp công nhân
HTX:
Hợp tác xã
NQTW:
Nghị quyết Trung ương
NXB CTQG:
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Chương 1. Cơ sở hình thành chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
6
1.1. Chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam
1.2. Thực trạng cơ cấu kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc trước khi tái lập
6
23
Chương 2. Chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế (1997-2003)
31
2. 1. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc vận dụng chủ trương của Đảng lãnh đạo
thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương (1997-2000)
31
2.2. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế (2001-2003)
48
Chương 3. Kết quả và một số kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Vĩnh
Phúc trong quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế (1997-
trương, chính sách thể hiện sự đổi mới tư duy kinh tế. Nhờ đó kinh tế nước ta
đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và phát triển toàn diện, CCKT có bước chuyển
dịch tích cực theo hướng CNH, HĐH.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ và nhân dân các tỉnh
trong nhiều năm qua đã phát huy thế mạnh, khắc phục khó khăn, thách thức,
từng bước thực hiện quá trình chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH.
Nhiều tỉnh đã đạt được những thành tựu quan trọng trên lĩnh vực này, góp
phần làm thay đổi bộ mặt địa phương và cuộc sống của nhân dân, góp phần
củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế độ XHCN, nâng cao vị thế và uy tín
của nước ta trên trường quốc tế.
Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc vùng châu thổ sông Hồng, cửa ngõ của Thủ đô
Hà Nội; nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Với điều kiện tự nhiên
thuận lợi, tỉnh Vĩnh Phúc có tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên,
những năm trước đổi mới, tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn. Từ khi Đảng khởi
xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới (1986), đặc biệt từ sau tái lập tỉnh
(1997), Đảng bộ và nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc từng bước khắc phục khó khăn,
phát huy lợi thế, khơi dậy mọi tiềm năng, phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện
chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH, đưa kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc phát
triển mạnh mẽ, góp phần thực hiện mục tiêu mà Đại hội IX đã đề ra là đến
năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện
đại.
1
Trong quá trình phát triển kinh tế từ năm 1997 đến 2003, bên cạnh
những thuận lợi, Vĩnh Phúc còn gặp phải những hạn chế và đối mặt với nhiều
thách thức mới nảy sinh. Thực hiện chuyển dịch CCKT như thế nào, phát
triển kinh tế tỉnh theo mô hình nào, ngành nào được chọn là mũi nhọn là
những vấn đề đặt ra cho Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Phúc tìm câu trả lời.
b. Nhiệm vụ:
- Trình bày một cách hệ thống chủ trương Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc vận
dụng đường lối của Trung ương lãnh đạo thực hiện chuyển dịch CCKT tỉnh từ
năm 1997 đến 2003.
- Trình bày quá trình lãnh đạo thực hiện chuyển dịch CCKT ở tỉnh
Vĩnh Phúc; nêu rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của kết quả đó.
- Tổng kết kinh nghiệm trong lãnh đạo chuyển dịch CCKT của Đảng bộ
tỉnh Vĩnh Phúc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu chủ trương, sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Vĩnh
Phúc trong lãnh đạo, chỉ đạo chuyển dịch CCKT tỉnh từ năm 1997 đến 2003
theo đường lối của Đảng.
- Về chuyển dịch CCKT có một số nội dung chính: chuyển dịch CCKT
thành phần kinh tế; chuyển dịch CCKT ngành; chuyển dịch CCKT vùng.
Luận văn, chủ yếu nghiên cứu chuyển dịch CCKT ngành.
b. Phạm vi nghiên cứu: tỉnh Vĩnh Phúc. Thời gian nghiên cứu: từ
tháng 1/1997 (tỉnh Vĩnh Phúc tái lập) đến tháng 12/2003, khi Đảng bộ tỉnh
Vĩnh Phúc tổng kết giữa nhiệm kỳ.
5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu
a. Cơ sở lý luận
Luận văn được tiến hành trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối ĐCS Việt Nam về phát triển kinh
tế, CCKT.
b. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu chủ yếu là: phương pháp lịch sử và lôgíc, ngoài ra còn kết hợp các
phương pháp khác như phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh,
khảo sát thực tiễn...
4
5
Chương 3: Kết quả và một số kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế (1997 - 2003).
6
Chương 1
cơ sở hình thành chủ trương chuyển dịch
Cơ cấu kinh tế của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
1.1. Chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam
Chuyển dịch CCKT là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế theo hướng CNH, HĐH. Xác định CCKT hợp lý góp phần xây
dựng cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư, cơ cấu lao động phù hợp, tạo cơ sở để
tiến hành phân công lao động, xã hội hoá lực lượng sản xuất, phát triển kinh
tế hàng hoá, tạo động lực thúc đẩy thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội.
Chuyển dịch CCKT còn đóng vai trò quan trọng để đưa sản xuất nhỏ lên sản
xuất lớn XHCN. Trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế, đặc biệt từ khi
thực hiện sự nghiệp đổi mới, ĐCS Việt Nam ngày càng nhận thức sâu sắc về
CCKT và đã có sự điều chỉnh hợp lý về CCKT, từng bước chuyển dịch
CCKT theo hướng CNH, HĐH.
Khi phân tích quá trình phân công lao động xã hội, C. Mác viết rằng:
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp
với quá trình phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất [20, tr.70].
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, xuất bản năm 2003: "Cơ cấu kinh tế
tiềm năng nhân lực phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nước ta hiện có 6
thành phần cơ bản: kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể (chủ yếu là kinh tế hợp
tác); kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế tư bản tư nhân;
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. (Theo Dự thảo Báo cáo các văn kiện trình
Đại hội X của Đảng nước ta sẽ có 4 thành kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế
tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế hỗn hợp).
Sáu thành phần kinh tế trên đều được bình đẳng trước pháp luật, phát
triển trong nền kinh tế quốc dân. Sự tồn tại lâu dài của nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần là tất yếu khách quan.
Để có CCKT hợp lý cần sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành một cách năng
động, sáng tạo của Trung ương và cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương
9
nhằm phát huy tiềm năng và thế mạnh của từng vùng, miền để phát triển kinh
tế - xã hội.
Có nhiều tiêu chí để đánh giá thế nào là một CCKT hợp lý, trong đó có
một số tiêu chí cơ bản sau: Thứ nhất, CCKT phải phù hợp với các quy luật
khách quan. Thứ hai, CCKT phản ánh được khả năng khai thác, sử dụng hợp
lý và phát huy được nguồn lực và tiềm năng của đất nước, từng vùng, từng địa
phương, vận dụng được tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Thứ
ba, CCKT phải tạo được sự phát triển cân đối, phát huy được lợi thế của các
vùng, các ngành kinh tế. Thứ tư, CCKT tạo được sự gắn kết giữa các loại thị
trường trong nước và ngoài nước, mở rộng các quan hệ hợp tác kinh tế quốc
tế và phù hợp với xu thế kinh tế chính trị của khu vực và thế giới. Thứ năm,
CCKT phải tạo được tích luỹ ngày càng tăng cho nền kinh tế quốc dân, cùng
với xã hội phát triển lành mạnh, giữ vững quốc phòng an ninh.
Lực lượng sản xuất nói chung luôn biến động, phát triển trong quá
trình tái sản xuất, vì thế CCKT cũng thường xuyên biến đổi, chuyển dịch.
về con người, khoa học và công nghệ.
Một trong những nội dung cơ bản của CNH, HĐH là xác lập cơ cấu
kinh tế mới, hợp lý tiến lên hiện đại. CCKT mới là CCKT công nghiệp - dịch
vụ - nông nghiệp.
Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH là nhiệm vụ chiến lược,
phù hợp thực tiễn khách quan nhằm khai thác tối ưu lợi thế các ngành, các
lĩnh vực, các vùng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Quá trình chuyển dịch
CCKT trong thời kỳ quá độ là quá trình chuyển nền kinh tế có cơ cấu nông
nghiệp - công nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu công nghiệp - dịch vụ - nông
nghiệp. Đặc trưng cơ bản của quá trình chuyển dịch là giá trị sản xuất của ba
ngành trên đều tăng qua các giai đoạn, nhưng tỷ trọng của ngành nông nghiệp
giảm dần, tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ tăng, tỷ lệ lao động trong nông
nghiệp ngày càng giảm, tỷ lệ lao động trong công nghiệp và dịch vụ ngày
càng tăng.
11
Quá trình chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH ở nước ta là một
quá trình phức tạp kéo dài trong suốt thời kỳ quá độ, đòi hỏi Đảng và Nhà
nước, các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong cả nước phải quan tâm
lãnh đạo, phải tìm tòi để xây dựng được một CCKT hợp lý theo hướng CNH,
HĐH.
Để thúc đẩy chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH, cần dựa vào
một số quan điểm cơ bản sau:
- Chuyển dịch CCKT phải nhằm thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển,
phù hợp với mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN.
- Chuyển dịch CCKT phải khai thác được tối ưu khả năng và thế mạnh
của từng vùng kinh tế trong cả nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của các
thành phần kinh tế. Tập trung đầu tư đúng mức cho một số vùng kinh tế trọng
mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, kéo theo sự gia tăng nhân khẩu phi
nông nghiệp và gia tăng tốc độ đô thị hoá.
Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH là một trong những nội
dung kinh tế cốt lõi trong toàn bộ sự nghiệp lãnh đạo cách mạng của Đảng,
của nhân dân ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH là nội dung, là điều kiện
cho sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân.
Trong lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh
đều chỉ rõ mối quan hệ gắn bó hữu cơ, tác động biện chứng thúc đẩy lẫn nhau
cùng phát triển giữa hai ngành kinh tế cơ bản: công nghiệp và nông nghiệp.
Trong xây dựng đất nước theo con đường XHCN, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn
chú trọng phát triển kinh tế công nghiệp và nông nghiệp. Tháng 4/1962, trong
Bài nói chuyện tại Hội nghị lần thứ bảy BCHTW Đảng Lao động Việt Nam
(Khóa III), Người chỉ rõ: "Công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền
kinh tế. Cho nên công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng
nhau phát triển, như hai chân đi khoẻ và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh và
nhanh chóng đi đến mục đích" [21, tr.544-545]. Là một nước nông nghiệp
truyền thống do đó phát triển nông nghiệp luôn được chú trọng hàng đầu
13
trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên CNXH, Người khẳng định:
"Phải lấy nông nghiệp làm chính, nhưng phải toàn diện, phải chú ý cả các mặt
công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao thông, kiến trúc, văn
hoá, giáo dục, y tế v.v.. Các ngành này phải lấy phục vụ nông nghiệp làm
trung tâm" [22, tr.396]. Nông thôn phải tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm
thì mới giàu có. Nông thôn giàu có sẽ mua nhiều hàng hoá do công nghiệp sản
xuất ra. Đồng thời nông nghiệp cung cấp đủ nguyên liệu, lương thực cho công
nghiệp và thành thị. Như thế là nông thôn giàu có giúp cho công nghiệp phát
Với tinh thần đổi mới toàn diện, bắt đầu từ đổi mới tư duy kinh tế, tại
Đại hội VI (12/1986), để đưa nền kinh tế phát triển, Đảng ta đã chỉ rõ: "Muốn
đưa nền kinh tế sớm thoát khỏi tình trạng rối ren, mất cân đối, phải dứt khoát
sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý, trong đó các ngành, các
vùng, các thành phần kinh tế, các loại sản xuất có quy mô và trình độ kỹ thuật
khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết với nhau, phù hợp với điều kiện
thực tế, đảm bảo nền kinh tế phát triển ổn định" [8, tr.47].
Trong bố trí lại CCKT, Đại hội chủ trương phải đưa nông nghiệp lên
mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp tiến một bước theo hướng sản xuất lớn;
ra sức phát triển công nghiệp nhẹ. Đây là sự cụ thể hóa nội dung chính của
công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên
CNXH, là bước đột phá trong tư duy và nhận thức đổi mới về chuyển dịch
CCKT trong thời kỳ mới của Đảng. Đại hội đề ra ba chương trình kinh tế lớn:
lương thực - thực phẩm; hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
Tiếp đó tại Hội nghị Trung ương 3 Khoá VI (8/1987), Đảng ta đã ra Nghị
quyết "Về chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế quốc doanh sang hạch toán
kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đổi mới quản lý Nhà nước về kinh tế". Trên cơ sở
tổng kết thực tiễn, ngày 05/4/1988, Bộ chính trị đã ra Nghị quyết 10 "Về đổi
mới quản lý kinh tế nông nghiệp". Nghị quyết 10 là mốc quan trọng đánh dấu
bước chuyển biến về chất, góp phần quan trọng xoá bỏ cơ chế quản lý tập
trung quan liêu bao cấp, tạo tiền đề cần thiết cho sự hình thành nền nông
nghiệp hàng hoá. Nghị quyết 10 chủ trương sắp xếp và tổ chức lại sản xuất
15
nông nghiệp theo hướng chuyên môn hoá kết hợp với kinh doanh tổng hợp,
gắn trồng trọt với chăn nuôi, nông nghiệp và lâm nghiệp, ngư nghiệp; gắn
nông - lâm - ngư nghiệp với công nghiệp chế biến và các ngành nghề tiểu thủ
công nghiệp ở nông thôn... Đây là những bước đột phá mở đầu cho chuyển dịch
vụ, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng. Xây dựng nền công nghiệp nặng với
bước đi thích hợp, trước hết là các ngành trực tiếp phục vụ nông nghiệp. Thực
hiện chuyên môn hoá và liên kết kinh tế giữa các vùng, các địa phương. Xây
dựng các trung tâm kinh tế của từng vùng để tạo điều kiện liên kết công
nghiệp với nông nghiệp, thành thị với nông thôn phát triển giao lưu hàng hoá.
Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được trong nông nghiệp, nông thôn,
để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và kinh tế - xã hội nông thôn, Hội nghị
Trung ương 5 Khoá VII (6/1993) ra Nghị quyết về "Tiếp tục đổi mới và phát
triển kinh tế - xã hội nông thôn". Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng nông
nghiệp - nông thôn nước ta với những thành tựu, hạn chế, trong đó có những
điều bất hợp lý về cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn, Nghị quyết đã
xác định một hệ thống quan điểm nhằm tiếp tục đổi mới nông nghiệp, nông
thôn trong giai đoạn mới, đồng thời đề ra phương hướng, giải pháp cụ thể
nhằm thực hiện mục tiêu đó. Về CCKT nông nghiệp, Nghị quyết xác định rõ:
phải đổi mới CCKT nông nghiệp - nông thôn, phá vỡ thế độc canh cây lúa,
phá vỡ cơ cấu thuần nông và xây dựng một nền kinh tế nông nghiệp phát triển
cân đối, hài hoà. Nghị quyết nhấn mạnh: "Trên cơ sở xúc tiến công nghiệp
hoá nói chung, công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn nói riêng mà thực
hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển mạnh, vững
chắc, có hiệu quả công nghiệp - dịch vụ ở nông thôn, tăng nhanh tỷ trọng
những ngành này trong cơ cấu nông - công nghiệp - dịch vụ" [12, tr.63].
Tháng 7/1994, Hội nghị Trung ương 7, Khoá VII Đảng ra Nghị quyết
"Phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn
mới". Nghị quyết cụ thể hoá một bước Nghị quyết Đại hội VII và Nghị quyết
17
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng, đánh giá đúng
giải quyết tốt các mối quan hệ cơ bản giữa trồng trọt với chăn nuôi, giữa nông
nghiệp với lâm nghiệp, giữa nông - lâm nghiệp với công nghiệp và dịch vụ...
20